Hệ thống pháp luật

TOÀ ÁN NHÂN DÂN

THỊ XÃ PHÚ MỸ

TỈNH BÀ RỊA VŨNG TÀU

Bản án số: 176/2024/HSST

Ngày: 30-9-2024

CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ PHÚ MỸ, TỈNH BÀ RỊA VŨNG TÀU

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

  • Thẩm phán - Chủ tọa phiên toà: Bà Nguyễn Thị Thuỳ Trang
  • Các Hội thẩm nhân dân: Bà Nguyễn Thị Bạch Gương
  • Bà Phan Thị Sơn
  • -Thư ký phiên toà: Bà Diệp Minh Hường – Thư ký Toà án nhân dân thị xã Phú Mỹ, tỉnh Bà Rịa Vũng Tàu.
  • - Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã Phú Mỹ tham gia phiên toà : ông Lê Nguyễn Trường Giang - Kiểm sát viên.

Ngày 30 tháng 9 năm 2024 tại Trụ sở Tòa án nhân dân thị xã Phú Mỹ, tỉnh Bà Rịa Vũng Tàu xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 155/2024/HSST ngày 06 tháng 9 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 167/2024/HSST-QĐ ngày 11 tháng 9 năm 2024, Thông báo thay đổi thời gian mở phiên toà số 85/TB-TA ngày 20/9/2024 đối với bị cáo:

Phạm Thị L (tên gọi khác: không); Sinh năm: 1970 tại Đồng Tháp; Nơi cư trú: Khóm M, phường A, thành phố H, tỉnh Đồng Tháp. Nghề nghiệp: Buôn bán; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh ; Tôn giáo: không ; Trình độ văn hóa: Không biết chữ; Cha: Phạm Văn L1 (đã chết); Mẹ: Nguyễn Xuân L2, sinh năm 1947; Gia đình bị cáo có 04 người con, bị cáo là con thứ 03 trong gia đình. Chồng: Phạm Thanh H, sinh năm 1967, có 02 con (con lớn sinh năm 1992, con nhỏ sinh năm 1999).Tiền án, tiền sự: không. Bị cáo bị bắt tạm giam ngày 22/5/2024 đến ngày 27/5/2024 được thay thế bằng biện pháp bảo lĩnh. (bị cáo có mặt tại phiên tòa)

- Bị hại: Bà Nguyễn Vân A ; sinh năm: 1989 (vắng mặt)

Địa chỉ: I làng Y, phường Y, quận T, thành phố Hà Nội.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Qua các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và quá trình xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Phạm Thị L là người quan tâm đến đạo Phật nên ngày 13/5/2024 L cùng nhiều người dân địa phương thuê xe khách đi đến thăm các chùa trên địa bàn thị xã P, tỉnh BR-VT. Đến trưa ngày 21/5/2024, L đi đến chùa P ở thôn C, xã T, thị xã P, tỉnh BR-VT để cúng bái và tham quan chùa. Đến khoảng 16 giờ 30 phút cùng ngày, L đi đến khu vực nhà tắm của chùa thì thấy rất nhiều người phụ nữ đang nằm nghỉ tại đây. Lúc này, L nhìn thấy chị Nguyễn Vân A (Sinh năm 1989; Nơi cư trú: Số I, làng Y, phường Y, quận T, thành phố Hà Nội) đang ngồi nói chuyện điện thoại, bên cạnh có chiếc túi xách màu nâu đang để dưới chiếu nên L nảy sinh ý định trộm cắp tài sản của chị Vân A. L đi đến dùng chân phải đạp vào chiếc túi xách rồi kéo ra xa vị trí chị Vân A đang ngồi, nhìn thấy chị Vân A chưa phát hiện ra hành động của L và vẫn đang nói chuyện điện thoại nên L ngồi xuống sát chiếc túi xách. L mở chiếc túi xách ra lấy trộm số tiền 7.800.000 đồng của chị Vân A bỏ vào túi xách của mình rồi đi đến khu vực chánh điện. Sau khi phát hiện bị lấy trộm tiền chị Vân A đã đến báo với bảo vệ của Chùa P và trình báo Công an xã T. Sau khi xem clip trích xuất từ camara của C ghi lại cảnh L lấy trộm tiền của chị Vân A, Công an xã T đã mời Phạm Thị L về trụ sở làm việc. Quá trình làm việc với Cơ quan Công an, Phạm Thị L đã khai nhận toàn bộ hành vi của mình như đã nêu trên, đồng thời giao nộp số tiền 7.800.000 đồng lấy trộm của chị Nguyễn Vân A (BL: 43-48).

Lời khai của Phạm Thị L phù hợp lời khai bị hại, vật chứng thu giữ được và các tài liệu chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án.

Bản cáo trạng số 129/CT-VKS ngày 21/8/2024 Viện kiểm sát nhân dân thị xã Phú Mỹ đã truy tố Phạm Thị L về tội “Trộm cắp tài sản” theo khoản 1, Điều 173 Bộ luật Hình sự.

Tại cơ quan điều tra và tại phiên tòa, Phạm Thị L khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình như trên và không có ý kiến gì về bản cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân thị xã Phú Mỹ.

Tại phiên toà, đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã Phú Mỹ giữ quyền công tố tại phiên tòa vẫn giữ nguyên quan điểm truy tố hành vi của bị cáo Phạm Thị L đủ yếu tố cấu thành tội “Trộm cắp tài sản”.

Đề nghị Hội đồng xét xử: Áp dụng khoản 1 Điều 173; điểm i, s khoản 1 Điều 51; Điều 65 Bộ luật Hình sự 2015 xử phạt bị cáo Phạm Thị L từ 06 đến 09 tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách từ 12 đến 18 tháng.

Đề nghị không áp dụng hình phạt bổ sung là hình phạt tiền đối với bị cáo.

* Vật chứng vụ án thu giữ và xử lý:

  • - Đối với số tiền 12.500.000 đồng (trong đó 7.800.000 đồng là tiền L lấy trộm của chị Vân A, 4.700.000 đồng là tiền của Phạm Thị L), Cơ quan CSĐT Công an thị xã P đã trả lại số tiền 7.800.000 đồng cho chị Vân A; trả lại số tiền 4.700.000 đồng cho L theo Quyết định xử lý vật chứng số 113A/QĐ ngày 18/7/2024 (BL: 35-38).
  • - Đối với 01 USB bên trong chứa đoạn video ghi lại hành vi L trộm cắp tài sản, hiện lưu theo hồ sơ vụ án.

* Về trách nhiệm dân sự: Chị Nguyễn Vân A đã nhận lại toàn bộ số tiền bị lấy trộm nên không có yêu cầu gì thêm.

Tại phiên tòa, bị cáo công nhận Viện kiểm sát truy tố đúng người đúng tội và bị cáo chỉ xin HĐXX xem xét cho bị cáo được hưởng án treo.

Căn cứ các chứng cứ và tài liệu đã được thẩm tra tại phiên toà; căn cứ kết quả tranh luận tại phiên tòa trên cơ sở xem xét đầy đủ, toàn diện chứng cứ, ý kiến của Kiểm sát viên, bị cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:

[1]. Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an thị xã P, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thị xã Phú Mỹ, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Qúa trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

[2]. Hành vi của bị cáo được xác định như sau: Khoảng 16 giờ 30 phút ngày 21/5/2024, tại chùa P ở thôn C, xã T, thị xã P, tỉnh BR-VT, Phạm Thị L đã có hành vi lén lút chiếm đoạt số tiền 7.800.000₫ (Bảy triệu tám trăm ngàn đồng) của chị Nguyễn Vân A. Hành vi của bị cáo Phạm Thị L đã đủ yếu tố cấu thành tội “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại khoản 1 Điều 173 Bộ Luật Hình sự 2015.

Do đó quyết định truy tố của Viện kiểm sát nhân dân thị xã Phú Mỹ đối với bị cáo Phạm Thị L về tội “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự năm 2015 là có căn cứ pháp luật.

[3]. Xét tính chất, mức độ, hậu quả do hành vi phạm tội bị cáo gây ra đã xâm hại đến quyền sở hữu tài sản hợp pháp của công dân được pháp luật bảo vệ; gây mất an ninh trật tự tại địa phương. Bị cáo là người trưởng thành, có nhận thức xã hội, biết hành vi của mình là vi phạm pháp luật nhưng vì tham lam muốn chiếm đoạt tài sản của người khác để tiêu xài, nhằm thoả mãn nhu cầu cá nhân. Vì vậy cần có hình phạt nghiêm khắc, tương xứng với hành vi phạm tội của bị cáo.

[4]. Về các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:

[4.1]. Tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: không.

[4.2]. Tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: tại cơ quan điều tra và tại phiên tòa bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng. Do đó áp dụng điểm i, s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự 2015 giảm cho bị cáo một phần hình phạt.

Xét thấy, bị cáo có thái độ thành khẩn, ăn năn hối cải, có nhân thân tốt, trình độ học vấn thấp nên hạn chế nhận thức pháp luật, do hành vi nông nổi, nhất thời nên bị cáo đã vi phạm pháp luật, bị cáo có nơi cư trú rõ ràng nên không nhất thiết phải cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội mà giao về cho địa phương giám sát, giáo dục cũng đủ tác dụng răn đe, giáo dục bị cáo trở thành người có ích cho xã hội.

Về hình phạt bổ sung: xét thấy bị cáo không có việc làm ổn định nên không áp dụng không áp dụng hình phạt bổ sung là hình phạt tiền đối với bị cáo.

[5]. Về xử lý vật chứng: Đối với số tiền 12.500.000 đồng (trong đó 7.800.000 đồng là tiền L chiếm đoạt của chị Vân A và 4.700.000 đồng là tiền của Phạm Thị L), Cơ quan CSĐT Công an thị xã P đã trả lại số tiền 7.800.000 đồng cho chị Vân A; trả lại số tiền 4.700.000 đồng cho L theo Quyết định xử lý vật chứng số 113A/QĐ ngày 18/7/2024.

[6]. Trách nhiệm dân sự: Chị Nguyễn Vân A đã nhận lại tài sản và không yêu cầu gì thêm nên không xem xét.

[7]. Về án phí: Bị cáo phải nộp án phí hình sự sơ thẩm theo quy định.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

Tuyên bố: Bị cáo Phạm Thị L phạm tội “Trộm cắp tài sản”;

  1. Áp dụng khoản 1 Điều 173; điểm i, s khoản 1 Điều 51, Điều 65 Bộ luật Hình sự 2015;

    Xử phạt: Phạm Thị L 06 (sáu) tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách từ 12 tháng tính từ ngày tuyên án (ngày 30/9/2024)

    Giao bị cáo Phạm Thị L cho Ủy ban nhân dân phường A, thành phố H, tỉnh Đồng Tháp phối hợp với gia đình giám sát, giáo dục bị cáo trong thời gian thử thách.

    Trong thời gian thử thách người được hưởng án treo vắng mặt nơi cư trú, thay đổi nơi cư trú, nơi làm việc thì thực hiện theo quy định của pháp luật về Thi hành án hình sự.

    Trong thời gian thử thách, người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ theo qui định của Luật Thi hành án hình sự 02 (hai) lần trở lên, thì Tòa án có thể quyết định buộc người đó phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo.

    Người được hưởng án treo phạm tội mới trong thời gian thử thách thì Tòa án buộc người đó phải chấp hành hình phạt của bản án trước đó và tổng hợp hình phạt của bản án mới theo qui định tại Điều 56 Bộ luật Hình sự.

  2. Về trách nhiệm dân sự: Không ai yêu cầu nên không xem xét.
  3. Xử lý vật chứng : Áp dụng Điều 47 Bộ luật Hình sự 2015; Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự 2015: Tiếp tục lưu giữ trong vụ án 01 USB bên trong chứa đoạn video ghi lại hành vi L trộm cắp tài sản.
  4. Án phí HSST: Bị cáo Phạm Thị L phải nộp 200.000đ (hai trăm ngàn đồng).
  5. Quyền kháng cáo: Bị cáo có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 (mười lăm) ngày tính từ ngày tuyên án. Riêng những người vắng mặt có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 (mười lăm) ngày để từ ngày bản án được tống đạt hợp lệ hoặc niêm yết công khai để yêu cầu Toà án tỉnh Bà Rịa Vũng Tàu xét xử lại vụ án theo trình tự phúc thẩm.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

Nơi nhận:

- TAND tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu;

- VKSND tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu;

- Công an tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu(PV27);

- Sở Tư pháp tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu;

- VKSND thị xã Phú Mỹ;

- Công an thị xã Phú Mỹ;

- Thi hành án dân sự thị xã Phú Mỹ

- Những người tham gia tố tụng

- Lưu hồ sơ vụ án.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

NGUYỄN THỊ THUỲ TRANG

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 176/2024/HSST ngày 30/09/2024 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ PHÚ MỸ, TỈNH BÀ RỊA VŨNG TÀU về hình sự - trộm cắp tài sản

  • Số bản án: 176/2024/HSST
  • Quan hệ pháp luật: Hình sự - Trộm cắp tài sản
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 30/09/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ PHÚ MỸ, TỈNH BÀ RỊA VŨNG TÀU
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Pham Thi L
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger