|
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THÁI THỤY TỈNH THÁI BÌNH |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc |
Bản án số: 170/2024/HS-ST
Ngày 04 - 12 - 2024
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THÁI THỤY, TỈNH THÁI BÌNH
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Nguyễn Văn Vương.
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Ngô Minh Hoan và bà Vũ Thị Thúy.
Thư ký phiên tòa: Bà Trần Thị Hồng Vân - Thư ký Tòa án.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Thái Thụy tham gia phiên tòa: Bà Vũ Thị Thủy - Kiểm sát viên.
Ngày 04 tháng 12 năm 2024, tại Trụ sở Tòa án nhân dân huyện Thái Thụy, tỉnh Thái Bình xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 155/2024/TLST-HS ngày 24 tháng 10 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 161/2024/QĐXXST- HS ngày 22 tháng 11 năm 2024 đối với bị cáo:
Vũ Xuân T, sinh ngày 23/10/1992 tại Thái Bình. Nơi cư trú: thôn T, xã N, huyện T, tỉnh Thái Bình. Nghề nghiệp: Phó giám đốc - Công ty cổ phần Đ2; trình độ học vấn: 12/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam. Con ông Vũ Văn T1, sinh năm 1971 và bà Nguyễn Thị G, sinh năm 1973, trú tại xã N, huyện T, tỉnh Thái Bình. Vợ: Vũ Thị L, sinh năm 1998, lao động tự do tại xã N, huyện T, tỉnh Thái Bình. Có 02 con, con lớn sinh năm 2021, con nhỏ sinh năm 2023. Tiền án, tiền sự: không. Bị cáo không bị tạm giữ, tạm giam; bị cấm đi khỏi nơi cư trú. Có mặt tại phiên tòa.
* Bị đơn dân sự:
Công ty cổ phần Đ2.
Người đại diện theo pháp luật: Ông Phạm Quang T2, sinh năm 1982 - Vắng mặt.
Địa chỉ: Tổ A, thị trấn T, huyện T, tỉnh Thái Bình.
* Người đại diện hợp pháp của bị hại (bị hại anh Bùi Công T3 đã chết):
- - Ông Bùi Công T4, sinh năm 1955 (Là bố đẻ anh Bùi Công T3) - Có mặt.
- - Bà Nguyễn Thị L1, sinh năm 1954 (Là mẹ đẻ anh Bùi Công T3) - Có mặt.
- - Chị Lê Thị V, sinh năm 1982 (Là vợ anh Bùi Công T3) - Có mặt.
- - Chị Bùi Phương T5, sinh năm 2003 (Là con anh Bùi Công T3) - Có mặt.
Cùng tại địa chỉ: Thôn H, xã S, huyện T, tỉnh Thái Bình.
Người được các đại diện hợp pháp của bị hại ủy quyền: Chị Đinh Thị K, sinh năm 1987; địa chỉ: Thôn H, xã S, huyện T, tỉnh Thái Bình. (có mặt)
* Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan:
- - Cháu Bùi Minh Đ, sinh năm 2011 (Vắng mặt)
- - Cháu Bùi Minh P, sinh năm 2019 (Vắng mặt)
Người đại diện hợp pháp của cháu Đ và cháu P: Chị Lê Thị V, sinh năm 1982;
Cùng tại địa chỉ: Thôn H, xã S, huyện T, tỉnh Thái Bình.
* Người làm chứng:
- - Ông Phạm Văn H, sinh năm 1977; (Vắng mặt)
Địa chỉ: Thôn M, xã Q, huyện K, tỉnh Thái Bình.
- - Ông Phạm Văn M, sinh năm 1964 (Vắng mặt)
Địa chỉ: Thôn Đ, xã T, huyện T, tỉnh Thái Bình.
- - Ông Ngô Quang D, sinh năm 1977 (Vắng mặt)
Địa chỉ: Thôn H, xã S, huyện T, tỉnh Thái Bình.
- - Anh Bùi Công H1, sinh năm 1983 (Vắng mặt)
Địa chỉ: Thôn H, xã S, huyện T, tỉnh Thái Bình.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Công trình xây dựng Cống ông S thuộc địa phận thôn N, xã D, huyện T, tỉnh Thái Bình được Ủy ban nhân dân huyện T giao cho Phòng Nông nghiệp và Phát triển nông thôn huyện T là chủ đầu tư theo dự toán đầu tư năm 2023. Cống được thiết kế xây dựng mới, cấp công trình: Công trình nông nghiệp phát triển nông thôn, cấp IV. Ngày 25/10/2023 Phòng Nông nghiệp và Phát triển nông thôn huyện T ký hợp đồng số 09/2023/HĐXD với nhà thầu xây dựng là Công ty cổ phần Đ2 (gọi tắt là Công ty Đ2) để thực hiện gói thầu thi công xây dựng công trình "xây dựng cống ông S, xã D, huyện T, tỉnh Thái Bình".
Sau khi nhận được gói thầu thi công công trình, Giám đốc Công ty Đ2 là ông Phạm Quang T2 ban hành Quyết định số 06/2023/QĐ-XDTC ngày 26/10/2023 phân công Vũ Xuân T - Phó giám đốc, phụ trách an toàn lao động tại công trình; ông Nguyễn Hữu H2 - Chức vụ: Chỉ huy trưởng công trường (kết quả điều tra xác định không có Nguyễn Hữu H2 mà Vũ Xuân T chịu trách nhiệm thực hiện nhiệm vụ của chỉ huy trưởng công trình). Khi thi công công trình, tổ đội thi công của công ty Đ2 trực tiếp thi công phần đan cốt sắt và ván ép, giàn giáo (đường tiếp cận) để đổ bê
tông để móng cống theo sự chỉ đạo của T. Công ty Đ2 có liên hệ với ông Phan Văn H3 để thuê ông Phạm Văn M đưa máy trộn bê-tông đến để thực hiện việc đổ bê tông. Ông M gọi thêm ông Vũ Văn D1, ông Ngô Quang D, bà Nguyễn Thị V1 (vợ ông D), ông Ngô Quang C, anh Bùi Công H1, anh Bùi Công T3 làm cùng. Sáng ngày 24/11/2024, cốt sắt, ván ép và giàn giáo (đường tiếp cận) để đổ bê-tông đã được làm sẵn thì nhóm thợ đến công trường để đổ bê-tông làm đáy móng cống. Trong quá trình đổ bê-tông, ông D, bà V1, ông C làm công việc cào đá, xi măng cho vào máy trộn; ông M, ông D1 và anh T3 dùng xe rùa chở bê-tông từ máy trộn đi trên giàn giáo (đường tiếp cận) để đổ xuống móng cống. Tổ thợ đến công trường lao động đều là lao động tự do, được ông H3 thuê, trả công, không ký hợp đồng lao động với Công ty Đ2. Khi thi công tại công trường, Vũ Xuân T không chỉ đạo thực hiện lắp đặt hệ thống lưới an toàn và lan can chống rơi ngã tại giàn giáo, không tập huấn về an toàn lao động cho nhóm thợ, không trang bị đồ bảo hộ lao động theo quy định, T chỉ quán triệt về kỹ thuật đổ bê-tông và nhắc nhở tổ thợ quá trình là phải cẩn thận đảm bảo an toàn. Quá trình làm việc, khi anh Bùi Công T3 đẩy xe rùa chở bê-tông trên giàn giáo do bê-tông nặng, đi nhanh, không có lan can và lưới chắn giàn giáo nên anh T3 bị trượt ngã xuống hố móng, bị thanh sắt chờ đâm vào khu vực gần hậu môn xuyên lên người. Hậu quả, anh T3 bị thương được đưa đi cấp cứu tại Bệnh viện Đa khoa tỉnh T đến khoảng 14 giờ 18 phút cùng ngày thì tử vong tại gia đình.
Bản kết luận giám định pháp y về tử thi số 1722/KLGĐ-KTHS ngày 05/12/2023 của Phòng K1 Công an tỉnh T kết luận: “Nguyên nhân chết Bùi Công T3: Mất máu cấp do rách thủng màng treo ruột non và rách thủng thùy gan phải".
Trong quá trình điều tra, bị cáo Vũ Xuân T đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình như trên. Quá trình điều tra, truy tố, bị cáo, người đại diện hợp pháp của bị hại không có ý kiến khiếu nại gì về kết luận giám định nêu trên.
Bản cáo trạng số 157/CT-VKSTT ngày 22/10/2024, Viện kiểm sát nhân dân huyện Thái Thụy đã truy tố bị cáo Vũ Xuân T về tội “Vi phạm quy định về an toàn lao động” theo khoản 1 Điều 295 Bộ luật Hình sự.
Tại phiên tòa, bị cáo khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình đúng như Cáo trạng đã truy tố.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Thái Thụy vẫn giữ nguyên quyết định truy tố đối với bị cáo và đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố:
Về tội danh: Bị cáo Vũ Xuân T phạm tội “Vi phạm quy định về an toàn lao động”.
Về hình phạt: Áp dụng khoản 1 Điều 295; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 35, Điều 50 Bộ luật Hình sự đề nghị xử phạt bị cáo Vũ Xuân T từ 60 đến 80 triệu đồng.
Về trách nhiệm dân sự: Ghi nhận sự thỏa thuận bồi thường thiệt hại giữa bị cáo và người đại diện hợp pháp của bị hại.
Đối với Công ty Đ2, tại Quyết định số 06/2023/QĐ-XDTC ngày 26/10/2023 của Giám đốc Công ty Đ2 về việc thành lập Ban điều hành "Công trình: Xây dựng cống ông S xã Dương Hồng T6" có phân công ông Nguyễn Hữu H2 là Chỉ huy trưởng Công trình xây dựng. Quá trình điều tra xác định nhân sự tại Công ty Đ2 không có người nào tên Nguyễn Hữu H2. Tại công trình xây dựng cống ông S cũng không có người nào tên Nguyễn Hữu H2 là Chỉ huy trưởng Công trình xây dựng như trong Quyết định đã nêu. Căn cứ tài liệu điều tra xác định Công ty Đ2 đã thực hiện không đúng nội dung trong hồ sơ dự thầu, vi phạm vào khoản 1 Điều 25 Nghị định số 16/2022/NĐ-CP ngày 28/01/2022 của Chính phủ quy định về xử phạt vi phạm hành chính về xây dựng. Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện T chuyển hồ sơ, tài liệu có liên quan đến Công an huyện T báo cáo trình Chủ tịch UBND huyện ra Quyết định xử phạt vì phạm hành chính đối với Công ty Đ2 theo quy định pháp luật.
Đối với ông Phan Văn H3 được Công ty Đ2 thuê thực hiện công đoạn đổ bê - tông xuống đáy cống, giữa ông và công ty không có hợp đồng lao động bằng văn bản, chỉ trao đổi thỏa thuận miệng. Việc thực hiện lắp đặt giàn giáo là do Công ty Đ2 thực hiện, Công ty chỉ thỏa thuận với ông H3 chịu trách nhiệm về việc thực hiện công việc đảm bảo đúng tiến độ, chất lượng theo hồ sơ thiết kế không thỏa thuận về việc đặt ra trách nhiệm về an toàn lao động, an toàn ký thuật tại công trường. Ông H3 có thuê lại ông Phạm Văn M gọi người đến đổ bê-tông nên Cơ quan Cảnh sát điều tra không xử lý đối với ông H3, ông M là đúng quy định
Bị cáo, đại diện hợp pháp của bị hại và người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan không tranh luận.
Bị cáo nói lời sau cùng đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt và cho bị cáo được hưởng mức án thấp nhất.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của các Cơ quan tố tụng, của người tiến hành tố tụng trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật tố tụng Hình sự. Quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa bị cáo, người đại diện hợp pháp của bị hại không có ý kiến đề nghị, khiếu nại gì. Do vậy các hành vi, quyết định tố tụng của các Cơ quan tiến hành tố tụng và những người tiến hành tố tụng là hợp pháp.
[2] Tại phiên tòa, bị cáo đã thừa nhận hành vi: Khoảng 10 giờ 00 phút, ngày 24/11/2023, tại công trường thi công công trình Cống ông S, thuộc địa phận thôn N, xã D, huyện T, tỉnh Thái Bình, Vũ Xuân T là Phó giám đốc, phụ trách an toàn lao động tại công trình đã vi phạm các quy định về an toàn lao động, không chỉ đạo thực hiện lắp đặt hệ thống lưới an toàn và lan can chống rơi ngã tại giàn giáo, không tập huấn về an toàn lao động cho nhóm thợ, không trang bị đồ bảo hộ lao động theo quy định dẫn đến khi anh Bùi Công T3 đẩy xe rùa chở bê-tông trên giàn giáo bị trượt ngã xuống hố móng, bị thanh sắt chờ đâm vào khu vực gần hậu môn xuyên lên người. Hậu quả, anh T3 bị thương được đưa đi cấp cứu tại Bệnh viện Đa khoa tỉnh T đến khoảng 14 giờ 18 phút cùng ngày thì tử vong tại gia đình. Lời khai của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai của bị cáo trong quá trình điều tra, phù hợp với các tài liệu, chứng cứ như Biên bản khám nghiệm hiện trường, sơ đồ hiện trường, bản ảnh hiện trường do Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện T lập ngày 24/11/2023, xác định các dấu vết chủ yếu sau: Kích thước thân cống (6,45 x 2,4) m. Phần công trình đang xây dựng có hướng Đông - Tây, nền cống được đổ bê-tông, tình trạng mới, tương đối cứng, thấp hơn mặt đất, nhà ở, lối đi trung bình 1,6m. Cửa phía Đông cửa cống có sàn cống đổ bê-tông đo (3,3 x 2,5)m. Tiếp giáp với sàn cống này về phía Đ1 là bờ đất làm lối đi, đất thoải, gồ ghề. Thân cống rộng 1,9m, hai bên là rãnh nước rộng trung bình 0,4m. Từ hai bên thân cống đến hai cạnh sân cống phía Đông được đan các thanh sắt Ø16, thấp dần từ thân cống đến sân cống, cao nhất 1,9m, thấp nhất 0,46m, đầu trên của các thanh sắt có vết cắt mới, tương đối gọn. Tại vị trí cạnh phía Nam của sàn cống, cách đầu thân cống 1,88m, cách lối đi công trình phía Đông 04m có 01 đoạn sắt Ø16, đan từ mặt bê-tông lên thẳng đứng, cao 0,68m, đầu trên của thanh sắt có dấu vết cong biến dạng nhẹ, hướng Đ - T, hàn cắt mới, bám chất màu nâu đỏ, đánh số (1) trong sơ đồ hiện trường. Kế hoạch tổng hợp về an toàn lao động ; Nhật ký an toàn lao động và vệ sinh môi trường. Biên bản ghi lời khai của người đại diện bị hại (được những người đại diện hợp pháp của bị hại ủy quyền) là bà Đinh Thị Kiều . Biên bản ghi lời khai của người làm chứng: ông Phan Văn H3, ông Phạm Văn M, ông Ngô Quang D, ông Bùi Công H1 và các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án.
Hành vi nêu trên của Vũ Xuân T đã vi phạm vào khoản 5 Điều 3, Điều 132, khoản 1, 2 Điều 134 Bộ luật lao động năm 2019; khoản 2 Điều 5 Luật an toàn vệ sinh lao động năm 2015; khoản 2.7.1.4 tiểu mục 2.7.1 mục 2.7; khoản 2.11.3.5 tiểu mục 2.11.3 mục 2.11; khoản 2.19.1.1 tiểu mục 2.19.1 mục 2.19 Quy chuẩn kỹ thuật quốc gia về an toàn trong thi công xây dựng số 18:2021/BXD ban hành kèm theo Thông tư số 16/2021/TT - BXD ngày 20/12/2021 của Bộ trưởng Bộ X gây hậu quả làm chết 01 người. Hành vi đó đã cấu thành tội phạm "Vi phạm quy định về an toàn lao động" quy định tại điểm a khoản 1 Điều 295 Bộ luật Hình sự.
Bộ luật lao động quy định:
“Điều 3. Giải thích từ ngữ
5. Quan hệ lao động là quan hệ xã hội phát sinh trong việc thuê mướn, sử dụng lao động, trả lương giữa người lao động, người sử dụng lao động, các tổ chức đại diện của các bên, cơ quan nhà nước có thẩm quyền. Quan hệ lao động bao gồm quan hệ lao động cá nhân và quan hệ lao động tập thể.”
“Điều 132. Tuân thủ pháp luật về an toàn, vệ sinh lao động
Người sử dụng lao động, người lao động và cơ quan, tổ chức, cá nhân có liên quan đến lao động, sản xuất, kinh doanh phải thực hiện quy định của pháp luật về an toàn, vệ sinh lao động.”
“Điều 134. Bảo đảm an toàn, vệ sinh lao động tại nơi làm việc
1. Người sử dụng lao động có trách nhiệm thực hiện đầy đủ các giải pháp nhằm bảo đảm an toàn, vệ sinh lao động tại nơi làm việc.
2. Người lao động có trách nhiệm chấp hành quy định, nội quy, quy trình, yêu cầu về an toàn, vệ sinh lao động; tuân thủ pháp luật và nắm vững kiến thức, kỹ năng về các biện pháp bảo đảm an toàn, vệ sinh lao động tại nơi làm việc.”
Luật an toàn vệ sinh lao động quy định:
“Điều 5. Nguyên tắc bảo đảm an toàn, vệ sinh lao động
1. ...
2. Tuân thủ đầy đủ các biện pháp an toàn, vệ sinh lao động trong quá trình lao động; ưu tiên các biện pháp phòng ngừa, loại trừ, kiểm soát các yếu tố nguy hiểm, yếu tố có hại trong quá trình lao động.”
Quy chuẩn kỹ thuật quốc gia về an toàn trong thi công xây dựng số 18:2021/BXD ban hành kèm theo Thông tư số 16/2021/TT - BXD ngày 20/12/2021 của Bộ trưởng Bộ X quy định:
“2.7.1.4 Trong trường hợp không thể lắp đặt được lan can an toàn, người lao động khi làm việc trên cao (kê cả ở độ cao dưới 2,0 m nhưng vẫn có nguy cơ tai nạn nêu không có biện pháp bảo vệ) phải được bảo vệ đây đủ băng lưới an toàn, tâm (sàn) đỡ an toàn hoặc phải có sàn công tác hoặc phải sử dụng dây an toàn cùng với dây cứu sinh được treo (buộc) chắc chắn.”
“2.11.3.5 Trong quá trình đổ bê tông, phải thường xuyên kiểm tra KCCĐT (xem 2.3.6) để phát hiện kịp thời các nguy cơ gây mất an toàn (như nguy cơ sụp đổ các hệ chồng, bục ván khuôn và các nguy cơ khác).”
“2.19.1.1 Ở những nơi làm việc có các yêu tố có hại hoặc yêu tố nguy hiểm hoặc làm việc trong các điều kiện bất lợi, người sử dụng lao động phải trang bị đây đủ cho người lao động các PTBVCN bao gồm quần, áo, giày ủng, mũ, găng tay và các loại dụng cụ, phương tiện cần thiết khác phù hợp với loại hình công việc, loại rủi ro theo quy định của pháp luật về ATVSLĐ và hướng dẫn của các cơ quan có thẩm quyền”.
Điều 295. Tội Vi phạm quy định về an toàn lao động
“1. Người nào vi phạm quy định về an toàn lao động, vệ sinh lao động, về an toàn ở nơi đông người gây thiệt hại cho người khác thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tiền từ 20.000.000 đồng đến 100.000.000 đồng, phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 01 năm đến 05 năm:
a) Làm chết người;
...
5. Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 10.000.000 đồng đến 50.000.000 đồng, cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ 01 năm đến 05 năm.
[3] Về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Bị cáo không phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự quy định tại Điều 52 Bộ luật hình sự. Trong quá trình điều tra, truy tố bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; đã tự nguyện bồi thường thiệt hại cho gia đình bị hại; ông bà nội bị cáo được Nhà nước tặng thưởng huân chương kháng chiến hạng nhì nên bị cáo được hưởng các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự.
[4] Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm sự an toàn của hoạt động lao động trên địa bàn huyện nói chung. Do đó cần phải quyết định 01 hình phạt tương xứng với tính chất, mức độ hành vi bị cáo gây ra. Tuy nhiên, cần xem xét giảm nhẹ một phần hình phạt cho bị cáo vì bị cáo có nhân thân tốt, phạm tội với lỗi vô ý, có nhiều tình tiết giảm nhẹ. Mặt khác, bị cáo có nơi cư trú rõ ràng, có công việc ổn định có khả năng tự cải tạo bản thân nên cần áp dụng Điều 35 Bộ luật Hình sự cho bị cáo được hưởng mức án phạt tiền cũng đủ sức răn đe và phòng ngừa chung. Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.
[5] Về trách nhiệm dân sự: Quá trình điều tra, bị cáo Vũ Xuân T và công ty Đ2 đã tự nguyện bồi thường cho gia đình bị hại, số tiền 50.000.000 đồng (gồm tiền mai táng phí, tiền bồi thường tổn thất tinh thần, tiền cấp dưỡng nuôi con chưa thành nien và các khoản chi phí khác). Đại diện hợp pháp của bị hại và người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan không yêu cầu bị cáo phải bồi thường gì thêm nên cần ghi nhận việc bồi thường thiệt hại giữa bị cáo và gia đình bị hại.
[6] Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự theo quy định của pháp luật. Bị cáo, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan và đại diện hợp pháp của bị hại đã thỏa thuận bồi thường xong phần dân sự trong quá trình điều tra nên bị cáo không phải chịu án phí dân sự sơ thẩm.
[7] Về quyền kháng cáo: Bị cáo, người đại diện hợp pháp của bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
1. Tuyên bố: Bị cáo Vũ Xuân T phạm tội “Vi phạm quy định về an toàn lao động”.
2. Về hình phạt: Áp dụng khoản 1 Điều 295; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 35, Điều 50 Bộ luật Hình sự: Xử phạt bị cáo Vũ Xuân T 80 triệu đồng (Tám mươi triệu đồng). Không áp dụng hình phạt bổ sung.
3. Về trách nhiệm dân sự: Căn cứ khoản 1 Điều 48 Bộ luật Hình sự; Điều 584, 585, 586, 591 Bộ luật Dân sự ghi nhận sự thỏa thuận bồi thường thiệt hại giữa bị cáo, công ty Đ2 và người đại diện gia đình bị hại. Bị cáo và công ty Đ2 đã bồi thường thiệt hại cho gia đình bị hại số tiền 50.000.000 đồng (Đã bồi thường xong).
4. Về án phí: Căn cứ khoản 2 Điều 136, Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 về án phí và lệ phí Tòa án, bị cáo Vũ Xuân T phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.
5. Về quyền kháng cáo: Bị cáo, đại diện hợp pháp của bị hại, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm ngày 04/12/2024. Công ty Đ2 có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết hợp lệ.
Nơi nhận:
- - Bị cáo;
- - Đại diện hợp pháp bị hại;
- - Bị đơn dân sự.
- - Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan;
- - VKSND h.Thái Thụy và tỉnh Thái Bình;
- - Cơ quan điều tra, Cơ quan THAHS huyện TT;
- - Chi cục THADS huyện Thái Thụy;
- - TAND tỉnh Thái Bình;
- - Lưu: Hồ sơ vụ án, HCTP.
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Văn Vương |
Bản án số 170/2024/HS-ST ngày 04/12/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THÁI THỤY, TỈNH THÁI BÌNH về vi phạm quy định về an toàn lao động
- Số bản án: 170/2024/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Vi phạm quy định về an toàn lao động
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 04/12/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THÁI THỤY, TỈNH THÁI BÌNH
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Vũ Xuân Tình vi phạm quy định về an toàn lao động
