Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

THÀNH PHỐ PLEIKU

TỈNH GIA LAI

Bản án số: 170/2024/HSST

Ngày: 30/8/2024

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Tòa án nhân dân thành phố Pleiku, tỉnh Gia Lai

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Xuân Hồng.

Các Hội thẩm nhân dân:

  1. Bà Lê Thị Toan.
  2. Bà Tô Thị Lành.

- Thư ký phiên tòa: Bà Phan Thị Thy Thy - Thư ký Tòa án, Tòa án Nhân dân thành phố Pleiku, tỉnh Gia Lai.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Pleiku, tỉnh Gia Lai tham gia phiên tòa: Bà Lương Thị Thái Bình – Kiểm sát viên.

Ngày 30 tháng 8 năm 2024, tại trụ sở Tòa án Nhân dân thành phố Pleiku, tỉnh Gia Lai, xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 155/2024/TLST-HS ngày 29 tháng 7 năm 2024 theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 167/2024/QĐXXST – HS ngày 12 tháng 8 năm 2024 đối với các bị cáo:

1. TRẦN THANH T. Giới tính: Nam; Sinh năm 1995, tại Bình Định. CCCD: 0520950100045.

Nơi cư trú: Thôn T, xã M, huyện P, tỉnh Bình Định.

Chỗ ở: Thuê nhà ở tại số C đường L, Tổ B, phường T, thành phố P, tỉnh Gia Lai.

Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không.

Trình độ học vấn: 12/12; Nghề nghiệp: Lái xe taxi.

Cha: Trần Ngọc H - Sinh năm 1968.

Mẹ: Nguyễn Thị L - Sinh năm 1968.

Hiện cha, mẹ của bị cáo trú tại: Thôn T, xã M, huyện P, tỉnh Bình Định.

Bị cáo có 03 anh, chị ruột (lớn nhất sinh năm 1989, nhỏ nhất sinh năm 1992).

Vợ: Võ Thị Thu T1 - Sinh năm 1996.

Bị cáo có 01 người con (sinh năm 2019).

Hiện vợ và con của bị cáo trú tại: Thôn A, xã M, huyện P, tỉnh Bình Định.

Tiền án, tiền sự: Không.

Bị cáo Trần Thanh T bị tạm giữ từ ngày 11/4/2024 đến ngày 19/4/2024, sau đó bị áp dụng biện pháp tạm giam cho đến nay tại Nhà tạm giữ Công an thành phố P, có mặt tại phiên tòa.

2. HUỲNH XUÂN VŨ . Giới tính: N; Sinh năm: 2001, tại Gia Lai. CCCD: [...].

Nơi cư trú: Tổ E, phường Y, thành phố P, tỉnh Gia Lai.

Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Thiên chúa giáo.

Trình độ học vấn: 8/12; Nghề nghiệp: Lái xe taxi.

Cha: Huỳnh Xuân T2 - Sinh năm 1978.

Mẹ: Nguyễn Thị Hạ H1 - Sinh năm 1980.

Hiện cha, mẹ của bị cáo trú tại: Tổ E, phường Y, thành phố P, tỉnh Gia Lai.

Bị cáo có 02 em ruột (sinh năm 2003 và năm 2005). Bị cáo chưa có vợ, con.

Tiền án, tiền sự: Không.

Về nhân thân: Tại bản án số 159/2018/HS-ST ngày 07/11/2018 của Tòa án nhân dân thành phố Pleiku, xét xử tuyên phạt 09 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”, chấp hành án tại Trại giam G - Bộ C. Ngày 03/10/2019, chấp hành xong hình phạt tù và đã chấp hành xong các hình phạt khác của bản án (lần kết án này đã được xóa án tích).

Bị cáo Huỳnh Xuân V bị tạm giữ từ ngày 11/4/2024 đến ngày 19/4/2024, sau đó bị áp dụng biện pháp tạm giam cho đến nay tại Nhà tạm giữ Công an thành phố P, có mặt tại phiên tòa.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Qua các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và quá trình xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Trần Thanh T và Huỳnh Xuân V quen biết nhau và đều sử dụng chất ma tuý (V sử dụng chất ma tuý từ khoảng thời gian tháng 02 năm 2023; còn T sử dụng từ khoảng thời gian tháng 10 năm 2023). Vào khoảng 16 giờ ngày 11/4/2024, V đến nhà T ở số C đường L, Tổ B, phường T, thành phố P, để chơi. Tại đây, T rủ V góp chung tiền mua ma túy rồi cùng nhau sử dụng thì V đồng ý; T góp 1.500.000 đồng và Vũ góp 1.500.000 đồng. Qua các mối quan hệ xã hội, V có được số điện thoại của một người tên P (hiện chưa xác định được nhân thân, lai lịch) là người có bán ma túy. Sau khi góp chung tiền xong, V gọi điện thoại cho P hỏi mua ma túy (loại Ketamine và MDMA), P đồng ý và hẹn gặp V tại khu vực ngã ba đường L với đường N, thuộc phường T, thành phố P, tỉnh Gia Lai. Sau đó, V điều khiển xe ô tô biển số 49A-188.41 đến địa điểm đã hẹn gặp và mua của P 3.000.000 đồng tiền ma túy, P đưa cho V 01 vỏ gói thuốc lá ghi “555”, bên trong có 01 gói ma túy Khay và 01 gói nilon chứa 02 viên nén màu xanh (dạng thuốc Lắc); V để số ma túy này vào hộc cửa bên trái phía trước xe ô tô biển số 49A-188.41. Sau khi mua được ma túy, V gọi điện thông báo cho T biết đã mua được ma túy và hỏi nơi sử dụng thì T nói về lại nhà T rồi tìm nơi sử dụng sau, nên V điều khiển xe ô tô về lại số nhà C đường L, Tổ B, phường T, thành phố P, với mục đích mang ma tuý về cùng với Trần Thanh T3 sử dụng. Đến 17 giờ cùng ngày, khi V điều khiển xe về đến trước số nhà C đường L thì bị lực lượng Cảnh sát điều tra tội phạm về Ma túy - Công an thành phố P phát hiện, bắt quả tang cùng vật chứng; thu giữ trong hộc cửa bên trái phía trước xe ô tô biển số 49A-188.41:01 vỏ gói thuốc lá ghi “555” bên trong có 01 gói nilon chứa chất màu trắng dạng tinh thể và 01 gói nilon bên trong có 02 viên nén màu xanh (đã niêm phong theo quy định); 01 xe ô tô biển số 49A-188.41 (số khung: S1DAHN006676; số máy: G4LAHM557047), 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Iphone màu trắng, kèm thẻ sim (mặt sim có dãy số 8984050923 1324920479). Đến 19 giờ cùng ngày, Trần Thanh T3 đến Công an phường T đầu thú, khai nhận hành vi phạm tội và giao nộp 01 chiếc điện thoại di động màu đen (không rõ nhãn hiệu) kèm thẻ sim (mặt sim có dãy số [...] 09146 16121).

Qua xét nghiệm chất ma túy, kết quả: Huỳnh Xuân V và Trần Thanh T đều dương tính với MDMA và KET.

Qua giám định, tại Bản kết luận giám định số 422/KL-KTHS ngày 19/4/2024 của phòng K Công an tỉnh G, kết luận: “Chất màu trắng dạng tinh thể trong 01 bì nilon trong bì công văn là ma tuý, loại Ketamine, khối lượng 1,2790 gam. 02 viên nén màu xanh trong bì công văn là ma tuý, loại MDMA, tổng khối lượng 0,6944 gam".

Đối với chiếc điện thoại di động hiệu Iphone màu trắng kèm thẻ sim là của bị can Huỳnh Xuân V và bị can đã sử dụng liên lạc để mua ma túy.

Đối với chiếc điện thoại di động màu đen (không rõ nhãn hiệu) kèm thẻ sim là của cá nhân bị cáo Trần Thanh T, không liên quan đến hành vi phạm tội

Đối với chiếc xe ô tô biển số 49A-188.41 là của Công ty TNHH M. Ngày 01/4/2023, Công ty TNHH M đã ký hợp đồng và giao xe ô tô này cho Huỳnh Xuân V để chạy Taxi; việc V điều khiển xe đi mua ma túy thì Công ty TNHH M không biết. Do đó, Cơ quan điều tra đã trả lại chiếc xe ô tô cho ông Huỳnh Văn H2 (là đại diện theo ủy quyền của Công ty TNHH M).

* Vật chứng vụ án, gồm:

  • + Chất ma túy loại Ketamine và MDMA còn lại sau giám định cùng vỏ gói thuốc lá ghi chữ “555” trong 01 bì dán kín ghi số 432/PC09 ngày 19/4/2024, có dấu niêm phong của phòng K - Công an tỉnh G;
  • + 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Iphone màu trắng kèm sim số (mặt sim có dãy số 8984050923 1324920479);
  • + 01 chiếc điện thoại di động màu đen (không rõ nhãn hiệu) kèm thẻ sim (mặt sim có dãy số 8984 04800 09146 16121).

Tại phiên tòa các bị cáo đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình như những tình tiết nêu trên.

Tại bản cáo trạng số 171/CT- VKS ngày 29/7/2024 của Viện kiểm sát nhân dân TP. Pleiku đã truy tố đối với các bị cáo Trần Thanh T và Huỳnh Xuân V về tội: “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm c, g khoản 1 Điều 249 BLHS năm 2015 đã được sửa đổi bổ sung năm 2017.

Tại phiên tòa Đại diện Viện kiểm sát giữ quyền công tố tại phiên tòa vẫn giữ nguyên quan điểm truy tố về hành vi của các bị cáo Trần Thanh T và Huỳnh Xuân V và đề nghị Hội đồng xét xử:

  • - Tuyên bố bị cáo Trần Thanh T và Huỳnh Xuân V phạm tội: “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
  • - Áp dụng điểm c, g khoản 1 Điều 249, điểm s khoản 1, 2 Điều 51; Điều 38; Điều 50 Bộ luật Hình sự, đề nghị xử phạt bị cáo Trần Thanh T mức án từ 01 năm 09 tháng đến 02 năm ba tháng tù;
  • - Áp dụng điểm i khoản 1 Điều 249, điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38; Điều 50 Bộ luật Hình sự, đề nghị xử phạt bị cáo Huỳnh Xuân V mức án từ 01 năm 09 tháng đến 02 năm ba tháng tù;
  • - Hình phạt bổ sung: Không áp dụng hình phạt bổ sung.
  • - Căn cứ khoản 2 Điều 106 BLTTHS; Điều 47 BLHS;
  • Tịch thu tiêu hủy 01 bì công văn niêm phong ghi số 432/PC09 ngày 19/4/2024 có dấu niêm phong của Phòng K công an tỉnh G (có chữ ký của Trần Đoàn T4, Hoàng Ngọc B, Bùi Sỹ T5).
  • - 01 (một) điện thoại di động hiệu IPhone màu trắng kèm theo sim số (mặt sau sim có dãy số 8984 04800 09146 16121) (Điện thoại đã cũ, vỡ nát hư hỏng hoàn toàn, đã qua sử dụng, Chi cục THADS không kiểm tra tình trạng bên trong).
  • - 01 (một) điện thoại di động màu đen (không rõ nhãn hiệu) kèm theo sim số (mặt sau sim có dãy số 8984050923 1324920479) (Điện thoại đã cũ, đã qua sử dụng, Chi cục THADS không kiểm tra tình trạng bên trong).
  • - Buộc các bị cáo Trần Thanh T và Huỳnh Xuân V phải chịu án phí hình sự sơ thẩm.

Bị cáo và những người tham gia tố tụng khác không có ý kiến về quyết định truy tố của Viện kiểm sát.

Bị cáo Trần Thanh T nói lời nói sau cùng: Xin Tòa xem xét giảm nhẹ hình phạt để bị cáo được sớm quay về với gia đình và xã hội.

Bị cáo Huỳnh Xuân V: Xin Tòa xem xét giảm nhẹ hình phạt để bị cáo được sớm quay về với gia đình và xã hội.

NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:

[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an thành phố P, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Pleiku, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

[2] Lời khai nhận tội của các bị cáo Trần Thanh T và Huỳnh Xuân V tại phiên tòa ngày hôm nay hoàn toàn phù hợp với các tài liệu chứng cứ, các tài liệu đã thu thập được có tại hồ sơ vụ án. Vì vậy, Hội đồng xét xử có căn cứ khẳng định: Trần Thanh T và Huỳnh Xuân V quen biết nhau và đều sử dụng chất ma tuý. Khoảng 16 giờ ngày 11/4/2024, tại nhà do Trần Thanh T thuê ở số C đường L, Tổ B, phường T, thành phố P, tỉnh Gia Lai, T rủ V góp chung tiền mua ma túy rồi cùng nhau sử dụng thì V đồng ý; T góp 1.500.000 đồng, V góp 1.500.000 đồng; rồi V gọi điện thoại cho đối tượng tên P (không rõ nhân thân, lai lịch) hỏi mua ma túy, P đồng ý. Sau đó, Huỳnh Xuân V điều khiển xe ô tô biển số 49A-188.41 đến khu vực ngã ba đường L với đường N thuộc phường T, thành phố P, gặp và mua của đối tượng P 01 gói ma túy Khay và 02 viên nén màu xanh (dạng thuốc Lắc) với giá 3.000.000 đồng, rồi V cất giấu vào hộc cửa bên trái phía trước xe ô tô để mang về cùng với Trần Thanh T sử dụng. Đến 17 giờ cùng ngày, khi V về đến trước số nhà C đường L, Tổ B, phường T, thành phố P thì bị lực lượng Cảnh sát điều tra tội phạm về Ma túy - Công an thành phố P phát hiện, bắt quả tang cùng vật chứng. Đến 19 giờ cùng ngày, Trần Thanh T ra đầu thú.

Qua giám định, xác định: Số ma túy mà Trần Thanh T và Huỳnh Xuân V đã góp tiền mua chung để cùng nhau sử dụng gồm: 1,2790 gam Ketamine và 0,6944 gam MDMA.

[3] Bản thân các bị cáo hoàn toàn nhận thức được hành vi của bị cáo là trái pháp luật, bị xã hội lên án gay gắt và pháp luật cũng trừng trị nghiêm khắc đối với loại tội phạm này, tệ nạn ma túy là một hiểm họa lớn cho toàn xã hội, gây tác hại khôn lường cho sức khỏe con người làm băng hoại đạo đức và phẩm giá con người, phá hoại hạnh phúc bao gia đình, gây ảnh hưởng nghiêm trọng đến trật tự an toàn xã hội và an ninh quốc gia, là một trong những nguyên nhân phát sinh ra nhiều tệ nạn xã hội và các loại tội phạm khác, nên nhà nước có chính sách quản lý, kiểm soát chặt chẽ, nghiêm cấm việc mua bán, tàng trữ, sử dụng trái phép. Các bị cáo đều là người có đầy đủ năng lực hành vi dân sự, nhận thức được tác hại của tệ nạn ma túy, nhưng chỉ vì để thỏa mãn nhu cầu của bản thân mà các bị cáo đã bất chấp pháp luật thực hiện hành vi cất giấu ma túy để sử dụng. Hành vi tàng trữ 1,2790 gam Ketamine và 0,6944 gam MDMA đã bị bắt phạm tội quả tang. Vì vậy đã có đủ cơ sở khẳng định hành vi của các bị cáo Trần Thanh T và Huỳnh Xuân V đã phạm vào tội: “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm c, g khoản 1 Điều 249 BLHS năm 2015 đã được sửa đổi bổ sung năm 2017, nên cáo trạng mà Viện kiểm sát nhân dân thành phố Pleiku đã truy tố đối với các bị cáo là đúng người, đúng tội và đúng pháp luật.

[4] Hành vi của các bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm đến chế độ độc quyền quản lý của nhà nước về chất ma túy, đồng thời gây mất trật tự trị an tại địa phương, nên cần cách ly các bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian. Vì vậy, Hội đồng xét xử thấy cần thiết phải áp dụng một hình phạt tù nghiêm khắc cách ly các bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian mới có tác dụng răn đe giáo dục và phòng ngừa chung trong xã hội.

Đây là vụ án đồng phạm, tuy nhiên chỉ là đồng phạm mang tính chất giản đơn, trong đó bị cáo Trần Thanh T là người rủ rê, khởi xướng cùng với Huỳnh Xuân V là người thực hiện hành vi phạm tội, vì vậy HĐXX sẽ cân nhắc mức hình phạt khi quyết định hình phạt đối với các bị cáo.

[5] Hội đồng xét xử xem xét các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với bị cáo như sau: trong quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa hôm nay các bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, bị cáo Trần Thanh T được hưởng tình tiết đầu thú theo khoản 2 Điều 51 BLHS, các bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự, HĐXX sẽ xem xét áp dụng các tình tiết giảm nhẹ cho các bị cáo khi quyết định hình phạt.

[6] Về xử lý vật chứng:

  • -Tịch thu tiêu hủy 01 bì công văn niêm phong ghi số 432/PC09 ngày 19/4/2024 có dấu niêm phong của Phòng K công an tỉnh G (có chữ ký của Trần Đoàn T4, Hoàng Ngọc B, Bùi Sỹ T5).
  • - Tịch thu sung công quỹ nhà nước 01 (một) điện thoại di động hiệu IPhone màu trắng kèm theo sim số (mặt sau sim có dãy số 8984 04800 09146 16121) (Điện thoại đã cũ, vỡ nát hư hỏng hoàn toàn, đã qua sử dụng, Chi cục THADS không kiểm tra tình trạng bên trong).
  • - Tuyên trả lại cho bị cáo Trần Thanh T 01 (một) điện thoại di động màu đen (không rõ nhãn hiệu) kèm theo sim số (mặt sau sim có dãy số 8984050923 1324920479) (Điện thoại đã cũ, đã qua sử dụng, Chi cục THADS không kiểm tra tình trạng bên trong).

[7] Đối với chiếc xe ô tô biển số 49A-188.41 là của Công ty TNHH M. Ngày 01/4/2023, Công ty TNHH M đã ký hợp đồng và giao xe ô tô này cho Huỳnh Xuân V để chạy Taxi; việc V điều khiển xe đi mua ma túy thì Công ty TNHH M không biết. Do đó, Cơ quan điều tra đã trả lại chiếc xe ô tô cho ông Huỳnh Văn H2 (là đại diện theo ủy quyền của Công ty TNHH M).

[8] Miễn hình phạt bổ sung đối với các bị cáo Trần Thanh T và Huỳnh Xuân V.

[9] Các bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

1.Về tội danh: Tuyên bố các bị cáo Trần Thanh T và Huỳnh Xuân V phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”

2.Về hình phạt: Áp dụng điểm c, g khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1, 2 Điều 51; Điều 38; Điều 50 của Bộ luật hình sự năm 2015 đã được sửa đổi, bổ sung năm 2017 đối với bị cáo Trần Thanh T.

Xử phạt bị cáo Trần Thanh T: 02 (hai) năm tù. Thời hạn tù tính từ ngày 11/4/2024.

Áp dụng điểm c, g khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38; Điều 50 của Bộ luật hình sự năm 2015 đã được sửa đổi, bổ sung năm 2017 đối với bị cáo Huỳnh Xuân V.

Xử phạt bị cáo Huỳnh Xuân V: 02 (H3) năm tù. Thời hạn tù tính từ ngày 11/4/2024.

3.Về xử lý vật chứng:

Căn cứ Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015; Điều 47 Bộ luật hình sự

  • -Tịch thu tiêu hủy 01 bì công văn niêm phong ghi số 432/PC09 ngày 19/4/2024 có dấu niêm phong của Phòng K công an tỉnh G (có chữ ký của Trần Đoàn T4, Hoàng Ngọc B, Bùi Sỹ T5).
  • - Tịch thu sung công quỹ nhà nước 01 (một) điện thoại di động hiệu IPhone màu trắng kèm theo sim số (mặt sau sim có dãy số 8984 04800 09146 16121) (Điện thoại đã cũ, vỡ nát hư hỏng hoàn toàn, đã qua sử dụng, Chi cục THADS không kiểm tra tình trạng bên trong).
  • - Tuyên trả lại cho bị cáo Trần Thanh T 01 (một) điện thoại di động màu đen (không rõ nhãn hiệu) kèm theo sim số (mặt sau sim có dãy số 8984050923 1324920479) (Điện thoại đã cũ, đã qua sử dụng, Chi cục THADS không kiểm tra tình trạng bên trong).

Theo biên bản giao nhận vật chứng ngày 31/7/2024 giữa Cơ quan CSĐT công an T và Chi cục thi hành án dân sự TP ..

4. Về án phí hình sự sơ thẩm: Áp dụng Khoản 2 Điều 136 của Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015 và Nghị Quyết 326/2016/UBTVQH14 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;

Buộc bị cáo Trần Thanh T và Huỳnh Xuân V mỗi bị cáo phải chịu 200.000₫ (Hai trăm nghìn đồng) tiền án phí hình sự sơ thẩm sung vào công quỹ nhà nước.

5.Về quyền kháng cáo, thời hạn kháng cáo:

Căn cứ các Điều 331; 333 của Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015;

Báo cho: bị cáo Trần Thanh T và Huỳnh Xuân V có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án hôm nay (ngày 30/8/2024).

Trường hợp bản án được thi hành theo Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại điều 30 Luật thi hành án dân sự./.

Nơi nhận:

  • - TAND tỉnh Gia Lai;
  • - VKSND TP. Pleiku;
  • - Công an TP. Pleiku;
  • - Chi cục THADS TP. Pleiku;
  • - Sở Tư pháp tỉnh Gia Lai;
  • - Bị cáo, Người bào chữa (nếu có);
  • - Những người tham gia tố tụng khác;
  • - Lưu hồ sơ vụ án.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa

Nguyễn Thị Xuân Hồng

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 170/2024/HSST ngày 30/08/2024 của Tòa án nhân dân thành phố Pleiku, tỉnh Gia Lai về hình sự sơ thẩm (tàng trữ trái phép chất ma túy)

  • Số bản án: 170/2024/HSST
  • Quan hệ pháp luật: Hình sự sơ thẩm (Tàng trữ trái phép chất ma túy)
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 30/08/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: Tòa án nhân dân thành phố Pleiku, tỉnh Gia Lai
  • Áp dụng án lệ:
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Bị cáo tàng trữ trái phép chất ma túy
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger