Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

THÀNH PHỐ DĨ AN

TỈNH BÌNH DƯƠNG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

Bản án số: 170/2024/HNGĐ-ST

Ngày: 11-11-2024

V/v tranh chấp ly hôn, nuôi con

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ DĨ AN, TỈNH BÌNH DƯƠNG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Thương.

Các Hội thẩm nhân dân:

  1. Bà Nguyễn Thị Kim Uyên;
  2. Ông Trần Trung Hiếu.

- Thư ký phiên toà: Bà Đỗ Thị Hương Giang - Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Dĩ An, tỉnh Bình Bương.

- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân thành phố Dĩ An, tỉnh Bình Dương tham gia phiên tòa: Bà Bùi Thị Xuân Tình - Kiểm sát viên.

Ngày 11 tháng 11 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Dĩ An, tỉnh Bình Dương xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 453/2024/HNGĐ-ST ngày 07 tháng 10 năm 2024 về việc “tranh chấp ly hôn, nuôi con”, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 249/2024/QĐXXST-HNGĐ ngày 25/10/2024 giữa các đương sự:

  • - Nguyên đơn: Chị Nguyễn Thanh L, sinh năm 1985; thường trú: Thôn A, xã E, huyện M'Đ, tỉnh Đắk Lắk. (Có đơn yêu cầu giải quyết vắng mặt).
  • - Bị đơn: Anh Đoàn Quốc V, sinh năm 1981; thường trú: số A, khu phố B, phường A, thành phố D, tỉnh Bình Dương. (Có đơn yêu cầu giải quyết vắng mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

- Theo đơn khởi kiện đề ngày 11/9/2024 và lời khai trong quá trình tố tụng, nguyên đơn chị Nguyễn Thanh L trình bày:

Về quan hệ hôn nhân: Chị Nguyễn Thanh L và anh Đoàn Quốc V tự nguyện chung sống với nhau, tổ chức lễ cưới và đăng ký kết hôn năm 2006 tại Ủy ban nhân dân phường A, thị xã D (nay là thành phố D), tỉnh Bình Dương theo Giấy chứng nhận kết hôn số 169 ngày 14/6/2006. Việc kết hôn giữa hai bên là hoàn toàn tự nguyện, không bị ai ép buộc. Sau khi kết hôn, vợ chồng anh chị chung sống tại D, tỉnh Bình Dương.

Thời gian đầu vợ chồng chung sống hạnh phúc, quan tâm, chăm sóc lẫn nhau, càng về sau thì càng phát sinh mâu thuẫn, hay cãi vã và xung đột với nhau, bất đồng quan điểm, không có tiếng nói chung. Hai vợ chồng đã từng nộp đơn tại Tòa án nhưng sau đó rút đơn về để đoàn tụ và hàn gắn. Tuy nhiên, vợ chồng đã cố gắng hàn gắn tình cảm nhưng không đi đến kết quả. Cuộc sống càng ngày càng căng thẳng, mục đích hôn nhân không đạt được. Hiện cả hai đã sống ly thân được 17 năm. Nay chị L xác định tình cảm vợ chồng không còn, mục đích hôn nhân không đạt được nên yêu cầu được ly hôn với anh V. Chị L làm nông, thu nhập khoảng tầm 5.000.000 đồng/tháng.

Về con chung: Quá trình chung sống, chị L và anh V có 01 con chung tên Đoàn Gia M, sinh ngày 04/12/2006. Sau khi ly hôn, chị L yêu cầu được trực tiếp nuôi dưỡng cháu M và không yêu cầu anh V cấp dưỡng nuôi con chung.

Về tài sản chung và nghĩa vụ chung về tài sản (nợ chung): Tự thoả thuận, không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Tại biên bản lấy lời khai ngày 21/10/2024 và đơn xin xét xử vắng mặt bị đơn anh Đoàn Quốc V trình bày:

Thống nhất về thời gian chung sống và kết hôn như chị L đã trình bày. Thời gian đầu vợ chồng chung sống hạnh phúc, quan tâm, chăm sóc lẫn nhau. Tuy nhiên đến năm 2010 thì bắt đầu phát sinh mâu thuẫn nguyên nhân là do tính tình không hợp nhau, vợ chồng thường xuyên cãi vã. Anh V và chị L đã không còn chung sống với nhau từ năm 2010 đến nay. Nay, chị L yêu cầu ly hôn thì anh V đồng ý. Hiện anh V đang chấp hành Quyết định xử lý hành chính đưa vào cơ sở giáo dục bắt buộc tại Cơ sở giáo dục bắt buộc C- Cục C1- Bộ C2 địa chỉ: Ấp A, xã A, huyện C, tỉnh Sóc Trăng.

Về con chung: Quá trình chung sống, chị L và anh V có 01 con chung là cháu Đoàn Gia M, sinh ngày 04/12/2006. Sau khi ly hôn, anh V đồng ý giao con chung cho chị L trực tiếp nuôi dưỡng và anh V không phải cấp dưỡng nuôi con chung.

Về tài sản chung và nghĩa vụ chung về tài sản (nợ chung): Tự thoả thuận, không yêu cầu Tòa án giải quyết.

- Tại phiên tòa, đại diện Viện Kiểm sát nhân dân thành phố Dĩ An trình bày quan điểm về việc tuân theo pháp luật, quan điểm giải quyết vụ án: Về việc tuân theo pháp luật tố tụng của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa trong quá trình giải quyết vụ án kể từ khi thụ lý vụ án cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án được thực hiện đúng theo quy định pháp luật. Đối với những người tham gia tố tụng: Nguyên đơn, bị đơn chấp hành đúng quy định pháp luật tố tụng Dân sự. Về quan điểm giải quyết vụ án: Xét yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn là có căn cứ nên đề nghị Hội đồng xét xử xem xét chấp nhận.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

  1. [1] Về tố tụng: Nguyên đơn chị Nguyễn Thanh L và bị đơn anh Đoàn Quốc V có đơn đề nghị xét xử vắng mặt do đó Tòa án căn cứ vào các Điều 227, 228 và 238 Bộ luật Tố tụng Dân sự xét xử vắng mặt các đương sự.
  2. [2] Về nội dung:
    1. [2.1] Về quan hệ hôn nhân: Chị Nguyễn Thanh L và anh Đoàn Quốc V kết hôn trên cơ sở tự nguyện, có đăng ký kết hôn vào năm 2006 tại Ủy ban nhân dân phường A, thị xã D (nay là thành phố D), tỉnh Bình Dương theo Giấy chứng nhận kết hôn số 169 ngày 14/6/2006 đúng với quy định của pháp luật, là hôn nhân hợp pháp được pháp luật bảo vệ.

      Chị L và anh V đều xác định vợ chồng chung sống hạnh phúc được một thời gian thì phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân do bất đồng quan điểm, dẫn đến vợ, chồng thường xuyên cãi nhau, không có tiếng nói chung, anh V và chị L hiện đã ly thân. Chị L yêu cầu giải quyết ly hôn do mâu thuẫn vợ chồng đã thực sự trầm trọng và anh V cũng đồng ý ly hôn. Nhận thấy tình trạng hôn nhân giữa chị L và anh V đã trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được. Do đó, chị L yêu cầu được ly hôn với anh V là phù hợp với quy định tại khoản 1 Điều 56 Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014 nên được Hội đồng xét xử chấp nhận và giải quyết cho chị L được ly hôn với anh V.

    2. [2.2] Về con chung: Sau khi ly hôn, chị Nguyễn Thanh L có nguyện vọng được trực tiếp nuôi dưỡng con chung tên Đoàn Gia M, sinh ngày 04/12/2006. Xét, cháu M cũng có nguyện vọng được sống với chị L, anh V hiện đang chấp hành Quyết định xử lý hành chính đưa vào cơ sở giáo dục bắt buộc tại Cơ sở giáo dục bắt buộc C- Cục C1- Bộ C2 nên không có điều kiện để chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục cháu M. Đồng thời, anh V cũng thống nhất đồng ý giao con chung cho chị L trực tiếp nuôi dưỡng. Vì vậy, căn cứ vào Điều 81, 82 Luật Hôn nhân và gia đình, Tòa án giao cháu M cho chị L trực tiếp nuôi dưỡng để đảm bảo quyền lợi về mọi mặt của con chung.
    3. [2.3] Về cấp dưỡng: Chị Nguyễn Thanh L không yêu cầu anh Đoàn Quốc V phải có nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con. Xét, đây là sự tự nguyện của chị L nên Hội đồng xét xử ghi nhận.
    4. [2.4] Về tài sản chung, nghĩa vụ chung và nợ chung: Đương sự không yêu cầu nên Tòa án không đặt ra xem xét.
  3. [3] Từ những phân tích trên có căn cứ chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn và chấp nhận đề nghị của đại diện Viện Kiểm sát nhân dân thành phố Dĩ An về quan điểm giải quyết vụ án.
  4. [4] Về án phí dân sự sơ thẩm: Chị Nguyễn Thanh L phải chịu án phí theo quy định pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, khoản 4 Điều 147, Điều 207, Điều 227, Điều 228, Điều 238, Điều 244, 266, 271 và 273 Bộ luật Tố tụng Dân sự;

Căn cứ vào các Điều 51, 55, 58, 81, 82, 83 và 84 của Luật Hôn nhân và gia đình;

Căn cứ vào điểm a, khoản 5 Điều 27 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

  1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn chị Nguyễn Thanh L về tranh chấp ly hôn, nuôi con đối với bị đơn anh Đoàn Quốc V.
    1. Về hôn nhân: Chị Nguyễn Thanh L và anh Đoàn Quốc V thuận tình ly hôn [Theo Giấy chứng nhận kết hôn số 169 do Ủy ban nhân dân phường A, thị xã D (nay là thành phố D), tỉnh Bình Dương cấp ngày 14/6/2006].
    2. Về con chung: Giao con chung tên Đoàn Gia M, sinh ngày 04/12/2006 cho chị Nguyễn Thanh L trực tiếp nuôi dưỡng.

      Sau ly hôn, chị Nguyễn Thanh L và anh Đoàn Quốc V đều có quyền chăm sóc, thăm nom, giáo dục con, không ai có quyền cản trở anh, chị thực hiện quyền này. Vì lợi ích về mọi mặt của con khi một hoặc hai bên đương sự có yêu cầu, Tòa án sẽ quyết định thay đổi người trực tiếp nuôi con và việc cấp dưỡng.

    3. Về cấp dưỡng: Ghi nhận sự tự nguyện của chị Nguyễn Thanh L không yêu cầu anh Đoàn Quốc V thực hiện nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con.
    4. Về tài sản chung và nghĩa vụ chung về tài sản (nợ chung): Đương sự không yêu cầu Tòa án giải quyết.
  2. Án phí dân sự sơ thẩm: Chị Nguyễn Thanh L phải chịu 300.000 đồng án phí ly hôn, được khấu trừ vào tiền tạm ứng án phí đã nộp theo Biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0001626 ngày 27/9/2024 của Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Dĩ An, tỉnh Bình Dương.
  3. Đương sự được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 (mười lăm) ngày kể từ nhận được bản án hoặc kể từ ngày bản án được niêm yết theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự .

    Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự, thời hiệu thi hành án được quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự./.

Nơi nhận:

  • - Đương sự;
  • - VKSND TP. Dĩ An;
  • - Chi cục THADS TP. Dĩ An;
  • - TAND tỉnh Bình Dương;
  • - Lưu: Hồ sơ vụ án, VP.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN -CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Nguyễn Thị Thương

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 170/2024/HNGĐ-ST ngày 11/11/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ DĨ AN, TỈNH BÌNH DƯƠNG về tranh chấp ly hôn, nuôi con

  • Số bản án: 170/2024/HNGĐ-ST
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp ly hôn, nuôi con
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 11/11/2024
  • Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ DĨ AN, TỈNH BÌNH DƯƠNG
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Tranh chấp ly hôn, nuôi con
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger