TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TRẦN VĂN THỜI TỈNH CÀ MAU | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: 170/2024/DS-ST
Ngày 21-6-2024
V/v "Tranh chấp phân chia tài sản chung
của vợ chồng, chia di sản thừa kế
và tặng cho quyền sử dụng đất”.
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TRẦN VĂN THỜI, TỈNH CÀ MAU
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Lê Chí Công
Các Hội thẩm nhân dân:
- Ông Nguyễn Việt Thắng
- Ông Hồ Quang Minh
- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Cẩm Hường - Thư ký Tòa án, Toà án nhân dân huyện Trần Văn Thời, tỉnh Cà Mau.
- Đại diện viện kiểm sát nhân dân huyện Trần Văn Thời tham gia phiên tòa: Bà Phạm Huỳnh Trang- Kiểm sát viên.
Trong các ngày 21 tháng 5 và 21 tháng 6 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Trần Văn Thời, tỉnh Cà Mau xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 438/2023/TLST-DS ngày 02 tháng 6 năm 2023 về việc “Tranh chấp phân chia tài sản chung của vợ chồng, chia di sản thừa kế và tặng cho quyền sử dụng đất”, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 117/2024/QĐXXST-DS ngày 29 tháng 3 năm 2024 giữa các đương sự:
- - Nguyên đơn: Ông Nguyễn Văn X, sinh năm: 1950 (có mặt)
- Địa chỉ cư trú: Ấp T, xã L, huyện T, tỉnh Cà Mau.
- - Bị đơn:
- Ông Nguyễn Duy T, sinh năm: 1976 (vắng mặt).
- Ông Nguyễn Chi L, sinh năm 1975 (vắng mặt)
- Cùng địa chỉ cư trú: Ấp T, xã L, huyện T, tỉnh Cà Mau.
- - Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan :
- Bà Nguyễn Kim C, sinh năm 1978 (có mặt)
- Địa chỉ cư trú: Ấp C, xã L, huyện T, tỉnh Cà Mau.
- Ông Nguyễn Hậu G, sinh năm 1985 (xin vắng mặt)
- Bà Trần Kiều D, sinh năm 1988 (có mặt)
- Bà Nguyễn Thị H, sinh năm 1966 (có mặt)
- Bà Chung Phương N (vắng mặt)
- Cùng địa chỉ cư trú: Ấp T, xã L, huyện T, tỉnh Cà Mau.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
* Tại đơn khởi kiện ngày 16/5/2023, biên bản hòa giải ngày 16/6/2023 cùng các tài liệu, chứng cứ có tại hồ sơ vụ án và tại phiên tòa, nguyên đơn ông Nguyễn Văn X trình bày:
- Về quan hệ huyết thống: Ông Nguyễn Văn X và vợ là bà Trần Thị Bé H1 (đã chết năm 2019) chung sống với nhau từ năm 1975, có 03 người con chung tên Nguyễn Chi L, Nguyễn Duy T và Nguyễn Kim C.
- Về nguồn gốc đất: Quá trình chung sống giữa ông với bà H1 có tạo lập được khối tài sản chung gồm có 03 phần đất, diện tích khoảng 40.830m², cụ thể: Khi ông T và ông L lập gia đình ra ở riêng thì vợ chồng ông có cho mỗi người một phần đất. Cho ông T diện tích khoảng 11.000m², cho ông L 12.000m2, đã được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất. Phần diện tích đất còn lại thì ông và bà H1 quản lý, sử dụng và được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất ngày 20/12/1995, diện tích 17.830m², thuộc các thửa số 157, 231, 232, 233 và 236, tờ bản đồ số 10, đất tọa lạc tại ấp T, xã L, huyện T, tỉnh Cà Mau.
Năm 2019, bà H1 chết không có để lại di chúc. Ngày 14/5/2023 họp gia đình để phân chia phần diện tích đất trên như sau: Chia cho ông L diện tích 2.000m² thuộc thửa số 157; chia cho ông T diện tích 2.228,75m², một phần thửa số 231 và chia cho bà C 2.228,75m², một phần thửa số 231. Ông tặng cho riêng bà C diện tích 3.000m² thuộc các thửa số 232, 233 và một phần nền nhà 364m² (ngang 7m, dài 52m nằm trong thửa số 236). Phần còn lại của ông diện tích 8.008,5m² thuộc thửa số 236 nhưng khi làm thủ tục thì anh L và anh T không đồng ý.
Nay ông yêu cầu Tòa án giải quyết phân chia thừa kê tài sản là diện tích đất 17.830m² trên theo pháp luật. Do bà H1 chết nên khối tài sản chung chia ½ diện tích 8.915m²; phần di sản của bà H1 chia điều cho 04 kỹ phần là hàng thừa kế thứ nhất của bà H1 gồm: Ông X, ông L, ông T và bà C mỗi người một kỹ phần =2.228,75m², ông được nhận 11.143,75m². Chia cho ông T 2.228,75m² thuộc một phần thửa số 231, chia cho ông L diện tích 2.000m² thuộc thửa số 157, chia cho bà C 2.228,75m² thuộc một phần thửa số 231. Ông cho riêng bà C 3.000m² tại thửa 232, 233 và 01 phần đất vườn 364m².
* Bị đơn ông Nguyễn Chi L trình bày: Ông thống nhất lời trình bày của ông X về quan hệ gia đình và nguồn gốc đất. Ông thống nhất việc nhận phần đất diện tích 2000m2 tại thửa số 157. Ngoài ra, hiện nay gia đình của ông không có phần đất vị trí mặt tiền để xây dựng nhà ở nên ông yêu cầu nhận thêm phần diện tích vị trí mặt tiền cặp ranh với diện tích giống như bà C được nhận là 364m². Do tại vị trí thửa số 157 từ trước đến nay không có lối thoát nước do nằm trong các bất động sản bao quanh, phần đất này ông đã quản lý từ trước đến nay hơn 09 năm phải thuê đường nước của người khác, trả tiền thuê mỗi năm 6.000.000 đồng. Từ đó ông yêu cầu được nhận thêm phần đất có mặt tiền tại thửa số 236m². Nội dung ông trình bày tại biên bản hòa giải ngày 16/6/2023 nhưng không ký tên.
* Bị đơn ông Nguyễn Duy T: Không có văn bản trình bày ý kiến.
* Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
Tại biên bản hòa giải ngày 16/6/2023 và tại phiên tòa bà Nguyễn Kim C trình bày: Bà thống nhất lời trình bày của ông X về quan hệ gia đình và nguồn gốc đất. Bà đồng ý nhận kỹ phần được chia và đồng ý nhận phần đất mà ông X tặng cho riêng, tổng diện tích được nhận là 5.592,75m². Trong đó có phần đất vườn 364m² tại thửa số 236 (ngang 7, dài 52m).
- Tại đơn yêu cầu độc lập ngày 06/3/2024 và tại phiên tòa ông Nguyễn Hậu G và bà Trần Kiều D thống nhất trình bày:
Ngày 20/3/2020, vợ chồng của ông với vợ chồng ông Nguyễn Chi L, bà Chung Phương N có lập hợp đồng bằng văn bản thỏa thuận hai bên thống nhất đổi quyền sử dụng đất; Phần đất của vợ chồng ông Nguyễn Hậu G có diện tích 2.969m²; Phần đất của vợ chồng ông Nguyễn Chi L, bà Chung Phương N có diện tích 2.000m², thửa số 157, tờ bản đồ số 10, tọa lạc tại ấp T, xã L, huyện T, tỉnh Cà Mau nằm trong giấy chứng nhận quyền sử dụng đất của ông Nguyễn Văn X đứng tên, theo đo đạc thực tế 2.748,7m², thuộc thửa số 143, tờ bản đồ số 11 (năm 2023) (trừ diện tích khu mộ 12m²). Nay vợ chồng ông yêu cầu công nhận hợp đồng đổi đất giữa vợ chồng ông với vợ chồng ông L lập ngày 20/3/2020.
Tại phiên tòa nguyên đơn thay đổi một phần yêu cầu khởi kiện, ông tự nguyện tặng cho ông Nguyễn Chi L phần đất mặt tiền thuộc một phần thửa 198, diện tích 363,6m² (từ M1,M2 đến M21, M22), tờ bản đồ số 11. Phần diện tích của ông còn lại theo đo đạc thực 8.269,6m².
Tại phiên tòa bà C đồng ý nhận phần diện tích được chia thừa kế theo đo đạc thực tế 2.476,3m² và phần đất ông X tặng cho riêng 2.242,8m2 + 757,2m² + 363,2m² = 3.363,2m², tổng diện tích thừa kế và tặng cho là 5.839,5m².
Tại phiên tòa bà D vẫn giữ nguyên yêu cầu độc lập.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Trần Văn Thời phát biểu quan điểm về tuân theo pháp luật tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, việc chấp hành pháp luật của người tham gia tố tụng, kể từ khi thụ lý vụ án cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án đều đúng theo trình tự quy định của pháp luật. Riêng, đối với những đương sự vắng mặt không có lý do là chưa chấp hành đúng nghĩa vụ theo quy định của BLTTDS. Phát biểu về nội dung đề nghị HĐXX chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn về việc phân chia tài sản chung, chia thừa kế di sản và việc tự nguyện tặng cho quyền sử dụng đất. Chia cho bà C được nhận thừa kế và nhận tặng cho tổng diện tích 5.839,5m², ông L được nhận tặng cho diện tích 363,6m² .Chấp nhận yêu cầu độc lập của người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan về việc công nhân hợp đồng đổi đất giữa vợ chồng ông Nguyễn Hậu G, bà Trần Kiều D vợ chồng ông Nguyễn Chi L, bà Chung Phương N, phần đất có diện tích theo đo đạc thực tế 2.748,7m² trong đó có trừ diện tích mộ 12m² tại thửa số 157 nằm trong giấy chứng nhận quyền sử dụng đất của ông X.
Đối với kỷ phần ông X chia thừa kế cho ông Nguyễn Duy T, diện tích theo đo đạc thực tế 2.476,3m² thuộc một phần thửa số 197, bản đồ năm 2023. Quá trình giải quyết vụ án ông T có nhận được thông báo của Tòa án nhưng không có ý kiến nên tạm giao cho ông X quản lý, sử dụng nếu có tranh chấp có quyền yêu cầu giải quyết ở vụ kiện dân sự khác.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Về thủ tục tố tụng:
- Về thẩm quyền: Do bị đơn ông Nguyễn Chi L, ông Nguyễn Duy T có nơi cư trú tại ấp T, xã L, huyện T, tỉnh Cà Mau; nội dung tranh chấp: Phân chia tài sản chung, chia thừa kế và tặng cho quyền sử dụng đất nên vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Trần Văn Thời, tỉnh Cà Mau theo khoản 3 và 5 Điều 26; điểm a khoản 1 Điều 35 và điểm a, c khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015.
Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan ông Nguyễn Hậu G xin vắng mặt; bị đơn, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan bà C1 Phương Nam vắng mặt, căn cứ điểm a, b khoản 2 Điều 227; khoản 2 Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015, tiến hành xét xử vắng mặt các đương sự nêu trên.
[2] Về nội dung tranh chấp: Theo nguyên đơn yêu cầu Tòa án giải quyết chia thừa kế quyền sử dụng đất theo giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số C124216, cấp ngày 20/12/1995, đứng tên ông Nguyễn Văn X, diện tích 17.830m² thuộc các thửa số 157, 231, 232, 233 và 236, tờ bản đồ số 10 (theo đo đạc thực tế diện tích 19.698m² thuộc các thửa số 143, 197 và 198, tờ bản đồ số 11 năm 2023), đất tọa lạc tại ấp T, xã L, huyện T, tỉnh Cà Mau. Phần đất là tài sản chung của vợ chồng ông X, bà H1, nên mỗi người được hưởng ½ khối tài sản chung 19.698m² : 2 = 9.489m², như vậy phần di sản của bà H1 là 9.489m², bà H1 chết không để lại di chúc, chia thừa kế làm 4 kỷ phần gồm ông X, ông T, ông L và bà C, mỗi kỷ phần có diện tích 2.462,25m². Ngoài ra, ông tự nguyện tặng cho riêng bà C, ông L một phần diện tích trong ½ khối tài sản chung mà ông được nhận.
[3] Xét yêu cầu khởi kiện:
[3.1] Xét yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn: Tại phiên tòa, ông X yêu cầu Tòa án giải quyết chia thừa kế diện tích đất theo đo đạc thực tế 19.697,7m². Trong đó, ông X thống nhất chia đôi phần đất, theo đó bà H1 được hưởng ½ tài sản, ông được hưởng ½ tài sản, nên mỗi người sẽ được hưởng là 19.697,7m² : 2 = 9.848,85m²; tại phiên tòa ông X thống nhất chia thừa kế phần di sản của bà H1 để lại cho bà C 2.476,3m², ông T 2.476,3m², ông L 2.748,7m², như vậy phần ông được hưởng còn lại là 9.848,85m² - (2.476,3m² + 2.476,3m² + 2.748,7m²) = 2.147,55 m².
Đối với phần diện tích đất ông L được chia thừa kế với diện tích đo đạc thực tế là 2.748,7m², thuộc thửa 143 (phần đất này trước đây diện tích 2.000m² thuộc thửa số 157). Phần đất này vợ chồng ông L với vợ chồng ông G thực hiện hoán đổi theo hợp đồng đổi đất lập ngày 20/3/2020; Tại hợp đồng đổi đất lập ngày 20/3/2020 thể hiện vợ chồng của ông G với vợ chồng ông Nguyễn Chi L, bà Chung Phương N có lập hợp đồng bằng văn bản thỏa thuận hai bên thống nhất đổi quyền sử dụng đất; Phần đất của vợ chồng ông Nguyễn Hậu G có diện tích 2.969m²; Phần đất của vợ chồng ông Nguyễn Chi L, bà Chung Phương N có diện tích 2.000m², thửa số 157, tờ bản đồ số 10, tọa lạc tại ấp T, xã L, huyện T, tỉnh Cà Mau nằm trong giấy chứng nhận quyền sử dụng đất của ông Nguyễn Văn X đứng tên, theo đo đạc thực tế 2.748,7m², thuộc thửa số 143, tờ bản đồ số 11 (năm 2023) (trừ diện tích khu mộ 12m²). Phần đất này cũng là phần đất ông X xác định đã chia thừa kế cho ông L trước khi phát sinh tranh chấp và ông L cũng đã đổi đất với ông G, bà D xong, do đó ông X thống nhất tiếp tục giao phần đất này cho ông G, bà D. Mặt khác, hợp đồng lập thành văn bản, quá trình giải quyết vụ án, ông L không có văn bản phản đối yêu cầu của ông G và bà D xem như mặc nhiên chấp nhận; hơn nữa phần đất này do ông G và bà D đang quản lý, sử dụng; tại phiên tòa ông X vẫn thống nhất việc đổi đất của các bên là tự nguyện, không vi phạm điều cấm của luật không trái đạo đức xã hội và trên thực tế các bên đã quản lý đất từ khi thực hiện giao dịch đến nay. Do đó, ông G, bà D được tiếp tục quản lý sử dụng phần đất diện tích 2.748,7m², thuộc thửa số 143, tờ bản đồ số 11 (năm 2023). Đối với phần diện tích đất 2.969m² của ông G, bà D đổi cho ông L, bà N quản lý, sử dụng thì ông L, bà N không có yêu cầu công nhận trong vụ án nên Hội đồng xét xử không xem xét.
Đối với bà C, mặc dù bà không có đơn yêu cầu chia di sản thừa kế nhưng quá trình giải quyết vụ án bà C có yêu cầu được nhận phần di sản thừa kế của bà H1 để lại nên Hội đồng xét xử chia cho bà C được hưởng phần đất diện tích 2.476,3m² thuộc thửa 197 (bản đồ 2023) đất tọa lạc tại ấp T, xã L, huyện T, tỉnh Cà Mau.
Đối với ông T không có văn bản trình bày ý kiến có yêu cầu chia di sản thừa kế hay không, nên Hội đồng xét xử tạm giao phần đất diện tích 2.476,3m² thuộc thửa 197 (bản đồ 2023) đất tọa lạc tại ấp T, xã L, huyện T, tỉnh Cà Mau cho ông X tiếp tục quản lý sử dụng đến khi ông T có yêu cầu chia thừa kế thì ông X có nghĩa vụ giao cho ông T theo quy định.
[3.2] Xét yêu cầu của nguyên đơn về việc tự nguyện tặng cho quyền sử dụng đất. Quá trình giải quyết vụ án ông X tự nguyện tặng cho chị C một phần diện tích 3.000m² thuộc các thửa 232 và 233 nằm liền kề với thửa 236 theo đo đạc thực tế tại mục 4, loại đất trồng cây lâu năm, diện tích 757,2m² và mục 5 loại đất nuôi trồng thủy sản, diện tích 2.242,8m2 năm một phần thuộc thửa số 197, 198, tờ bản đồ số 11 và phần đất mặt tiền 363,2m² (M3, M4-M23, M24) loại đất CLN.
Tại phiên tòa ông X tự nguyện tặng cho ông Nguyễn Chi L, phần đất mặt tiền thuộc một phần thửa 198, diện tích 363,6m² (M1,M2 - M21, M22), tờ bản đồ số 11, loại đất CLN. Đây cũng là yêu cầu của ông L trong quá trình giải quyết vụ án. Xét thấy việc ông X tự nguyện là phù hợp nên được chấp nhận.
[3.3] Sau khi đối trừ phần diện tích chia thừa kế cho ông L, ông T, bà C và phần đất ông X tự nguyện tặng cho bà C, ông L, thì phần đất còn lại ông X được hưởng có diện tích là 8.269,6m² (M2,M3, M4,M7-M9,M20,M21) kí hiệu 3 trên bản vẽ. Trong đó có, phần khu mộ (mồ mã), từ trước đến nay nguyên đơn là người chăm sóc phần mộ, quản lý thờ cúng bà H1. Hội đồng xét xử thấy rằng việc chăm sóc, gìn giữ quản lý phần mộ của nguyên đơn đặt ra phù hợp nên giao lại phần mộ cho nguyên đơn quản lý thờ cúng là phù hợp.
[3.4] Xét yêu cầu độc lập của của người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan ông Nguyễn Hậu G, bà Trần Kiều D thấy rằng: Ngày 20/3/2020, vợ chồng của ông G với vợ chồng ông Nguyễn Chi L, bà Chung Phương N có lập hợp đồng bằng văn bản thỏa thuận hai bên thống nhất đổi quyền sử dụng đất; Phần đất của vợ chồng ông Nguyễn Hậu G có diện tích 2.969m²; Phần đất của vợ chồng ông Nguyễn Chi L, bà Chung Phương N có diện tích 2.000m², thửa số 157, tờ bản đồ số 10, tọa lạc tại ấp T, xã L, huyện T, tỉnh Cà Mau nằm trong giấy chứng nhận quyền sử dụng đất của ông Nguyễn Văn X đứng tên, theo đo đạc thực tế 2.748,7m², thuộc thửa số 143, tờ bản đồ số 11 (năm 2023) (trừ diện tích khu mộ 12m²). Phần đất này cũng là phần đất ông X xác định đã chia thừa kế cho ông L trước khi phát sinh tranh chấp và ông L cũng đã đổi đất với ông G, bà D xong, do đó ông X thống nhất tiếp tục giao phần đất này cho ông G, bà D. Mặt khác, hợp đồng lập thành văn bản, quá trình giải quyết vụ án, ông L không có văn bản phản đối yêu cầu của ông G và bà D xem như mặc nhiên chấp nhận; hơn nữa phần đất này do ông G và bà D đang quản lý, sử dụng; tại phiên tòa ông X vẫn thống nhất việc đổi đất của các bên là tự nguyện, không vi phạm điều cấm của luật không trái đạo đức xã hội và trên thực tế các bên đã quản lý đất từ khi thực hiện giao dịch đến nay. Do đó, chấp nhận yêu cầu độc lập của ông Nguyễn Hậu G, bà Trần Kiều D. Ông G, bà D được tiếp tục quản lý sử dụng phần đất diện tích 2.748,7m², thuộc thửa số 143, tờ bản đồ số 11 (năm 2023). Đối với phần diện tích đất 2.969m² của ông G, bà D đổi cho ông L, bà N quản lý, sử dụng thì ông L, bà N không có yêu cầu công nhận trong vụ án nên Hội đồng xét xử không xem xét.
[4] Đối với cây trồng trên đất. Tại phiên tòa các đương sự thống nhất không đặt ra xem xét nếu kỷ phần của ai được nhận thì được hưởng nên Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét.
[5] Về chí phí thẩm định, định giá tài sản: Tại khoản 1 Điều 157 và khoản 1 Điều 165 của Bộ luật tố tụng dân sự quy định: Đương sự phải chịu chi phí thẩm định tại chổ, định giá tài sản nếu yêu cầu của họ không được Tòa án chấp nhận. Do yêu cầu của ông X và ông G, bà K được chấp nhận. Trong quá trình giải quyết vụ án ông X có nộp số tiền thẩm định 500.000 đồng, chi phí ký hợp đồng đo đạc theo biên bản thanh lý hợp đồng 21.737.000 đồng, chi phí định giá theo biên bản thanh lý hợp đồng, số tiền 10.130.400 đồng. Tổng số tiền 32.367.000 đồng. Việc chia thừa kế các bên điều được nhận kỷ phần nên phần của ông X được nhận 50% giá trị 16.183.500 đồng. Phần còn lại, tại phiên tòa nguyên đơn tự nguyện chịu và đã thực hiện xong.
[6] Về án phí dân sự sơ thẩm có giá ngạch: Ông Nguyễn Văn X phải chịu án phí đối với yêu cầu phân chia tài sản chung và án phí đối với kỷ phần được nhận thừa kế của bà H1, tuy nhiên ông X là người cao tuổi được miễn án phí theo quy định. Sau khi phân chia tài sản chung thì phần đất của ông tự nguyện tặng cho một phần diện tích cho chị C và anh L, xét đây là sự tự nguyện, không trái với quy định nên Hội đồng xét xử ghi nhận sự tự nguyện, các đương sự không phải chịu án phí.
Chị Nguyễn Kim C phải chịu án phí sơ thẩm có giá ngạch trên kỷ phần thừa kế được nhận. Ông L được nhận thừa kế trước đó và đã thực hiện việc đổi đất với ông G, bà D xong, quá trình giải quyết ông L cũng không có yêu cầu công nhận đất mà ông G, bà D1 đổi cho ông nên chỉ buộc ông L, bà N chịu án phí không có giá ngạch đối với yêu cầu của ông G, bà D được chấp nhận. Ông Nguyễn Hậu G, bà Trần Kiều D được nhận lại án phí. Theo chưng thư thẩm định giá, giá đất trồng cây lâu năm 1m² = 40.000 đồng; đất trồng lúa 1m²=30.000 đồng.
[7] Quan điểm của đại diện Viện kiểm sát phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử nên được chấp nhận.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ các Điều 26, 35, 39, 147, 155, 157, 158, 165, 166, 186, 227 và 228, Điều 244, Điều 266 và Điều 273 của Bộ luật tố tụng dân sự;
Căn cứ các Điều 455, 457, 649, 650, 651 và 660 Bộ luật dân sự,
Căn cứ các Điều 100, 179 và 188 Luật đất đai năm 2013; Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Tuyên xử:
- Chấp nhận phần yêu cầu khởi kiện của ông Nguyễn Văn X về việc yêu cầu phân chia tài sản chung của ông Nguyễn Văn X và phân chia di sản thừa kế của bà Trần Thị Bé H1 và công nhận việc tặng cho quyền sử dụng đất đối với phần đất có tổng diện tích 19.698m² theo bản vẽ trích đo hiện trạng ngày 05/4/2024 của Công ty TNHH MTV T1.
Ông Nguyễn Văn X được nhận phần đất ở và đất trồng cây lâu năm có diện tích 8.269,6m² (M2,M3, M4,M7-M9,M20,M21) kí hiệu 3 trên bản vẽ.
Bà Nguyễn Kim C được nhận thừa kế phần đất nuôi trồng thủy sản có diện tích 2.476,3m²(M11,M12-M15,M16) kí hiệu 6 và nhận tặng cho phần đất nuôi trồng thủy sản 2.242,8m² (M10,M11-M17,M19), kí hiệu 5, phần đất trồng cây lâu năm diện tích 757,2m² (M9,M10-M19,M20), ký hiệu 4 và đất trồng cây lâu năm diện tích 363,2m² (M3,M4-M23,M24), ký hiệu 2 (thuộc một phần các thửa số 197 và 198); Tổng diện tích 5.839,5m²; buộc ông Nguyễn Văn X giao lại cho bà C phần đất này.
Ghi nhận sự tự nguyện của ông Nguyễn Văn X tặng cho ông Nguyễn Chi L phần đất trồng cây lâu năm diện tích 363,6m² (M1,M2-M21,M22), kí hiệu số 1, buộc ông Nguyễn Văn X giao lại cho ông L phần đất này.
Tạm giao kỷ phần thừa kế của ông Nguyễn Duy T đối với phần đất có diện tích 2.476,3m² (M12, M13-M14,M15) thuộc một phần thửa số 197, bản đồ năm 2023, kí hiệu số 7 cho ông Nguyễn Văn X quản lý.
(Kèm theo bản vẽ hiện trạng ngày 05/4/2024 của Công ty TNHH MTV T1).
- Chấp nhận yêu cầu độc lập của ông Nguyễn Hậu G, bà Trần Kiều D: Công nhận hợp đồng đổi đất lập ngày 22/3/2020 giữa ông Nguyễn Hậu G, bà Trần Kiều D với ông Nguyễn Chi L, bà Chung Phương N. Ông G, bà D được quyền quản lý, sử dụng phần đất diện tích 2.748,7m² (M1,M2,M3,M4) thuộc thửa số 143, tờ bản đồ số 11 theo bản vẽ hiện trạng lập ngày 10/10/2023 (bl 56).
Các đương sự được quyền liên hệ với cơ quan có thẩm quyền để thực hiện việc tách thửa sang tên theo quy định.
- Về chi phí tố tụng: Ông Nguyễn Văn X phải chịu số tiền chi phí thẩm định đo đạc, định giá 32.367.000 đồng đã thực hiện xong.
- Án phí dân sự sơ thẩm có giá ngạch: Xét miễn cho ông Nguyễn Văn X theo quy định của pháp luật. Bà Nguyễn Kim C phải chịu 3.715.000 đồng (Ba triệu bảy trăm mười lăm nghìn đồng); ông Nguyễn Chi L, bà Chung Phương N phải chịu 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng). Ông Nguyễn Hậu G, bà Trần Kiều D được nhận lại số tiền 600.000 đồng theo lai thu số 0004662 ngày 11/3/2024 tại Chi cục thi hành án dân sự huyện Trần Văn Thời.
- Đương sự có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Các đương sự còn lại vắng mặt có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc kể từ ngày tống đạt hợp lệ bản án.
Bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6,7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
Nơi nhận:
| TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Lê Chí Công |
Bản án số 170/2024/DS-ST ngày 21/06/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TRẦN VĂN THỜI, TỈNH CÀ MAU về tranh chấp phân chia tài sản chung của vợ chồng, chia di sản thừa kế và tặng cho quyền sử dụng đất
- Số bản án: 170/2024/DS-ST
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp phân chia tài sản chung của vợ chồng, chia di sản thừa kế và tặng cho quyền sử dụng đất
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 21/06/2024
- Loại vụ/việc: Dân sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TRẦN VĂN THỜI, TỈNH CÀ MAU
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: ông Xuyên yêu cầu chia tài sản
