TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ MỸ THO TỈNH TIỀN GIANG | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc |
Bản án số: 170/2024/HSST
Ngày: 04-12-2024
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ MỸ THO, TỈNH TIỀN GIANG
-Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Bảnh.
Các Hội thẩm nhân dân.
Bà Bùi Thị Thu Nhi
Ông Nguyễn Tất Ái
- Thư ký phiên toà: Ông Trần Minh Cường, Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Mỹ Tho, tỉnh Tiền Giang.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Mỹ Tho tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Hoàng Phúc - Kiểm sát viên.
Ngày 04 tháng 12 năm 2024 tại Trụ sở Toà án nhân dân thành phố Mỹ Tho, tỉnh Tiền Giang xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 142/2024/HSST ngày 04 tháng 10 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 151/QĐXXST-HS ngày 24 tháng 10 năm 2024, Quyết định hoãn phiên tòa số 45/HSST-QĐ ngày 08 tháng 11 năm 2024 đối với bị cáo:
Họ và tên: Trần Tiến Đ, sinh ngày 25/5/1997 tại tỉnh Bến Tre; Tên gọi khác: X; Số CCCD: [...] cấp ngày 13/8/2021; Nơi đăng ký thường trú: ấp P, xã A, huyện M, tỉnh Bến Tre; Chỗ ở: ấp L, xã P, thành phố M, tỉnh Tiền Giang; Nghề nghiệp: Làm thuê; trình độ học vấn: 08/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Cha: Trần Văn S (1976), mẹ Trần Thị Hồng P (1979); Bị cáo chưa có vợ, con. Tiền án, tiền sự: Không
Bị cáo bị bắt tạm giữ ngày 04/4/2024, tạm giam ngày 10/4/2024, hiện đang bị tạm giam tại Nhà tạm giữ Công an thành phố M. Có mặt tại phiên tòa.
*Người bào chữa cho bị cáo: Luật sư Võ Trọng K - Chi nhánh V luật sư Võ Trọng K thuộc Đoàn Luật sư Thành phố H. Có mặt
*Người bị hại: Nguyễn Hoàng Â, sinh năm: 1994. Có mặt
Địa chỉ: Tổ A ấp P, xã P, thành phố M, Tiền Giang.
* Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
Lê Thị Kim T, sinh năm 1997. Có mặt
Địa chỉ: Tổ A ấp P, xã P, thành phố M, Tiền Giang
* Người làm chứng:
- Lê Văn C, sinh năm: 1957. Vắng mặt
Địa chỉ: Ấp E, xã T, huyện C, tỉnh Tiền Giang. - Đặng Minh Q, sinh năm 1994. Có mặt
Địa chỉ: Ấp D, xã T, huyện C, tỉnh Tiền Giang - Trương Quang C1, sinh năm 1995. Có mặt
Địa chỉ: 3 T, phường T, thành phố M, Tiền Giang - Lê Thanh H, sinh năm 1990. Vắng mặt
Địa chỉ: Tổ A ấp M, xã M, thành phố M, Tiền Giang - Nguyễn Việt T1, sinh năm 2004. Vắng mặt
Địa chỉ: số B ấp C, xã Đ, thành phố M, Tiền Giang - Nguyễn Khắc H1, sinh năm 1990. Vắng mặt
Địa chỉ: số A ấp T, xã T, huyện C, Tiền Giang. - Trần Thị Hồng P, sinh năm 1979. Có mặt
Địa chỉ: ấp T, xã T, huyện T, tỉnh Tiền Giang
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 23 giờ ngày 31/3/2024, Trần Tiến Đ ngồi uống nước tại quán cà phê R thuộc tổ B, ấp L, xã P, thành phố M, tỉnh Tiền Giang cùng với Nguyễn Hoàng Â, Trương Quang C1, Đặng Minh Q. Trong lúc nói chuyện thì giữa Đ và  xảy ra cự cãi. Đ vào bên trong quán cà phê lấy 01 con dao dùng để chặt dừa dài 47cm (cán bằng gỗ màu vàng dài 14cm, lưỡi dao bằng kim loại sắc bén dài 33cm) đi ra thì  bỏ chạy ra trước đường bê tông. Đ đuổi theo, anh  té chống tay trái xuống đất thì Đ dùng dao chém một nhát trúng vào bàn tay phải của anh  gây thương tích. Do được mọi người can ngăn nên Đ bỏ đi, anh  được đưa vào Bệnh viện Đa khoa tỉnh T gần đó cấp cứu.
Đến khoảng 23 giờ 20 phút cùng ngày, Đ cầm theo 01 con dao dài 93cm, cán dao bằng kim loại màu trắng dài 58cm, lưỡi dao bằng kim loại sắc bén dài 35cm với thái độ hung hãn xông vào Khoa cấp cứu của Bệnh viện Đa khoa tỉnh T để tìm chém anh Â. Đ cầm dao chĩa thẳng về phía anh  đang nằm trên băng ca và lớn tiếng chửi làm anh  và những bệnh nhân khác tại khu vực K1 cấp cứu sợ hãi bỏ chạy vào bên trong cửa Bệnh viện trốn. Sau đó Đ bỏ về và đi thành phố Hồ Chí Minh lẩn trốn, đến ngày 04/4/2024 ra Công an xã P đầu thú.
Ngày 08/4/2024 và 20/5/2024 Ủy ban nhân dân xã P, thành phố M và Bệnh viện Đ có văn bản gửi Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố M đề nghị xử lý Trần Tiến Đ do đã có hành vi gây rối trật tự công cộng tại Bệnh viện Đa khoa tỉnh T.
Bản kết luận giám định số 294-2024/KLTTCT-TTPY ngày 15/8/2024 của Trung tâm P1 kết luận và Công văn số 292/CV-TTPY ngày 14/11/2024 giải thích kết luận giám định pháp y về thương tích:
-Kết quả khám giám định:
- +Sẹo mổ trùng sẹo vết thương từ mặt lung đốt bàn ngón I đến mặt lòng bàn tay phải. Tỷ lệ 03%;
- +Sẹo mổ từ mặt trước cổ tay phải đến mặt lòng bàn tay phải. Tỷ lệ 02%;
- +Sẹo mổ 1/3 dưới xương cẳng tay phải. Tỷ lệ 01%;
- +Sẹo vết thương lòng bàn tay trái. Tỷ lệ 01%;
- +Gãy nền xương bàn ngón I tay phải. Tỷ lệ 06%;
- +Đứt thần kinh giữa tại vị trí vết thương đã phẫu thuật khâu nối thần kinh. Tỷ lệ 11%;
- +Đứt gân dạng ngón cái dài, duỗi ngón cái ngắn gấp sâu ngón cái, gấp nông sâu ngón II, cơ dang ngón cái, cơ đối ngón cái tay phải. Cứng khớp đốt bàn ngón I tay phải. Tỷ lệ 11%;
- +Cứng khớp một liên đốt 1, 2 ngón II tay phải. Tỷ lệ 03%.
-Kết quả cận lâm sàng:
- +Kết quả X Quang bàn tay phải: Gãy nền xương bàn I bàn tay phải. Đinh kết hợp nền xương bàn I bàn tay phải.
- +Kết quả đo điện cơ tay phải: Hiện chẩn đoán điện có biểu hiện tổn thương dây thần kinh giữa phải tại bàn tay (ở vị trí vết thương) không hoàn toàn (đã phẩu thuật).
Căn cứ Thông tư số 22/2019/TT-BYT ngày 28/8/2019 của Bộ Trưởng Bộ Y Quy định tỷ lệ phần trăm tổn thương cơ thể sử dụng trong giám định pháp y, pháp y tâm thần, tổng tỷ lệ tổn thương cơ thể do thương tích gây nên tại thời điểm giám định của nạn nhân Nguyễn Hoàng  là 33% (Ba mươi ba phần trăm) theo phương pháp cộng tại Thông tư.
Thương tích do vật sắc gây nên.
Tại bản cáo trạng số 133/CT-VKSMT ngày 03/10/2024 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Mỹ Tho, tỉnh Tiền Giang đã truy tố Trần Tiến Đ để xét xử về tội “ Cố ý gây thương tích” theo điềm c khoản 3 Điều 134 và tội “Gây rối trật tự công cộng” theo điểm b khoản 2 Điều 318 của Bộ luật Hình sự (BLHS).
*Tại phiên tòa:
-Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố M trong phần tranh luận giữ nguyên quyết định truy tố đối với bị cáo Trần Tiến Đ về tội “Cố ý gây thương tích” theo điềm c khoản 3 Điều 134 và tội “Gây rối trật tự công cộng” theo điểm b khoản 2 Điều 318 của Bộ luật Hình sự.; Phân tích tính chất, mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội cùng các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, nhân thân bị cáo đã đề nghị Hội đồng xét xử:
- +Tuyên bố bị cáo Trần Tiến Đ phạm tội: “Cố ý gây thương tích” và tội “Gây rối trật tự công cộng”;
- +Về hình phạt: Căn cứ điểm c khoản 3 Điều 134; điểm b khoản 2 Điều 318; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38, Điều 50 Bộ luật hình sự, xử
phạt bị cáo từ 05 năm đến 06 năm tù về tội “Cố ý gây thương tích”; từ 03 năm đến 04 năm tù về tội “Gây rối trật tự công cộng”.
- +Trách nhiệm dân sự: Buộc bị cáo bồi thường cho bị hại số tiền 40.000.000 đồng
- +Xử lý vật chứng: đề nghị tịch thu tiêu hủy 02 con dao.
-Người bào chữa cho bị cáo: Thống nhất về tội danh. Về các tình tiết giảm nhẹ: bị cáo ra đầu thú, mới học đến lớp 8 nên nhận thức còn hạn chế, phạm tội lần đầu, cha mẹ ly hôn nên bị cáo không được quan tâm nhiều. Về tội “Cố ý gây thương tích”, vẫn bảo lưu ý kiến đề nghị giám định lại tỷ lệ thương tật của bị hại vì kết luận giám định chưa phù hợp pháp luật, gây thiệt hại cho quyền lợi của bị cáo; Kết luận giám định không nêu ra vết thương căn cứ vào điều khoản nào của phụ lục đính kèm Thông tư 22/2029; kết luận giám định và cáo trạng đều xác định bị cáo gây thương tích cho bị hại ở tay phải; vết thương do phẩu thuật lại bắt bị cáo phải chịu trách nhiệm trong khi Thông tư 22 không quy định cộng vào. Đề nghị Hội đồng xét xử xem xét cân nhắc đánh giá khi quyết định hình phạt để tuyên bị cáo một mức án dưới mức đề nghị của Viện kiểm sát, nếu được đề nghị áp dụng Điều 54 BLHS cho bị cáo do bị cáo phạm 02 tội nên hình phạt cộng lại sẽ rất cao.
-Kiểm sát viên đối đáp bào chữa của Luật sư: bổ sung tình tiết đầu thú cho bị cáo. Đối với yêu cầu giám định lại là không có căn cứ vì các sẹo mổ là do bị cáo gây ra thương tích nên mới điều trị, tay trái bị hại té khi bị cáo rượt đuổi nên vẫn phải chịu trách nhiệm.
-Bị cáo Trần Tiến Đ đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của bị cáo như Cáo trạng đã nêu, bị cáo không bào chữa cho hành vi phạm tội. Bị cáo vẫn giữ ý kiến đề nghị giám định lại thương tật của bị hại như ý kiến của người bào chữa. Nói lời sau cùng, bị cáo xin lỗi bị hại, xin lỗi mẹ và gia đình, bị cáo sai nên phải chịu trách nhiệm trước pháp luật. Bị cáo không khôn ngoan khi xử lý nên khi có uống rượu bia đã thực hiện hành vi vi phạm, bị cáo rất hối hận, xin Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo sớm được về nhà.
-Người bị hại: vẫn giữ yêu cầu bồi thường tổng cộng là 45.000.000 đồng, gia đình bị cáo mới bồi thường 5.000.000 đồng nên còn lại 40.000.000 đồng đề nghị bồi thường khi án có hiệu lực pháp luật. Đối với vết thương của bị hại, bị cáo cầm dao rượt nên bị hại té chống tay trái, sau đó bị cáo dùng dao chém từ trên xuống, bị hại đưa tay phải đỡ nên mới trúng tay nếu không là trúng vào đầu, vì vậy bị cáo phải chịu trách nhiệm hết. Khi vào trong cấp cứu, đang nằm trên băng ca mà bị cáo chạy vào chém, do phát hiện kịp nhảy khỏi băng ca nên mới không trúng chứ không phải bị cáo hâm dọa. Còn việc giám định, khi giám định lại rất đau, phải mổ xẻ vết thương, hiện nay tay vẫn còn kẹp đinh, chưa cầm nắm gì được. Gia đình bị cáo hứa bồi thường mà cũng không thực hiện, từ ngày ra tòa đến nay cũng không ai điện thoại hỏi thăm hay bồi thường gì thêm. Bị hại không đồng ý giám định lại. Chi phí giám định lại nếu dùng để bồi thường cho bị hại cũng được phần lớn chứ không phải số ít như hiện nay.
-Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan chị T: chị là vợ anh Â, sau khi anh  bị Đ chém gây thương tích, chị là người nuôi bệnh và chăm sóc cho anh Â, đến
nay anh  vẫn chưa cầm nắm được tay phải, nay chị không yêu cầu bồi thường gì cho chị, thống nhất với yêu cầu và ý kiến của anh Â.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Đối với yêu cầu giám định lại thương tích bị hại của bị cáo và người bào chữa, xét thấy văn bản của Trung tâm pháp y đã giải thích rõ tỷ lệ từng vết thương và cơ chế hình thành vết thương, kết luận giám định là khách quan và phù hợp pháp luật nên đề nghị của bị cáo và người bào chữa là không có căn cứ.
[2] Tại phiên tòa, bị cáo Trần Tiến Đ đã khai nhận hành vi phạm tội của bị cáo đúng như nội dung cáo trạng của Viện kiểm sát. Lời khai nhận của bị cáo phù hợp với lời khai của bị cáo tại Cơ quan điều tra, lời khai của bị hại và các tài liệu, chứng cứ khác mà Cơ quan điều tra thu thập được, đã được Hội đồng xét xử thẩm tra tại phiên tòa, có đủ cơ sở để Hội đồng xét xử kết luận: Khoảng 23 giờ ngày 31/3/2024, tại đường bê tông thuộc tổ B, ấp L, xã P, thành phố M, tỉnh Tiền Giang, bị cáo Trần Tiến Đ đã có hành vi vô cớ dùng dao là hung khí nguy hiểm rượt đuổi làm bị hại té chống tay trái và chém trúng vào bàn tay phải của anh Nguyễn Hoàng  gây thương tích tỷ lệ 33%. Đến 23 giờ 20 phút cùng ngày, Trần Tiến Đ tiếp tục cầm dao đến Khoa cấp cứu của Bệnh viện Đa khoa tỉnh T tại địa chỉ trên để tìm chém anh Â, gây ảnh hưởng đến an ninh trật tự tại Bệnh viện Đa khoa tỉnh T và bị yêu cầu xử lý.
Hành vi của bị cáo đã xâm phạm vào 02 khách thể khác nhau được Bộ luật Hình sự bảo vệ, cả hai hành vi đều có đủ yếu tố cấu thành tội phạm nên bị cáo phải chịu trách nhiệm hình sự về cả hai tội.
Bị cáo có hành vi sử dụng hung khí nguy hiểm (dao) chém bị hại  gây thương tích 33%, sau đó tiếp tục dùng hung khí là 01con dao khác xông vào Khoa cấp cứu của Bệnh viện Đa khoa tỉnh T và rượt đuổi để chém anh  gây ảnh hưởng đến an ninh trật tự trong Bệnh viện nên bị cáo đã phạm tội “Cố ý gây thương tích” theo điểm c khoản 3 Điều 134 và tội “Gây rối trật tự công cộng” với tình tiết định khung quy định tại điểm b (dùng hung khí). Do đó, có đủ cơ sở kết luận hành vi của bị cáo Trần Tiến Đ phạm tội “Cố ý gây thương tích” theo điểm c khoản 3 Điều 134 và tội “Gây rối trật tự công cộng” theo điểm b khoản 2 Điều 318 của Bộ luật Hình sự như kết luận của Kiểm sát viên là có căn cứ, đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.
[2] Bị cáo là người có năng lực trách nhiệm hình sự đầy đủ nên phải chịu trách nhiệm trước pháp luật đối với hành vi đã thực hiện. Hành vi mà bị cáo thực hiện là nguy hiểm cho xã hội, chẳng những xâm phạm đến quyền bất khả xâm phạm về sức khỏe của công dân được pháp luật bảo vệ mà còn xâm phạm trật tự chung nơi công cộng, đến an ninh trật tự, an toàn xã hội, làm ảnh hưởng đến việc điều trị, khám chữa bệnh của bệnh nhân và các Y, Bác sĩ tại Bệnh viện, khiến cho bộ phận không nhỏ người dân hoang mang, lo sợ, phẫn nộ. Về nhận thức, bị cáo biết hành vi của mình là vi phạm pháp luật, nhưng vì nóng nảy, thiếu kiểm soát bản thân mà bị cáo bất chấp sự trừng phạt của pháp luật, thực hiện hành vi phạm tội với
lỗi cố ý trực tiếp. Do đó, để có tác dụng giáo dục bị cáo có ý thức tuân theo pháp luật, cần có mức hình phạt nghiêm, tương xứng với tính chất, mức độ mà bị cáo đã thực hiện mới có tác dụng răn đe, giáo dục bị cáo trở thành công dân có ích cho xã hội.
[3] Tình tiết tăng nặng: Không có.
[4] Tình tiết giảm nhẹ: Bị cáo ra đầu thú; có bồi thường một phần nhỏ thiệt hại cho bị hại, trong quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa sơ thẩm bị cáo có thái độ thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; bị cáo có nhân thân tốt; có người thân tham gia cách mạng được tặng thưởng bằng khen là những tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 BLHS.
Bị hại yêu cầu bồi thường 45.000.000 đồng, bị cáo tác động gia đình chỉ mới bồi thường 5.000.000 đồng là quá ít so với yêu cầu của bị hại nên không áp dụng tình tiết bồi thường, khắc phục hậu quả theo điểm b khoản 1 Điều 51 BLHS. Do bị cáo chỉ có một tình tiết giảm nhẹ ở khoản 1 nên cũng không có cơ sở áp dụng Điều 54 BLHS như ý kiến của người bào chữa.
[5] Về trách nhiệm dân sự: bị hại Nguyễn Hoàng  yêu cầu bị cáo bồi thường chi phí điều trị, chi phí đi lại, mất thu nhập với tổng số tiền 45.000.000 đồng, bị cáo đồng ý và mới bồi thường 5.000.000 đồng nên cần buộc bồi thường phần còn lại là 40.000.000 đồng khi án có hiệu lực pháp luật.
[6] Về xử lý vật chứng:
- -01 dao tự chế bằng kim loại màu trắng dài 93cm, cán hình trụ dài 58cm, đường kính 2,5cm, lưỡi dao dài 35cm, nơi rộng nhất 07cm, nơi hẹp nhất 04cm, một cạnh bén, mũi bằng, trên lưỡi dao có 01 lỗ tròn đường kính 01cm. Đây là con dao bị cáo cầm khi xông vào Bệnh viện Đ, là công cụ, phương tiện phạm tội nên tịch thu tiêu hủy
- 01 dao dài 47cm, cán bằng gỗ màu vàng dài 14cm, lưỡi dao bằng kim loại dài 33cm, nơi rộng nhất 06cm, nơi hẹp nhất 03cm, mũi bằng, một cạnh bén, trên lưỡi dao có 01 lỗ tròn đường kính 01cm. Đây là con dao của ông Lê Văn C, bị cáo sử dụng chém bị hại Â, trong quá trình điều tra ông C không có yêu cầu nhận lại nên cần tịch thu tiêu hủy.
[7] Về hành vi, quyết định tố tụng của Điều tra viên, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự thủ tục tố tụng theo quy định. Tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng.
[8] Lời bào chữa của Luật sư, có cơ sở một phần nên chấp nhận một phần.
[9] Lời đề nghị của đại diện Viện kiểm sát, Hội đồng xét xử có xem xét khi nghị án.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Tuyên bố bị cáo Trần Tiến Đ phạm tội “Cố ý gây thương tích” và tội “Gây rối trật tự công cộng”.
- Về hình phạt:
Căn cứ điểm c khoản 3 Điều 134; điểm b khoản 2 Điều 318; Điều 50, Điều 38; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 55 của Bộ luật hình sự;
Xử phạt bị cáo Trần Tiến Đ: 05 (Năm) năm tù về tội “Cố ý gây thương tích” và 02 (H2) năm tù về tội “Gây rối trật tự công cộng”.
Tổng hợp hình phạt chung bị cáo phải chấp hành là 07 (B) năm tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày tạm giữ 04/4/2024.
- Về trách nhiệm dân sự: Căn cứ Điều 584, 585, 590, 357 Bộ luật dân sự
Buộc bị cáo Trần Tiến Đ bồi thường cho anh Nguyễn Hoàng  thiệt hại do sức khỏe bị xâm phạm số tiền 40.000.000 đồng khi án có hiệu lực pháp luật.
Kể từ ngày anh  có yêu cầu thi hành án, trường hợp bị cáo Đ chậm thi hành số tiền trên thì phải trả lãi đối với số tiền chậm trả tương ứng với thời gian chậm trả. Lãi suất phát sinh do chậm trả tiền được xác định theo quy định tại khoản 2 Điều 357 Bộ luật dân sự.
- Về xử lý vật chứng: căn cứ Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự, 47 Bộ luật hình sự;
Tịch thu tiêu hủy:
- -01 dao tự chế bằng kim loại màu trắng dài 93cm, cán hình trụ dài 58cm, đường kính 2,5cm, lưỡi dao dài 35cm, nơi rộng nhất 07cm, nơi hẹp nhất 04cm, một cạnh bén, mũi bằng, trên lưỡi dao có 01 lỗ tròn đường kính 01cm;
- - 01 dao dài 47cm, cán bằng gỗ màu vàng dài 14cm, lưỡi dao bằng kim loại dài 33cm, nơi rộng nhất 06cm, nơi hẹp nhất 03cm, mũi bằng, một cạnh bén, trên lưỡi dao có 01 lỗ tròn đường kính 01cm.
(Theo biên bản về việc giao nhận vật chứng, tài sản ngày 23/10/2024)
- Về án phí: Căn cứ Điều 135, 136 của Bộ luật tố tụng hình sự và Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội: Bị cáo phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm và 2.000.000đ án phí dân sự sơ thẩm.
- Về quyền kháng cáo: Bị cáo, anh Â, chị T có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.
- Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6,7, 7a và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
| TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM | |
| THẨM PHÁN-CHỦ TỌA PHIÊN TÒA | |
| Nguyễn Thị Bảnh |
Bản án số 170/2024/HSST ngày 04/12/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ MỸ THO, TỈNH TIỀN GIANG về cố ý gây thương tích và gây rối trật tự công cộng
- Số bản án: 170/2024/HSST
- Quan hệ pháp luật: Cố ý gây thương tích và Gây rối trật tự công cộng
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 04/12/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ MỸ THO, TỈNH TIỀN GIANG
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Cố ý gây thương tích và gây rối trật tự công cộng
