Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

THÀNH PHỐ LONG XUYÊN

TỈNH AN GIANG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 170/2024/HS-ST

Ngày 12 tháng 11 năm 2024

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ LONG XUYÊN, TỈNH AN GIANG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Đức Anh

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Lý Tuấn Phong; bà Nguyễn Thị Tuyết Hồng.

- Thư ký phiên tòa: Bà Trần Phan Ý Vy - Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Long Xuyên, tỉnh An Giang.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Long Xuyên, tỉnh An Giang tham gia phiên tòa: Bà Dương Thị Xuân Thọ - Kiểm sát viên.

Ngày 12 tháng 11 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Long Xuyên, tỉnh An Giang, Tòa án nhân dân thành phố Long Xuyên, tỉnh A xét xử sơ thẩm công khai vụ án Hình sự thụ lý số 142/2024/TLST-HS ngày 27 tháng 8 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 149/2024/QĐXXST-HS, ngày 04 tháng 9 năm 2024 và Thông báo mở lại phiên tòa số 1208/2024/TB-TA ngày 14/10/2024 đối với bị cáo:

Ngô Hoàng S, ngày 27 tháng 02 năm 1986 tại thành phố L, tỉnh An Giang. Nơi cư trú: Lô A, khóm H, phường M, thành phố L, tỉnh An Giang; nghề nghiệp: làm thuê; trình độ học vấn: 01/12; dân tộc: kinh; giới tính: nam; tôn giáo: đạo phật; quốc tịch: Việt Nam; con ông: Ngô Văn Đ (đã chết) và bà Nguyễn Thị H, sinh năm 1955; bị cáo chưa có vợ con; có 03 anh em, bị cáo thứ nhất;

Quá trình nhân thân: Ngày 18 tháng 5 năm 2012, bị Tòa án nhân dân tỉnh Trà Vinh xử phạt 02 năm 6 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”, đến ngày 20 tháng 01 năm 2014 chấp hành xong bản án. Ngày 28 tháng 01 năm 2015, bị Tòa án nhân dân thành phố Rạch Giá, tỉnh Kiên Giang xử phạt 01 năm 06 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”, đến ngày 23 tháng 02 năm 2016 chấp hành xong bản án. Ngày 10 tháng 7 năm 2024, bị Tòa án nhân dân thành phố Bạc Liêu, tỉnh Bạc Liêu xử phạt 06 năm tù về tội “Cướp giật tài sản”; Ngày 18 tháng 3 năm 2024, bị Công an thành phố B, tỉnh Bạc Liêu xử phạt 1.500.000 đồng về hành vi “Sử dụng trái phép chất ma túy”,

chưa đóng phạt; Bị cáo không có tiền án, tiền sự và đang chấp hành án tại Trại giam B – Cục C Bộ C1. Bị cáo có mặt tại phiên tòa.

- Bị hại: Trần Văn T, sinh năm 1984

Địa chỉ: Ấp B, xã T, huyện T, tỉnh Kiên Giang. (có mặt)

- Người làm chứng:

  1. Nguyễn Tấn T1, sinh năm 1992
  2. Nguyễn Văn H1, sinh năm 1970

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Ngô Hoàng S có mâu thuẫn giành khách chạy xe mô tô thuê với anh Trần Văn T, nên khoảng 14 giờ 30 phút, ngày 22 tháng 8 năm 2023, S điều khiển xe mô tô không rõ biển số chở anh Nguyễn Tấn T1 đến khu vực gần Khoa Cấp cứu của Bệnh viện Đ1, thuộc khóm Đ, phường M, thành phố L, tỉnh An Giang gặp T để nói chuyện, thì T1, S và T cự cãi, nên T1 điện thoại cho anh Nguyễn Văn H1 (cha của T1) nói bị T đe dọa đánh. Sau đó, anh T lấy cây búa trong cốp xe ra đe doạ đánh anh T1, S. Lúc này, anh H1 điều khiển xe mô tô đến cổng Trường đại học A thấy 01 cây sắt dài khoảng 60cm nên dừng xe nhặt cây sắt rồi điều khiển xe đến chỗ T1. Tại đây, thấy S, anh T1 cự cãi anh T, thì anh H1 cầm cây sắt đến nói với anh T “giỏi đánh con tao coi, thằng nhỏ làm gì ăn hiếp thằng nhỏ", anh T trả lời “một hồi tới ông luôn đó”, thì anh T1 giật cây sắt trên tay anh H1 quơ về phía anh T, thì được S và người dân can ngăn ra. Lúc này, anh T1, anh H1 đi ra lề đường đứng. Anh T tiếp tục thách thức, nên S tức giận lấy trong cốp xe 01 cây dao Thái Lan có bao, dài khoảng 25cm đến chém trúng vào tay trái của anh T gây thương tích. Sau đó, anh T đi bộ vào Bệnh viện Đ1 cấp cứu, đến ngày 24 tháng 8 năm 2023 ra viện. Còn S trên đường đi về, đã ném cây dao xuống sông khu vực cầu D, phường M, thành phố L.

Ngày 28 tháng 8 năm 2023, anh Trần Văn T có đơn yêu cầu xử lý hình sự đối với hành vi gây thương tích của Ngô Hoàng S, yêu cầu bồi thường 7.000.000 đồng.

* Kết luận giám định pháp y về thương tích số 195/24/KLTTCT-TTPY ngày 20/3/2024 của Trung tâm Pháp y tỉnh A đối với Trần Văn T, sinh năm 1984 xác định:

Dấu hiệu chính qua giám định: Sẹo mặt trước 1/3 dưới cánh tay trái, hình vòng cung, kích thước (14 x 0.8) cm, gây đứt bán phần cơ nhị đầu cánh tay trái đã phẫu thuật khâu cơ, hiện tại không hạn chế vận động cánh tay trái.

Kết luận: Tỷ lệ phần trăm tổn thương cơ thể do thương tích gây nên hiện tại là 03% (ba phần trăm) thương tích do vật sắc gây nên.

Tại bản Cáo trạng số 149/CT-VKS, ngày 22 tháng 8 năm 2024 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Long Xuyên, truy tố Ngô Hoàng S về tội “Cố ý gây thương tích” theo điểm a; i khoản 1 Điều 134 của Bộ luật Hình sự năm 2015.

Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Long Xuyên vẫn giữ nguyên Cáo trạng truy tố, đề nghị:

Về trách nhiệm hình sự: Áp dụng điểm a, i khoản 1, Điều 134; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38 Bộ luật hình sự năm 2015 xử phạt bị cáo Ngô Hoàng S 09 tháng đến 01 năm tù.

Áp dụng Điều 56 Bộ luật hình sự, tổng hợp hình phạt 06 năm tù của bản án số 62 ngày 10/7/2024 của Tòa án nhân dân thành phố Bạc Liêu, tỉnh Bạc Liêu đối với Ngô Hoàng S về tội “Cướp giật tài sản”, buộc bị cáo chấp hành hình phạt chung của 02 bản án.

Đề nghị không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.

* Về trách nhiệm dân sự: Chấp nhận thỏa thuận giữa bị cáo và bị hại, áp dụng Điều 48 BLHS, Điều 584, 585, 586, 589 BLDS buộc bị cáo S bồi thường số tiền 32.000.000 đồng.

Bị hại vẫn giữ yêu cầu khởi tố đối với bị cáo Ngô Hoàng S và yêu cầu S phải bồi thường số tiền 32.000.000đ.

Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo thừa nhận đã thực hiện hành vi dùng dao gây thương tích cho Trần Văn T như nội dung Cáo trạng truy tố. Đối với phần luận tội của đại diện Viện kiểm sát về tội danh, khung hình phạt bị cáo thống nhất và đồng ý bồi thường theo yêu cầu của bị hại.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, nhận định như sau:

[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra; Viện kiểm sát; Điều tra viên và Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015.

[2] Về thủ tục tố tụng: Tại phiên tòa người làm chứng vắng mặt. Xét thấy, trong quá trình điều tra người làm chứng đã cung cấp lời khai phù hợp với nội dung, diễn biến sự việc ngày xảy ra vụ án, nên việc vắng mặt những người này tại phiên tòa không ảnh hưởng đến việc xét xử. Do đó, căn cứ Điều 293 Bộ luật Tố tụng hình sự 2015, Hội đồng xét xử vẫn tiến hành xét xử vụ án.

[3] Về trách nhiệm hình sự: Tại phiên tòa, bị cáo đã khai nhận hành vi phạm tội như nội dung Cáo trạng mà đại diện Viện kiểm sát đã công bố. Lời khai của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với diễn biến sự việc, thương tích cũng như lời khai của bị hại, những người làm chứng và các tài liệu chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án.

Như vậy đã có đủ căn cứ xác định vào ngày 22 tháng 8 năm 2023 bị cáo đã có hành vi dùng dao gây thương tích cho Trần Văn T với tỷ lệ thương tật là 3%.

Hành vi của bị cáo S đã phạm tội “Cố ý gây thương tích” theo điểm a; i khoản 1 Điều 134 Bộ luật hình sự năm 2015, đã được sửa đổi bổ sung năm 2017.

[4] Về tính của vụ án thì thấy: Bị cáo là người đã trưởng thành, đủ năng lực chịu trách nhiệm hình sự và có khả năng nhận thức được hành vi của mình xâm phạm đến sức khỏe của người khác là vi phạm pháp luật, nhưng bị cáo vẫn bất chấp pháp luật, hậu quả xảy ra và cố ý thực hiện. Bị cáo có nhân thân xấu đã bị Tòa án xử phạt và phải chấp hành nhiều bản án, lẽ ra trong thời gian chấp hành án được giáo dục, cải tạo bị cáo phải thấy được việc làm của mình là sai trái mà cố gắng trở thành công dân tốt có ích cho gia đình và xã hội. Ngược lại chỉ vì những mâu thuẫn nhỏ nhặt trong cuộc sống đời thường, bị cáo lại chọn cách sử dụng bạo lực để giải quyết mâu thuẫn, chỉ vì tức giận trong lúc cự cãi với T, bị cáo đã dùng con dao chém vào tay trái của T gây thương tích với tỉ lệ thương tích là 03%. Điều này cho thấy ý thức xem thường pháp luật của bị cáo. Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm trực tiếp đến sức khỏe của người bị hại một cách trái pháp luật, gây mất an ninh trật tự tại địa phương. Do đó, cần có một mức án nghiêm tương xứng với hành vi phạm tội của bị cáo mới có tác dụng giáo dục, cải tạo răn đe và phòng ngừa chung.

[5] Về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:

  • + Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ là người phạm tội thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự. Do đó, Hội đồng xét xử có xem xét cho bị cáo khi quyết định hình phạt.
  • + Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo không có tình tiết tăng nặng.

[6] Về trách nhiệm dân sự: Bị cáo đã xâm phạm đến sức khỏe của người bị hại thì bị cáo có trách nhiệm bồi thường. Tại phiên tòa, bị hại yêu cầu bị cáo bồi thường 32.000.000đ, bị cáo đồng ý. Xét thấy, đây là sự tự nguyện của các bên và phù hợp với quy định của pháp luật nên Hội đồng xét xử chấp nhận.

[7] Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí Hình sự và dân sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH

Tuyên bố: Bị cáo Ngô Hoàng S phạm tội “Cố ý gây thương tích”.

Căn cứ vào: Điểm a; i khoản 1 Điều 134; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38; Điều 56 Bộ luật Hình sự năm 2015 được sửa đổi, bổ sung năm 2017;

Xử phạt:

Bị cáo Ngô Hoàng S 01 (một) năm tù. Tổng hợp hình phạt của Bản án số 62/2024/HSST, ngày 10/7/2024 của Tòa án nhân dân thành phố Bạc Liêu xử phạt 06 (sáu) năm tù về tội “Cướp giật tài sản”. Buộc bị cáo phải chấp hành chung cho hai bản án là 07 (bảy) năm tù, thời hạn tù tính từ ngày 25 tháng 12 năm 2023.

Về trách nhiệm dân sự: Căn cứ Điều 48 Bộ luật hình sự; Điều 584; Điều 585, 586 và 590 Bộ luật Dân sự năm 2015. Buộc bị cáo bồi thường cho Trần Văn T số tiền 32.000.000đ (ba mươi hai triệu đồng).

Về án phí: Căn cứ điểm a; c khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14, ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Uỷ ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án và khoản 2 Điều 135; khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng Hình sự. Bị cáo Ngô Hoàng S phải chịu 200.000đ (hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm và 1.600.000đ (một triệu sáu trăm nghìn đồng) án phí dân sự sơ thẩm.

Về quyền kháng cáo: Bị cáo, bị hại được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành theo quy định tại các Điều 6, Điều 7a, 7b và Điều 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án dân sự được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

Nơi nhận:

  • - Bị cáo;
  • - Người bị hại;
  • - Chi cục T.H.A TPLX;
  • - Đương sự;
  • - Sở Tư pháp tỉnh An Giang;
  • - Phòng KTNV - TAND tỉnh An Giang;
  • - VKS ND tỉnh An Giang;
  • - Lưu hồ sơ;
  • - Lưu văn phòng;

TM.HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Nguyễn Thị Đức Anh

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 170/2024/HS-ST ngày 12/11/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ LONG XUYÊN, TỈNH AN GIANG về cố ý gây thương tích

  • Số bản án: 170/2024/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Cố ý gây thương tích
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 12/11/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ LONG XUYÊN, TỈNH AN GIANG
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: NGô Hoàng S cố ý gây thương tích
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger