|
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN LÂM HÀ TỈNH LÂM ĐỒNG ******** |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc ******** |
|
Bản án số: 170/2024/HS - ST Ngày: 26/11/2024 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN LÂM HÀ, TỈNH LÂM ĐỒNG
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
- Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Phạm Thị Thúy
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Phạm Ngọc Diện
Bà Thạch Thị Lan Nhung
- Thư ký phiên toà: bà Nguyễn Thị Phương – là Thư ký Toà án nhân dân huyện Lâm Hà.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Lâm Hà tham gia phiên tòa: ông Hồ Văn Trường - Kiểm sát viên.
Ngày 26 tháng 11 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Lâm Hà, tỉnh Lâm Đồng, Tòa án nhân dân huyện Lâm Hà, tỉnh Lâm Đồng xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 169/2024/TLST-HS ngày 05 tháng 11 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 169/2024/QĐXXST-HS ngày 11 tháng 11 năm 2024 đối với bị cáo:
Thái Bá D, sinh năm 1967, tại: Hà Tĩnh; Nơi ĐKNKTT: thôn N, xã L, huyện Đ, tỉnh Hà Tĩnh; nơi cư trú: thôn T, xã T, huyện L, tỉnh Lâm Đồng; nghề nghiệp: không; trình độ văn hoá: 7/12; dân tộc: Kinh; giới tính: nam; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Thái Bá N (đã chết) và bà Nguyễn Thị T; vợ Nguyễn Thị L; con có 02 người con, lớn nhất sinh năm 1990, nhỏ nhất sinh năm 1992; tiền án: Ngày 28/7/2011, bị Tòa án nhân dân huyện Lâm Hà, tỉnh Lâm Đồng xử phạt 06 tháng tù về tội trộm cắp tài sản. Ngày 11/11/2015, bị Tòa án nhân dân huyện Lâm Hà, tỉnh Lâm Đồng xử phạt 01 năm 09 tháng tù về tội trộm cắp tài sản. Ngày 09/8/2018, bị Tòa án nhân dân huyện Lâm Hà, tỉnh Lâm Đồng xử phạt 24 tháng tù về tội trộm cắp tài sản. Ngày 15/3/2021, bị Tòa án nhân dân huyện Lâm Hà, tỉnh Lâm Đồng xử phạt 02 năm 06 tháng tù về tội trộm cắp tài sản. Tiền sự: Không; Nhân thân: Ngày 01/9/1998, bị Tòa án nhân dân huyện Lâm Hà, tỉnh Lâm Đồng xử phạt 36 tháng tù về tội Cố ý gây thương tích; bị bắt tạm giữ, tạm giam từ ngày 23/5/2024 đến nay; Bị cáo có mặt tại phiên tòa;
Bị hại: Anh Trần Văn T1, sinh năm 1993
Địa chỉ: thôn T, xã T, huyện L, tỉnh Lâm Đồng. Có mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Vào khoảng 13 giờ 00 phút ngày 23/5/2024, Thái Bá D một mình điều khiển xe mô tô, nhãn hiệu Dream, màu nâu đỏ, không có biển số đến khu vực vườn của anh Trần Văn T1, sinh năm: 1993 thuộc thôn T, xã T, huyện L. Khi đến nơi, D quan sát thấy vườn bơ của nhà anh T1 không có ai trông coi nên đã nảy sinh ý định trộm cắp bơ bán lấy tiền tiêu xài cá nhân. Sau đó, D để xe mô tô ở khu vực đường đất nằm trong vườn nhà anh T1. D lấy 02 bao tải màu đỏ đã chuẩn bị trước đó rồi đi đến các cây bơ trong vườn ông T1 và lấy trộm được 53 kg bơ, loại bơ 034 bỏ vào 02 bao tải. Sau khi D đưa các bao tải đựng bơ đã trộm được lên xe mô tô thì bị lực lượng Công an phát hiện, bắt quả tang và đưa về trụ sở để làm việc. Tại Cơ quan Công an, Thái Bá D đã thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình.
Vật chứng thu giữ: 2 bao tải màu bên trong chứa 53 kg bơ, loại bơ 034, màu xanh. 01 xe mô tô, nhãn hiệu Dream, màu nâu đỏ, không có biển số đa qua sử dụng, không kiểm tra chất lượng bên trong.
Tại bản kết luận định giá số: 50/KLĐG ngày 28/5/2024 của Hội đồng định giá trong tố tụng hình sự huyện L kết luận 53kg bơ loại 034 có giá trị là 530.000 đồng.
Tại bản cáo trạng số 148/CT-VKS ngày 30/8/2024 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Lâm Hà, tỉnh Lâm Đồng đã truy tố ra trước Tòa án nhân dân huyện Lâm Hà để xét xử bị can Thái Bá D về tội: “Trộm cắp tài sản” quy định tại điểm b khoản 1 Điều 173 của Bộ luật Hình sự.
Trong phần tranh luận, đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Lâm Hà giữ nguyên quyết định truy tố bị cáo Thái Bá D về tội: “Trộm cắp tài sản”; đồng thời đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm b khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38 Bộ luật Hình sự xử phạt bị cáo Thái Bá D từ 09 tháng tù đến 12 tháng tù.
Về án phí đề nghị buộc bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định.
Bị cáo xác định quá trình điều tra bị cáo không bị ép cung, dùng nhục hình và lời khai của bị cáo tại cơ quan điều tra là đúng với diễn biến sự việc xảy ra. Bị cáo đồng ý với cáo trạng truy tố và không có ý kiến thắc mắc, khiếu nại gì.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra công an huyện L, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện L, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự thủ tục theo quy định của Bộ luật tố tụng Hình sự. Quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa bị cáo, bị hại không có ý kiến gì và không khiếu nại về hành vi, quyết định tố tụng của các cơ quan tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của các cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
[2] Về hành vi phạm tội của bị cáo và tình tiết định khung hình phạt:
Tại phiên tòa, bị cáo khai nhận vào ngày 23/5/2024, tại vườn của anh Trần Văn T1, thuộc thôn T, xã T, huyện L, bị cáo Thái Bá D đang có tiền án về tội trộm cắp tài sản và chưa được xóa án tích, đã có hành vi lén lút chiếm đoạt 53kg bơ, loại bơ 034 có giá trị 530.000đồng của anh Trần Văn T1.
Lời khai nhận tội của bị cáo về hành vi bị cáo đã thực hiện phù hợp với lời khai của người bị hại và những tài liệu chứng cứ khác được phản ánh trong hồ sơ vụ án. Như vậy, đã có đủ cơ sở để Hội đồng xét xử kết luận bị cáo Thái Bá D phạm tội: “Trộm cắp tài sản” tội phạm và hình phạt được quy định tại điểm b khoản 1 Điều 173 của Bộ luật Hình sự theo cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân huyện Lâm Hà đã truy tố là có căn cứ, đúng người, đúng tội và đúng pháp luật.
[3] Xét thấy, bị cáo Thái Bá D là người có đầy đủ nhận thức, bị cáo biết lợi dụng lúc chủ sở hữu sơ hở, không có sự cảnh giác để lén lút trộm cắp tài sản của người khác là trái bơ là tài sản có giá trị dễ tiêu thụ, nhằm mục đích bán để lấy tiền tiêu xài cá nhân là hành vi vi phạm pháp luật, xâm phạm đến quyền sở hữu về tài sản của người khác được pháp luật bảo vệ nhưng bị cáo vẫn cố ý thực hiện, gây nên sự nghi ngờ mất đoàn kết trong quần chúng nhân dân, đồng thời tác động xấu đến tình hình an ninh trật tự tại địa phương. Vì vậy, bị cáo phải chịu trách nhiệm hình sự tương ứng với hành vi mà bị cáo đã thực hiện.
[4] Về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với bị cáo: xét thấy bị cáo có nhân thân không tốt đã 4 lần bị Tòa án nhân dân huyện Lâm Hà, tỉnh Lâm Đồng xử phạt tù về tội trộm cắp tài sản, bị cáo đã chấp hành xong hình phạt tù lần cuối vào ngày 22/3/2023 chưa được xóa án tích lại tiếp tục thực hiện hành vi phạm tội với cùng tính chất nên bị cáo phạm tội lần này thuộc trường hợp áp dụng tình tiết định khung hình phạt theo quy định tại điểm b khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự. Ngoài ra, sau khi phạm tội bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; tài sản đã được thu hồi trả lại cho bị hại và bị hại có đơn xin bãi nại giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo nên được áp dụng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự.
[5] Căn cứ vào tính chất, mức độ, hành vi phạm tội cũng như nhân thân của bị cáo, Hội đồng xét xử xét thấy bị cáo có đầy đủ năng lực trách nhiệm hình sự, thực hiện hành vi phạm tội với lỗi cố ý, liên tiếp thực hiện hành vi phạm tội, có thái độ coi thường pháp luật. Do đó quan điểm luận tội của đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Lâm Hà, tỉnh Lâm Đồng tại phiên tòa là có cơ sở nên cần chấp nhận nên cần phải cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian để bị cáo có cơ hội cải tạo, rèn luyện trở thành người công dân tốt, sống biết tuân thủ pháp luật.
[6] Về hình phạt bổ sung: Theo quy định tại khoản 5 Điều 173 của Bộ luật Hình sự thì ngoài hình phạt chính ra, bị cáo còn có thể bị phạt tiền. Xét thấy, bị cáo đều không có công việc thu nhập ổn định nên Hội đồng xét xử xét thấy không cần thiết phải áp dụng hình phạt bổ sung là hình phạt tiền đối với bị cáo.
[7] Về trách nhiệm dân sự và xử lý vật chứng: sau khi sự việc xảy ra, bị hại anh Trần Văn T1 đã nhận được tài sản bị trộm cắp và không có yêu cầu gì nên Hội đồng xét xử không xem xét.
Đối với xe mô tô nhãn hiệu Dream, màu nâu đỏ không có biển số, chưa xác định nguồn gốc chủ sở hữu nên Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện L đang tiếp tục xác minh để xử lý sau. Vì vậy Hội đồng xét xử không xem xét.
[8] Về án phí: Buộc bị cáo phải nộp án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
-
Tuyên bố bị cáo Thái Bá D phạm tội: “Trộm cắp tài sản”
Áp dụng điểm b khoản 1 Điều 173; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 38 của Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017.
Xử phạt: bị cáo Thái Bá D 09 (chín) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày 23/5/2024.
-
Về xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 47 của Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017 và Điều 106 của Bộ luật Tố tụng Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017.
Giao cho Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện L, tỉnh Lâm Đồng tiếp tục điều tra làm rõ và xử lý theo quy định của pháp luật đối với mô tô nhãn hiệu Dream, màu nâu đỏ không có biển số.
-
Về án phí: Áp dụng khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng Hình sự năm 2015; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu nộp và quản lý án phí, lệ phí Tòa án, buộc bị cáo Thái Bá D phải nộp 200.000đồng án phí hình sự sơ thẩm.
Bị cáo, bị hại có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 (mười lăm) ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm (26/11/2024) để yêu cầu Toà án nhân dân tỉnh Lâm Đồng xét xử phúc thẩm.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Phạm Thị Thúy |
Bản án số 170/2024/HS - ST ngày 26/11/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN LÂM HÀ, TỈNH LÂM ĐỒNG về trộm cắp tài sản
- Số bản án: 170/2024/HS - ST
- Quan hệ pháp luật: Trộm cắp tài sản
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 26/11/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN LÂM HÀ, TỈNH LÂM ĐỒNG
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Thái Bá D phạm tội trộm cắp tài sản
