|
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN BA TRI – TỈNH BẾN TRE |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc |
Bản án số: 170/2024/DS-ST
Ngày: 26-9-2024
V/v “Tranh chấp hợp đồng vay tài sản”
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN BA TRI
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Bà Trần Thị Hồng Hạnh.
- Các Hội thẩm nhân dân:
- Ông Nguyễn Công Trung.
- Bà Võ Thị Hiền.
- Thư ký phiên tòa: Bà Đoàn Ngọc Huỳnh Như – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Ba Tri – Bến Tre.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Ba Tri tham gia phiên tòa: Bà Dương Thy Trúc Phương - Kiểm sát viên.
Ngày 19, 26 tháng 9 năm 2024, tại Trụ sở Tòa án nhân dân huyện Ba Tri xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 205/2024/TLST-DS ngày 27/5/2024 về việc “Tranh chấp hợp đồng vay tài sản” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 187/2024/QĐST - DS ngày 04 tháng 9 năm 2024, Quyết định tạm ngừng phiên tòa số: 25/2024/QĐST - DS ngày 19 tháng 9 năm 2024 giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Bà Nguyễn Thị C, sinh năm 1956 (có mặt);
Địa chỉ: ấp A, xã A, huyện B, tỉnh Bến Tre.
Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của nguyên đơn: Bà Đỗ Thị T - Trợ giúp viên pháp lý của Trung tâm trợ giúp pháp lý nhà nước tỉnh B (có mặt).
- Bị đơn: Bà Võ Thị K, sinh năm 1953 (xin vắng mặt);
Địa chỉ: ấp A, xã A, huyện B, tỉnh Bến Tre.
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Ông Phạm Văn Ú, sinh năm 1960;
Địa chỉ: ấp A, xã A, huyện B, tỉnh Bến Tre (xin vắng mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
* Theo đơn khởi kiện ngày 03/5/2024, đơn khởi kiện bổ sung ngày 28/6/2024 và trong quá trình tố tụng nguyên đơn bà Nguyễn Thị C trình bày:
Năm 2013 bà K mượn lặt vặt nhiều lần 915.000 đồng.
Năm 2014 mượn 02 lần là 2.000.000 đồng, cụ thể: Ngày 02/11/2014 bà K mượn 1.000.000 đồng, ngày 02/12/2014 mượn 1.000.000 đồng.
Năm 2015 mượn 02 lần là 7.000.000 đồng, cụ thể: Ngày 18/01/2015 mượn 2.000.000 đồng, ngày 09/02/2015 mượn 5.000.0000 đồng.
Năm 2016 mượn 04 lần là 8.000.000 đồng, cụ thể: Ngày 05/3/2016 mượn 2.000.000 đồng, ngày 26/5/2016 mượn 2.000.000 đồng, ngày 10/8/2016 mượn 2.000.000 đồng, ngày 10/9/2016 mượn 2.000.000 đồng.
Năm 2017 mượn 04 lần là 7.000.000 đồng, cụ thể: Ngày 18/8/2017 mượn 500.000 đồng, ngày 28/9/2017 mượn 500.000 đồng, ngày 26/6/2017 mượn 5.000.000 đồng, trước ngày lễ đoàn kết 02 ngày mượn 1.000.000 đồng).
Khi bà cho mượn không có biên nhận nhưng bà tự ghi để nhớ, khi vay không thỏa thuận lãi; bà K mượn hoài không trả nên năm 2014 thỏa thuận trả tiền lãi, mức lãi suất 1%/tháng. Bà K thỉnh thoảng có trả tiền lãi nhưng không đều có khi 100.000 đồng, 200.000 đồng. Năm 2015 bà K mới đóng lãi, 01 tháng, 02 tháng thì bà K đưa lãi 100.000 đồng, 200.000 đồng; do bà K đưa lặt vặt nên không nhớ số tiền đóng lãi. Bà K mượn tiền xài, có thời gian ông Ú làm thợ hồ bị té lầu nên mượn tiền mua thuốc cho ông Ú. Do bà K không trả nên bà khởi kiện yêu cầu bà K và ông Ú phải liên đới trả cho bà số tiền vay 24.000.000 đồng, số tiền vay lặt vặt bà không yêu cầu.
* Theo biên bản lấy lời khai và trong quá trình tố tụng bị đơn bà Võ Thị K trình bày:
Cách nay khoảng 10 năm bà có mượn tiền lặt vặt của bà Nguyễn Thị C, lâu quá không nhớ cụ thể số tiền mượn. Bà chỉ nhớ mượn khoảng 10 lần: 07 lần 500.000 đồng, 03 lần 700.000 đồng. Bà mượn lặt vặt nên không có giấy tờ, bà C tự ghi rồi nói bà mượn hai mươi mấy triệu là không đúng, bà không khi nào mượn tới số tiền 1.000.000 đồng mà bà C nói có lần mượn 8.000.000 đồng. Bà có đóng lãi cho bà C thời gian khoảng 02 năm, có tiền bao nhiêu là đóng lãi bấy nhiêu, có khi có tiền bà trả lãi có lần trả được 500.000 đồng. Có tiền là đóng lãi nên bà không nhớ số tiền đóng lãi là bao nhiêu. Số tiền bà mượn có khi mua thuốc cho ông Ú nhưng ông Ú hiện bị tai biến không làm gì được nên không có tiền trả. Bà trình bày số tiền bà thiếu của bà C, bà không có tiền trả vì bà và ông Ú bệnh không làm gì ra tiền, sống nhờ tiền và gạo từ thiện.
* Theo biên bản lấy lời khai ông Phạm Văn Ú trình bày:
Số tiền bà K mượn của bà C ông không biết nên ông không liên quan, ông bị bệnh nên không đi đến Tòa án được nên xin vắng mặt.
* Tại Tòa:
* Nguyên đơn bà C trình bày: Từ năm 2013 đến năm 2017 bà cho bà Võ Thị K vay số tiền tổng cộng 24.915.000 đồng, vay không có thời hạn, vay không lãi, vay không biên nhận, bị đơn vay tiền tiêu xài và mua thuốc cho ông Ú. Năm 2014 đôi bên thỏa thuận lãi suất 1%/tháng, bị đơn có đóng lãi không đều có lần 50.000 đồng, có lần 100.000 đồng. Bị đơn đóng lãi trong năm 2014 và năm 2015; do bà K đóng lãi không đều nên không nhớ cụ thể tiền lãi đã đóng. Bà K chỉ thừa nhận số tiền nợ 10 lần: 07 lần 500.000 đồng, 03 lần 700.000 đồng là không phù hợp. Việc bà K vay tiền của bà có người hàng xóm biết, nhưng không dám làm chứng cho bà. Bà K không thừa nhận vay của bà 24.915.000 đồng, bà không có biên nhận chứng minh và không có chứng cứ nào khác bổ sung cho Tòa án; bà không thể gặp bà K trao đổi về số tiền bà K đã thiếu. Nên bà thay đổi yêu cầu, bà yêu cầu bà K và ông Ú liên đới trả số tiền như bà K thừa nhận là 5.600.000 đồng. Nếu còn chậm thực hiện trả nợ thì yêu cầu tính lãi chậm trả trong giai đoạn thi hành án. Bà xin rút yêu cầu đối với số tiền còn lại 19.315.000 đồng.
* Người bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp cho nguyên đơn trình bày: Tại Tòa nguyên đơn thay đổi yêu cầu khởi kiện, yêu cầu bị đơn và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan liên đới trả số tiền 5.600.000 đồng, việc nguyên đơn thay đổi yêu cầu phù hợp với sự thừa nhận của bị đơn nên đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận. Việc bị đơn vay tiền là để tiêu xài và mua thuốc cho ông Ú nên ông Ú phải có nghĩa vụ liên đới. Căn cứ Điều 463, 466 Bộ luật dân sự, Điều 27 Luật hôn nhân và gia đình đề nghị chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, buộc bị đơn bà K và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan ông Ú liên đới trả cho nguyên đơn bà C số tiền 5.600.000 đồng.
* Quan điểm của đại diện Viện kiểm sát:
Về thủ tục: Trong quá trình tố tụng, Thẩm phán đã tuân thủ và tiến hành đầy đủ trình tự, thủ tục tố tụng. Hội đồng xét xử tiến hành đúng trình tự thủ tục phiên tòa. Đương sự thực hiện đúng quyền nghĩa vụ của mình.
Về nội dung: Tại Tòa nguyên đơn thay đổi yêu cầu khởi kiện, nguyên đơn khởi kiện yêu cầu bị đơn và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan liên đới trả số tiền 5.600.000 đồng; sự thừa nhận của bị đơn phù hợp với yêu cầu của nguyên đơn. Việc bà K vay tiền để tiêu xài nên ông Phạm Văn Ú phải có nghĩa vụ liên đới. Do đó, căn cứ Điều 244 Bộ luật tố tụng dân sự; Điều 463, 466, 468 Bộ luật dân sự; Điều 27 Luật hôn nhân và gia đình đề nghị chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn. Buộc bị đơn và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan trả cho nguyên đơn số tiền 5.600.000 đồng, trường hợp chậm trả thì phải chịu lãi theo khoản 2 Điều 468 Bộ luật dân sự. Đình chỉ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn yêu cầu bị đơn và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan trả số tiền 19.315.000 đồng.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Qua nghiên cứu toàn bộ các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và thẩm tra công khai các chứng cứ tại phiên tòa, qua kết quả tranh tụng, Hội đồng xét xử nhận định:
Về tố tụng: Bị đơn bà Võ Thị K và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan ông Phạm Văn Ú xin vắng mặt. Do đó, việc đưa vụ án ra xét xử vắng mặt của bà K, ông Ú là phù hợp với quy định tại Điều 227, 228 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015.
Về nội dung:
[1] Xét yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà Nguyễn Thị C yêu cầu bị đơn bà Võ Thị K và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan ông Phạm Văn Ú liên đới trả số tiền vay 5.600.000 đồng. Trường hợp chậm thực hiện nghĩa vụ trả nợ thì yêu cầu tính lãi chậm trả trong giai đoạn thi hành án. Đối với số tiền 19.315.000 đồng thì nguyên đơn bà Nguyễn Thị C xin rút yêu cầu khởi kiện đối với bị đơn bà Võ Thị K và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan ông Phạm Văn Ú. Hội đồng xét xử xét thấy:
Theo nguyên đơn bà Nguyễn Thị C từ năm 2013 đến năm 2017 có cho bị đơn bà Võ Thị K vay nhiều lần, việc vay ban đầu không có tiền lãi đến năm 2014 thỏa thuận tiền lãi 1%/tháng, qua năm 2015 bà K trả tiền lãi 100.000 đồng, 200.000 đồng lắc nhắc nên bà C không nhớ tiền lãi bao nhiêu, bà K vay tiền tiêu xài và có thời gian vay để mua thuốc cho ông Ú, vay không có biên nhận, vay không thời hạn, tổng số tiền vay 24.915.000 đồng. Bà K thừa nhận có vay của bà C số tiền khoảng 10 lần: 07 lần 500.000 đồng, 03 lần 700.000 đồng và có đóng lãi nhưng không xác định được thời gian và số tiền đóng. Bà K không thừa nhận số tiền vay 24.915.000 đồng nhưng bà C không có chứng cứ chứng minh. Tại Tòa, bà C nhận thấy không có chứng cứ chứng minh bà K vay số tiền 24.915.000 đồng nên bà C thay đổi yêu cầu khởi kiện, bà C yêu cầu bà K và ông Ú liên đới trả số tiền trên cơ sở bà K thừa nhận là 5.600.000 đồng. Xét việc vay tiền giữa đôi bên là trên cơ sở tự nguyện nhưng do bà K vi phạm nghĩa vụ trả nợ nên bà C khởi kiện đối với số tiền 5.600.000 đồng là phù hợp theo Điều 463, 466 Bộ luật dân sự. Bà K vay tiền để tiêu xài cho bà và ông Ú nên ông Ú phải có nghĩa vụ liên đới trả. Do đó, căn cứ Điều 463, 466, 468 Bộ luật dân sự; Điều 27 Luật hôn nhân và gia đình chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà C. Buộc bà K, ông Ú liên đới trả cho bà C số tiền vay là 5.600.000 đồng, trường hợp chậm thực hiện nghĩa vụ trả nợ thì phải chịu lãi chậm trả trong giai đoạn thi hành án.
[2] Bà Nguyễn Thị C xin rút yêu cầu khởi kiện đối với số tiền 19.315.000 đồng, việc bà C xin rút yêu cầu khởi kiện là hoàn toàn tự nguyện và phù hợp với quy định. Do đó, căn cứ khoản 2 Điều 244 Bộ luật tố tụng dân sự, đình chỉ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà Nguyễn Thị C yêu cầu bị đơn bà Võ Thị K và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan ông Phạm Văn Ú liên đới trả số tiền 19.315.000 đồng.
[3] Xét quan điểm đề nghị giải quyết vụ án của người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của nguyên đơn phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử nên được chấp nhận.
[4] Xét quan điểm đề nghị giải quyết vụ án của đại diện Viện kiểm sát phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử nên được chấp nhận.
[5] Về án phí DS – ST: Nguyên đơn được chấp nhận yêu cầu khởi kiện nên bị đơn bà Võ Thị K, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan ông Phạm Văn Ú phải chịu án phí 300.000 đồng nhưng do bà K, ông Ú thuộc người cao tuổi nên được miễn theo Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ các Điều 227, 228, 244 Bộ luật tố tụng dân sự; Điều 463, 466, 468 Bộ luật dân sự; Điều 27 Luật hôn nhân và gia đình; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội.
- Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà Nguyễn Thị C. Buộc bị đơn bà Võ Thị K và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan ông Phạm Văn Ú liên đới trả cho nguyên đơn bà C số tiền vay 5.600.000 đồng (Năm triệu sáu trăm ngàn đồng).
- Đình chỉ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà Nguyễn Thị C yêu cầu bị đơn bà Võ Thị K và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan ông Phạm Văn Ú liên đới trả số tiền vay 19.315.000 đồng (Mười chín triệu ba trăm mười lăm ngàn đồng).
- Kể từ ngày bản án, quyết định có hiệu lực pháp luật hoặc kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án cho đến khi thi hành án xong tất cả các khoản tiền, hàng tháng bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 468 Bộ luật dân sự năm 2015.
- Về án phí DS-ST: 300.000 đồng (Ba trăm ngàn đồng) bị đơn bà Võ Thị K và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan ông Phạm Văn Ú chịu nhưng do bà K, ông Ú thuộc diện người cao tuổi nên được miễn nộp tiền án phí theo điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội.
Nguyên đơn bà Nguyễn Thị C thuộc diện người cao tuổi nên được miễn nộp tiền án phí theo điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội.
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
Báo cho nguyên đơn biết có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Bị đơn và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án niêm yết hợp lệ để yêu cầu Tòa án nhân dân tỉnh Bến Tre xét xử phúc thẩm.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TOÀ Trần Thị Hồng Hạnh |
Bản án số 170/2024/DS-ST ngày 26/09/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN BA TRI, TỈNH BẾN TRE về tranh chấp hợp đồng vay tài sản
- Số bản án: 170/2024/DS-ST
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hợp đồng vay tài sản
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 26/09/2024
- Loại vụ/việc: Dân sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN BA TRI, TỈNH BẾN TRE
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Tranh chấp hợp đồng vay
