TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN PHÚ NHUẬN THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
| CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc
|
Số: 170/2025/KDTM-ST
Ngày: 20/3/2025
Về tranh chấp Hợp đồng thi công
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN PHÚ NHUẬN THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
- Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Bà Hồ Thị Minh Thúy
Các Hội thẩm nhân dân: 1/Ông Đỗ Xuân Nam
2/Bà Lê Thị Thanh Dung
- Thư ký phiên tòa: Bà Võ Mai Như Trang – Thư ký Tòa án nhân dân quận Phú Nhuận, Thành phố Hồ Chí Minh.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Phú Nhuận, Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên tòa: Bà Võ Thị Thu Thủy - Kiểm sát viên.
Ngày 20 tháng 3 năm 2025 tại trụ sở Tòa án nhân dân quận Phú Nhuận, Thành phố Hồ Chí Minh xét xử công khai vụ án Kinh doanh thương mại thụ lý số 1150/2024/TLST-KDTM ngày 31/10/2024 về việc “Tranh chấp hợp đồng kinh tế” theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số 17/2025/QĐXXST-KDTM ngày 10/02/2025 và Quyết định hoãn phiên tòa số 19/2025/QĐ-HPT ngày 28/02/2025 của Tòa án nhân dân quận Phú Nhuận, Thành phố Hồ Chí Minh giữa:
- Nguyên đơn: Công ty Cổ phần Đ.
Địa chỉ: B L, Phường A, Quận A, Thành phố Hồ Chí Minh.
Đại diện theo pháp luật: Ông Nguyễn Đình H – Chức vụ: Tổng Giám đốc
Đại diện ủy quyền: Ông Võ Ngọc Thiên H1 và bà Lê Kim X (Giấy ủy quyền ngày 18/7/2024) (Có mặt)
- Bị đơn: Công ty TNHH T
Địa chỉ: B H, Phường I, quận P, Thành phố Hồ Chí Minh.
Đại diện theo pháp luật: Ông Vũ Hoài N – Chức vụ: Giám đốc
(Vắng mặt)
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Tại đơn khởi kiện đề ngày 05/8/2024 và trong quá trình giải quyết vụ án, người đại diện ủy quyền của Công ty Cổ phần Đ – bà Lê Kim X trình bày:
Công ty Cổ phần Đ (Công ty D) và Công ty TNHH T (Công ty T) ký kết Hợp đồng kinh tế số 07/2016/HĐKT-TH ngày 31/3/2016 và Phụ lục Hợp đồng có nội dung như sau:
- Thi công hạng mục: Cung cấp, thi công lắp đặt và hoàn thiện hạng mục nhôm kính cho công trình Villa N.
- Địa chỉ: đường P, phường V, thành phố N.
- Giá trị hợp đồng: 863.699.672 đồng
- Phương thức thanh toán:
- Đợt 1: Trong vòng 03 ngày sau khi ký Hợp đồng, Công ty T tạm ứng cho Công ty Đ 20% tổng giá trị hợp đồng, tương đương với số tiền 172.000.000 đồng.
- Đợt 2: Công ty Đ thi công đạt 80% giá trị hợp đồng, Công ty T tạm ứng cho Công ty Đ 80% giá trị khối lượng nghiệm thu tại công trình.
- Đợt 3: Sau khi hoàn thành 100% khối lượng trong hợp đồng, hai bên tiến hành nghiệm thu và quyết toán khối lượng thi công thực tế.
Sau khi ký kết hợp đồng, Công ty Đ đã nhanh chóng triển khai và hoàn thành toàn bộ các công việc theo đúng tiến độ và chất lượng đã thoả thuận. Khi công trình đã hoàn tất, Công ty Đ và Công ty T đã cùng nghiệm thu, đánh giá kết quả thi công: Công trình đạt yêu cầu về chất lượng, đúng tiến độ. Tuy nhiên, dù Công ty Đ đã hoàn tất nghĩa vụ thi công và bàn giao công trình, nhưng Công ty T vẫn chưa thực hiện nghĩa vụ thanh toán cho Công ty Đ theo Hợp đồng kinh tế số 07/2016/HĐKT-TH ngày 31/3/2016. Hai bên đã tổ chức một buổi làm việc để rà soát lại toàn bộ các khoản chi phí và số nợ liên quan (do buổi làm việc đã lâu, trên biên bản không ghi ngày nên hiện tại không xác định được ngày làm việc giữa các bên). Trong cuộc họp này, Công ty Đ và Công ty T đã đối chiếu lại các số liệu từ Bảng diễn giải giá trị chào hàng và thanh toán, nhằm thống nhất một cách chính xác số tiền nợ còn lại. Sau khi kiểm tra kỹ lưỡng, hai bên đã xác nhận các khoản chi phí như sau:
- - Giá trị quyết toán: 1.524.711.775 đồng
- - Giá trị đã thanh toán: 922.000.000 đồng
- - Giá trị chưa thanh toán: 602.711.775 đồng
Công ty T đã xác nhận rằng số tiền nợ chưa thanh toán cho Công ty Đ tại Hợp đồng là 602.711.775 (Sáu trăm lẻ hai triệu, bảy trăm mười một ngàn, bảy trăm bảy mươi lăm) đồng. Tuy nhiên, trong buổi làm việc, Công ty T đã đề nghị giảm số tiền nợ này xuống còn 550.000.000 (năm trăm năm mươi triệu) đồng. Công ty Đ đã đồng ý giảm số tiền 52.711.775 (năm mươi hai triệu, bảy trăm mười một ngàn, bảy trăm bảy mươi lăm) đồng từ tổng số nợ. Hai bên đã chốt lại số tiền nợ còn lại mà Công ty T còn phải thanh toán là 550.000.000 (năm trăm năm mươi triệu) đồng. Tại bảng diễn giải Công ty T cam kết tiến độ thanh toán như sau:
- Đợt 1: Thanh toán số tiền 250.000.000 đồng, thanh toán trong tháng 08/2018;
- Đợt 2: Thanh toán số tiền 300.000.000 đồng, thanh toán trễ nhất là 05/9/2018.
Tuy nhiên, đến nay đã quá thời hạn trả nợ, Công ty Đ đã nhiều lần yêu cầu nhưng Công ty T vẫn liên tục trì hoãn và né tránh không hoàn thành cam kết trả nợ cho Công ty Đ.
Vì vậy, để bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình, Công ty Đ đã khởi kiện yêu cầu Toà án nhân dân quận Phú Nhuận giải quyết các yêu cầu sau:
- Buộc Công ty TNHH T thanh toán một lần cho Công ty Cổ phần Đ tổng số tiền nợ gốc theo Hợp đồng kinh tế số 07/2016/HĐKT-TH ngày 31/3/2016 và Phụ lục Hợp đồng tính đến ngày 06/7/2024 là 550.000.000 (năm trăm năm mươi triệu) đồng.
- Buộc Công ty TNHH T thanh toán cho Công ty Cổ phần Đ tiền lãi chậm trả đối với toàn bộ khoản nợ, tạm tính từ ngày 06/9/2018 đến ngày 07/02/2025 là 353.375.000 (ba trăm năm mươi ba triệu, ba trăm bảy mươi lăm ngàn) đồng.
Do không xác định chính xác được ngày làm việc chốt công nợ giữa hai bên nên nguyên đơn xác định tính lãi chậm thanh toán kể từ ngày tiếp theo của ngày bị đơn hẹn thanh toán đợt 2 (ngày 06/9/2018) theo mức lãi suất là 10%/năm., vì theo thoả thuận tại điểm c Điều 9.2 Hợp đồng kinh tế số 07/2016/HĐKT-TH ngày 31/3/2016 giữa các bên: “Trường hợp bên A chậm thanh quyết toán vượt quá 07 ngày thì áp dụng mức phạt là 0,1%/ngày trên giá trị quyết toán của hạng mục đó, nhưng không vượt hơn 10% giá trị hợp đồng”. Công ty Cổ phần Đ yêu cầu lãi chậm thanh toán với mức 10%/năm.
Tổng cộng số tiền tạm tính đến ngày 07/02/2025 là 903.375.000 (chín trăm lẻ ba triệu ba trăm bảy mươi lăm ngàn) đồng.
Sau khi thụ lý vụ án, Tòa án đã tiến hành thủ tục tống đạt các văn bản tố tụng theo quy định cho bị đơn, đại diện pháp luật của bị đơn, đăng thông báo lên các phương tiện thông tin đại chúng cho đương sự, nhưng các đương sự nói trên đều vắng mặt, cũng không gửi bản tự khai trình bày ý kiến của mình liên quan đến tranh chấp, nên Tòa án không ghi nhận được ý kiến và không tiến hành hòa giải giữa các bên đương sự được.
Tại phiên tòa:
Đại diện ủy quyền của nguyên đơn bà Lê Kim X trình bày: giữ nguyên yêu cầu khởi kiện về số tiền nợ gốc, yêu cầu Toà án buộc Công ty TNHH T thanh toán một lần cho Công ty Cổ phần Đ số tiền nợ gốc còn thiếu là 550.000.000 (năm trăm năm mươi triệu) đồng. Nguyên đơn tự nguyện rút yêu cầu tính lãi đối với bị đơn nhằm giúp bị đơn có điều kiện thanh toán dứt điểm nợ. Trường hợp bị đơn vẫn không thanh toán nợ như yêu cầu, nguyên đơn yêu cầu được tính lãi kể từ thời điểm có đơn yêu cầu thi hành án theo mức lãi suất nợ quá hạn trung bình trên thị trường tại thời điểm bị đơn thanh toán.
Bị đơn vắng mặt dù đã được Tòa án triệu tập hợp lệ.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Phú Nhuận phát biểu ý kiến: Quá trình giải quyết vụ án cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án, Tòa án nhân dân quận Phú Nhuận tuân theo đúng pháp luật tố tụng về việc xác định quan hệ tranh chấp, tư cách đương sự, tiến hành thu thập chứng cứ. Tại phiên tòa, Hội đồng xét xử tiến hành theo đúng trình tự tố tụng, các đương sự chấp hành tốt quy định pháp luật về tố tụng. Về nội dung, yêu cầu của nguyên đơn về số tiền nợ gốc là có căn cứ nên đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận. Đề nghị Hội đồng xét xử đình chỉ giải quyết yêu cầu của nguyên đơn về việc yêu cầu bị đơn thanh toán tiền lãi chậm trả đối với khoản nợ gốc nêu trên (tạm tính từ ngày 06/9/2018 đến ngày 07/02/2025 là 353.375.000đồng).
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Về tố tụng:
[1.1] Về quan hệ tranh chấp: Nguyên đơn Công ty Cổ phần Đ khởi kiện yêu cầu bị đơn Công ty TNHH T thanh toán tiền nợ theo Hợp đồng kinh tế số 07/2016/HĐKT-TH ngày 31/3/2016 về việc cung cấp, thi công lắp đặt và hoàn thiện hạng mục nhôm kính cho công trình Villa N. Xét đây là quan hệ về tranh chấp hợp đồng thi công thuộc thẩm quyền giải quyết của Toà án theo quy định tại khoản 3 Điều 26 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015.
[1.2] Về thẩm quyền: Tại thời điểm nguyên đơn Công ty Cổ phần Đ nộp đơn khởi kiện, căn cứ kết quả xác minh của Sở Kế hoạch và Đầu tư Thành phố H, bị đơn Công ty TNHH T có địa chỉ trụ sở tại B H, Phường I, quận P, Thành phố Hồ Chí Minh và hiện nay chưa đăng ký giải thể, nên Toà án nhân dân quận Phú Nhuận thụ lý giải quyết là đúng thẩm quyền theo điểm b khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng Dân sự năm 2015.
[1.3] Về thủ tục tố tụng và sự có mặt, vắng mặt của các đương sự:
Người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn có mặt; bị đơn dù đã được Tòa án triệu tập hợp lệ nhưng vẫn vắng mặt không lý do. Toà án đã tiến hành các thủ tục tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng tại địa chỉ đăng ký kinh doanh của bị đơn và thủ tục đăng thông báo trên phương tiện truyền thông đại chúng nhưng phía bị đơn, người đại diện pháp luật của bị đơn vẫn vắng mặt không lý do và cũng không gửi văn bản trình bày bất kỳ ý kiến gì liên quan đến quyền, lợi ích của mình trong vụ án. Theo quy định tại khoản 4 Điều 91 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015: “Đương sự có nghĩa vụ đưa ra chứng cứ để chứng minh mà không đưa ra được chứng cứ hoặc không đưa ra đủ chứng cứ thì Tòa án giải quyết vụ việc dân sự theo những chứng cứ đã thu thập được có trong hồ sơ vụ việc”. Bị đơn và người đại diện pháp luật của bị đơn đều được triệu tập hợp lệ nhưng vắng mặt không có lý do, không gửi văn bản trình bày bất kỳ ý kiến gì liên quan đến quyền, lợi ích của mình trong vụ án này, là đã từ chối quyền trình bày ý kiến về quyền, lợi ích hợp pháp của mình đối với tranh chấp. Căn cứ điểm b khoản 2 Điều 227, Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt bị đơn và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan theo những chứng cứ đã thu thập trong hồ sơ vụ án.
[2] Về nội dung tranh chấp theo yêu cầu của Nguyên đơn:
[2.1] Đối với số tiền nợ gốc 550.000.000 đồng:
Căn cứ các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án thể hiện, nguyên đơn Công ty Cổ phần Đ và bị đơn Công ty TNHH T có ký Hợp đồng kinh tế số 07/2016/HĐKT-TH ngày 31/3/2016 về việc cung cấp, thi công lắp đặt và hoàn thiện hạng mục nhôm kính cho công trình Villa N, giá trị hợp đồng là 863.699.672 đồng. Hợp đồng kinh tế số 07/2016/HĐKT-TH ngày 31/3/2016 được xác lập trên cơ sở tự nguyện, mục đích, nội dung và hình thức của Hợp đồng không vi phạm điều cấm của luật, không trái với đạo đức xã hội. Vì vậy, căn cứ Điều 116, Điều 117, Điều 118 và Điều 119 Bộ luật Dân sự 2015, Hợp đồng kinh tế số 07/2016/HĐKT-TH ngày 31/3/2016 trên có hiệu lực pháp luật, làm phát sinh quyền, nghĩa vụ của các bên. Qua quá trình thực hiện hợp đồng, bị đơn đã thanh toán cho nguyên đơn tổng cộng 922.000.000 đồng theo hoá đơn giá trị gia tăng số 0000321 ngày 18/8/2016 và hoá đơn giá trị gia tăng số 0000444 ngày 26/6/2017. Nguyên đơn đã hoàn tất nghĩa vụ thi công và bàn giao công trình cho bị đơn. Tại Bảng diễn giải giá trị chào hàng và thanh toán, bị đơn Công ty TNHH T đã xác nhận số tiền còn nợ nguyên đơn Công ty Cổ phần Đ là 550.000.000 đồng, chia ra thành 02 đợt để thanh toán, thời hạn thanh toán trễ nhất vào ngày 05/9/2018. Tuy nhiên, bị đơn vẫn không thực hiện nghĩa vụ thanh toán phần nợ còn lại theo thoả thuận. Do vậy, việc nguyên đơn yêu cầu Toà án buộc bị đơn thực hiện nghĩa vụ trả nợ đối với số tiền 550.000.000 đồng là có căn cứ, nên Hội đồng xét xử chấp nhận.
[2.2] Về số tiền nợ lãi:
Tại phiên toà, nguyên đơn tự nguyện rút yêu cầu tính lãi đối với khoản nợ của bị đơn. Xét thấy đây là sự tự nguyện và thiện chí của nguyên đơn, tạo điều kiện giúp bị đơn có điều kiện thanh toán dứt điểm nợ, có lợi cho bị đơn nên chấp nhận.
Như vậy, Hội đồng xét xử xét thấy có cơ sở chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn Công ty Cổ phần Đ về việc yêu cầu bị đơn Công ty TNHH T thanh toán số tiền nợ gốc là: 550.000.000 (năm trăm năm mươi triệu) đồng phát sinh từ Hợp đồng kinh tế số 07/2016/HĐKT-TH ngày 31/3/2016 về việc cung cấp, thi công lắp đặt và hoàn thiện hạng mục nhôm kính cho công trình Villa N được ký kết giữa hai bên.
[2.3] Về thời hạn thanh toán: Nguyên đơn yêu cầu bị đơn phải thanh toán ngay một lần số nợ trên. Hội đồng xét xử xét thấy: bị đơn đã vi phạm nghĩa vụ thanh toán đã lâu, việc này làm ảnh hưởng đến quyền, lợi ích hợp pháp của nguyên đơn. Việc nguyên đơn yêu cầu bị đơn phải thanh toán ngay một lần khoản nợ trên là không trái quy định của pháp luật nên Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu này.
Từ các nhận định trên, Hội đồng xét xử xét thấy toàn bộ yêu cầu của nguyên đơn Công ty Cổ phần Đ là có cơ sở chấp nhận, đồng thời cũng phù hợp với ý kiến phát biểu của đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Phú Nhuận tại phiên tòa.
[3] Về án phí kinh doanh thương mại sơ thẩm: Căn cứ Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015, khoản 2 Điều 26 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 của Ủy ban thường vụ Quốc hội ban hành ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án. Bị đơn phải chịu toàn bộ án phí dân sự sơ thẩm do toàn bộ yêu cầu của nguyên đơn được Tòa án chấp nhận. Nguyên đơn không phải chịu án phí. H2 lại cho nguyên đơn số tiền tạm ứng án phí đã nộp.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
- - Căn cứ khoản 3 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, khoản 4 Điều 91, Điều 147, điểm b khoản 2 Điều 227, Điều 228, Điều 266, Điều 271, khoản 1 Điều 273 Bộ luật Tố tụng Dân sự năm 2015;
- - Căn cứ Điều 116, Điều 117, Điều 118, Điều 119 Bộ luật Dân sự năm 2015;
- - Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 13 Nghị quyết số 01/2019 ngày 11/9/2019 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân Tối cao hướng dẫn áp dụng một số quy định về lãi, lãi suất, phạt vi phạm;
- - Căn cứ Điều 306 Luật Thương mại;
- - Căn cứ Điều 26 Luật Thi hành án Dân sự năm 2008 (sửa đổi, bổ sung năm 2014);
- - Căn cứ khoản 2 Điều 26 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Tuyên xử:
- Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn Công ty Cổ phần Đ:
- Buộc Công ty TNHH T thanh toán một lần cho Công ty Cổ phần Đ số tiền nợ gốc là: 550.000.000 (năm trăm năm mươi triệu) đồng phát sinh từ Hợp đồng kinh tế số 07/2016/HĐKT-TH ngày 31/3/2016 về việc cung cấp, thi công lắp đặt và hoàn thiện hạng mục nhôm kính được ký kết giữa hai bên.
- Thanh toán một lần ngay sau khi bản án có hiệu lực pháp luật tại cơ quan thi hành án dân sự có thẩm quyền.
- Đình chỉ giải quyết yêu cầu của nguyên đơn Công ty Cổ phần Đ về việc yêu cầu bị đơn thanh toán tiền lãi chậm trả đối với khoản nợ gốc nêu trên (tạm tính từ ngày 06/9/2018 đến ngày 07/02/2025 là 353.375.000 (ba trăm năm mươi ba triệu, ba trăm bảy mươi lăm ngàn) đồng).
- Kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của Công ty Cổ phần Đ, Công ty TNHH T còn phải chịu tiền lãi của số tiền còn phải thi hành theo mức lãi suất nợ quá hạn trung bình trên thị trường tại thời điểm thi hành tương ứng với thời gian chưa thi hành án.
- Về án phí kinh doanh thương mại sơ thẩm:
Án phí kinh doanh thương mại sơ thẩm là 26.000.000 (hai mươi sáu triệu) đồng Công ty TNHH T chịu.
H2 lại cho Công ty Cổ phần Đ số tiền tạm ứng án phí là 19.062.000 đồng (mười chín triệu không trăm sáu mươi hai ngàn) đồng đã nộp theo biên lai thu số 0029930 ngày 24/10/2024 của Chi cục Thi hành án dân sự quận Phú Nhuận, Thành phố Hồ Chí Minh.
- Về nghĩa vụ thi hành án:
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 của Luật Thi hành án Dân sự năm 2008 (đã được sửa đổi, bổ sung năm 2014) thì người được thi hành án, người phải thi hành án có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật Thi hành án Dân sự năm 2008 (đã được sửa đổi, bổ sung năm 2014); thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án Dân sự năm 2008 (đã được sửa đổi, bổ sung năm 2014).
- Về quyền kháng cáo:
Đương sự có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Đương sự vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.
Nơi nhận:
| TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Hồ Thị Minh Thúy |
Bản án số 170/2025/KDTM-ST ngày 20/03/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN PHÚ NHUẬN THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH về tranh chấp hợp đồng thi công
- Số bản án: 170/2025/KDTM-ST
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp Hợp đồng thi công
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 20/03/2025
- Loại vụ/việc: Kinh doanh thương mại
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN PHÚ NHUẬN THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Công ty CP Đầu tư Xây dựng Thương mại Tín Hiếu khởi kiện Công ty TNHH Tư vấn Thiết kế Ý Tưởng về "Tranh chấp Hợp đồng kinh tế"
