Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN 6

THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

Bản án số: 180/2024/DS-ST

Ngày: 03/7/2024

V/v Tranh chấp hợp đồng

vay tài sản.

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN QUẬN 6 – THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

-Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán, Chủ toạ phiên toà: Bà Huỳnh Thị Kim Thương.

Các Hội thẩm nhân dân:

  1. Bà: Phan Thị Mai Khanh.
  2. Bà: Phạm Thị Kim Hoàng.

- Thư ký Toà án ghi biên bản phiên toà: Bà Phạm Thùy Vân – Thư ký Toà án.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Quận 6 tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Thanh Hà - Kiểm sát viên.

Trong ngày 03/7/2024, tại trụ sở Toà án nhân dân Quận 6 xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự sơ thẩm thụ lý số 259/2023/TLST-DS ngày 06/12/2023 về việc: “Tranh chấp về hợp đồng dân sự vay tài sản” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 211/2024/QĐXXST-DS ngày 06 tháng 5 năm 2024 và quyết định hoãn phiên tòa số 71/2024/QÐST-DS ngày 05/6/2024 các đương sự:

  • - Nguyên đơn: Ngân hàng thương mại cổ phần S; Địa chỉ trụ sở: 2 N, Phường V, Quận C, Thành phố Hồ Chí Minh.
  • Người đại diện theo ủy quyền: Ông Trần Gia T, sinh năm 1971; Địa chỉ liên lạc: 2 N, Phường V, Quận C, Thành phố Hồ Chí Minh. (có đơn xin vắng mặt). (Giấy ủy quyền số 2421/2023/UQ-TGĐ ngày 11/8/2023).
  • - Bị đơn: Ông Đỗ Quốc T1, sinh năm 1990; Địa chỉ: E Đường số A, Phường A, Quận F, Thành phố Hồ Chí Minh.(vắng mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN

Trong quá trình tham gia tố tụng tại Tòa án, phía nguyên đơn doông Trần Gia T – đại diện theo ủy quyền của Ngân hàng Thương mại cổ phần S trình bày:

Ngày 14/11/2016 ông Đỗ Quốc T1 có ký với Ngân hàng Thương mại cổ phần S hợp đồng sử dụng Thẻ tín dụng bao gồm: giấy đề nghị cấp thẻ tín dụng kiêm hợp đồng và bản điều khoản và điều kiện phát hành và sử dụng thẻ tín dụng, vào mục đích tiêu dùng cá nhân. Căn cứ thu nhập của ông Đỗ Quốc T1, Ngân hàng đồng ý cấp thẻ tín dụng Visasố472074-4646với hạn mức tín dụng là 25.000.000đồng. Theo bản điều khoản và điều kiện phát hành và sử dụng thẻ tín dụng, hai bên thỏa thuận tiền lãi phải trả theo lãi suất do Ngân hàng quyết định (theo Quyết định về việc ban hành biểu phí sản phẩm dịch vụ thẻ S1 phát hành tại V là 2,4%/tháng), thời hạn thanh toán là ngày 31 hàng tháng. Ngân hàng đã phát hành và gửi cho ông Đỗ Quốc T1 thẻ tín dụng số472074-4646.

Sau khi được cấp thẻ tín dụng, ông Đỗ Quốc T2 thực hiện các giao dịch với tổng số tiền gốc là 89.934.474đồng và đã thanh toán 92.985.500đồng. Từ ngày 01/11/2021 ông T1 ngưng thanh toán cho đến nay. Do ông T3 phạm nghĩa vụ thanh toán, nên Ngân hàng đã nhiều lần làm việc, nhắc nhở nhưng ông Đỗ Quốc T4 có thiện chí trả nợ. Ngày 01/11/2021Ngân hàng đã chấm dứt quyền sử dụng thẻ của ông Đỗ Quốc T1, chuyển toàn bộ nợ dư còn thiếu là 27.984.440đồng sang nợ quá hạn. Sau đó vào tháng 12/2021 ông T1 thanh toán 3.800.000 đồng; Tháng 01/2022 ông T1 thanh toán 1.200.000 đồng; Tháng 08/2023 ông T1 thanh toán 3.020.000 đồng. Tổng số tiền ông T1 thanh toán thêm từ khi chuyển nợ quá hạn là 8.020.000đồng.

Tính đến ngày 03/7/2024, ông T1 còn nợ Ngân hàng S1 tổng số tiền là 48.193.140 đồng; Trong đó, nợ gốc là 19.964.440 đồng; Lãi quá hạn là 28.228.700 đồng.

Nay, Ngân hàng Thương mại cổ phần S yêu cầu ông Đỗ Quốc T5 toán tổng số tiền còn nợ tạm tính đến ngày 03/7/2024: 48.193.140 đồng; Trong đó, nợ gốc là 19.964.440 đồng; Lãi quá hạn là 28.228.700 đồngvà tiền lãi phát sinh kể từ ngày 04/7/2024cho đến khi thanh toán xong toàn bộ khoản nợ, trả một lần toàn bộ ngay khi bản án, quyết định của Tòa án có hiệu lực pháp luật.

Bị đơn ông Đỗ Quốc T6 mặt trong suốt quá trình giải quyết tại Tòa án mặc dù đã được Tòa án tống đạt, triệu tập hợp lệ, ông cũng không có văn bản ý kiến phản hồi về yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.

Tại phiên tòa hôm nay đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn có đơn xin vắng mặt, vẫn giữ nguyên yêu cầu khởi kiện

Bị đơn - ông Đỗ Quốc T6 mặt không có lý do đến lần thứ hai mặc dù đã được Tòa án triệu tập hợp lệ.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Quận 6 phát biểu ý kiến: Việc tuân theo pháp luật tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án của Thẩm phán và của Hội đồng xét xử kể từ khi thụ lý vụ án cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử vào nghị án đã đảm bảo các quy định của Bộ luật tố tụng dân sự. Việc chấp hành pháp luật của người tham gia tố tụng, nguyên đơn chấp hành đúng quy định của pháp luật, tại phiên tòa bị đơn ông Đỗ Quốc T2 được Tòa án tống đạt hợp lệ nhưng vẫn vắng mặt lần thứ 2 nên Tòa án xét xử vắng mặt là đúng theo quy định pháp luật. Qua kiểm sát vụ án tại phiên tòa đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên Toà và kết luận của đại diện Viện kiểm sát nhân dân Quận 6 về việc chấp hành pháp luật tố tụng và nội dung của vụ án, Hội đồng xét xử nhận định:

[1] Về tố tụng và thẩm quyền giải quyết:

Ngân hàng TMCP S khởi kiện ông Đỗ Quốc T7 cầu thanh toán tiền vay. Do đó, căn cứ vào khoản 3 Điều 26 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015 vụ án thuộc tranh chấp dân sự: “Hợp đồng dân sự vay tài sản”.

Nguyên đơn Ngân hàng TMCP S có đơn khởi kiện ông Đỗ Quốc T8 hộ khẩu thường trú tại số E Đường số A, Phường A, Quận F, TP .. Căn cứ vào khoản 3 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 nên thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân Quận 6.

[2]Thời hiệu khởi kiện vụ án:

Căn cứ vào thời điểm ông Đỗ Quốc T9 thanh toán các khoản theo thỏa thuận cho Ngân hàng TMCP S bắt đầu vào ngày 01/11/2021. Ngày 21/9/2023 Ngân hàng TMCP S nộp đơn khởi kiện tại Tòa án nhân dân Quận 6. Thời hiệu khởi kiện đối với hợp đồng dân sự được xác định là 03 năm kể từ ngày quyền và lợi ích bị xâm phạm theo quy định tại Điều 429, 688 Bộ luật dân sự 2015 nên việc khởi kiện vẫn còn trong thời hiệu khởi kiện.

[3] Xét yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn:

[3.1] Căn cứ Giấy đề nghị cấp thẻ tín dụng kiêm hợp đồng ký ngày 14/11/2016thể hiện ông Đỗ Quốc T10 Ngân hàng TMCP S có ký hợp đồng sử dụng thẻ tín dụng, theo đó Ngân hàng cấp tín chấp 01 thẻ tín dụng Visasố472074-4646hạn mức 25.000.000đồng cho ông Đỗ Quốc T1, lãi suất và phí theo ấn định của Ngân hàng trong từng thời kỳ được đăng tải công khai. Do đó, đủ cơ sở xác định hai bên đã xác lập giao dịch về hợp đồng dân sự vay tài sản; bên cho vay là Ngân hàng TMCP S và bên vay là ông Đỗ Quốc T1.

[3.2] Căn cứ các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án và sự thừa nhận của Ngân hàng, thể hiện từ sau ngày 01/11/2021ông T1 đã vi phạm thời hạn thanh toán theo cam kết tronghợp đồng sử dụng thẻ tín dụng. Tạm tính đến ngày 03/7/2024, ông T11 nợ Ngân hàng TMCP S số tiền 48.193.140 đồng; Trong đó, nợ gốc là 19.964.440 đồng; Lãi quá hạn là 28.228.700 đồng. Do ông T3 phạm nghĩa vụ trả nợ, Ngân hàng yêu cầu ông T8 trách nhiệm thanh toán toàn bộ số tiền nợ là 48.193.140 đồng là phù hợp theo quy định tại Điều 91 và Điều 95 Luật các tổ chức tín dụng.

[3.3] Về thời hạn thanh toán:

Hội đồng xét xử xét, căn cứ vào quy định về nghĩa vụ trả nợ của bên vay thì bên vay tiền phải trả đủ tiền khi đến hạn. Mặt khác, số tiền thiếu nợ nêu trên đã kéo dài, làm ảnh hưởng đến quyền và lợi ích hợp pháp của nguyên đơn trong việc thu hồi nợ. Do đó, buộc ông T12 trả một lần, ngay sau khi bản án có hiệu lực pháp luật, thực hiện tại Cơ quan thi hành án dân sự có thẩm quyền.

Kể từ ngày tiếp theo của ngày xét xử sơ thẩm cho đến khi thi hành án xong, ông Đỗ Quốc T13 phải tiếp tục chịu khoản tiền lãi quá hạn của số tiền nợ gốc chưa thanh toán, theo mức lãi suất mà các bên thỏa thuận trong hợp đồng cho đến khi thanh toán xong khoản nợ gốc này. Trường hợp trong hợp đồng tín dụng, các bên có thỏa thuận về việc điều chỉnh lãi suất cho vay theo từng thời kỳ của Ngân hàng cho vay thì lãi suất mà ông Đỗ Quốc T14 tiếp tục thanh toán cho Ngân hàng cho vay theo quyết định của Tòa án cũng sẽ được điều chỉnh cho phù hợp với sự điều chỉnh lãi suất của Ngân hàng cho vay.

[4] Về án phí dân sự sơ thẩm: Do chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, nên nguyên đơn không phải chịu tiền án phí dân sự sơ thẩm, hoàn trả lại cho nguyên đơn tiền tạm ứng án phí đã nộp; Bị đơn ông Đỗ Quốc T14 chịu tiền án phí dân sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào Khoản 3 Điều 26; Điểm a Khoản 1 Điều 35; Điểm a Khoản 1 Điều 39; Điều 147, Điều 184, Điều 227, Điều 228, Điều 238, Điều 273 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015;

Căn cứ vào Điều 90, Điều 91, Điều 95 và Điều 98 Luật các tổ chức tín dụng năm 2010;

Căn cứ vào Điều 385, Điều 429, Điều 463, Điều 465, Điều 466, Điều 688 Bộ luật Dân sự 2015.

Căn cứ Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Tuyên xử:

  1. Chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn:
  2. Buộc ông Đỗ Quốc T8 trách nhiệm trả cho Ngân hàng TMCP S số tiền là 48.193.140 đồng (Bốn mươi tám triệu một trăm chín mươi ba nghìn một trăm bốn mươi đồng); Trong đó nợ gốc: 19.964.440 đồng; Lãi quá hạn là 28.228.700 đồng. Trả một lần ngay sau khi án có hiệu lực pháp luật.

    Kể từ ngày tiếp theo của ngày xét xử sơ thẩm cho đến khi thi hành án xong, ông Đỗ Quốc T13 phải tiếp tục chịu khoản tiền lãi quá hạn của số tiền nợ gốc chưa thanh toán, theo mức lãi suất mà các bên thỏa thuận trong hợp đồng cho đến khi thanh toán xong khoản nợ gốc này. Trường hợp trong hợp đồng tín dụng, các bên có thỏa thuận về việc điều chỉnh lãi suất cho vay theo từng thời kỳ của Ngân hàng cho vay thì lãi suất mà ông Đỗ Quốc T14 tiếp tục thanh toán cho Ngân hàng cho vay theo quyết định của Tòa án cũng sẽ được điều chỉnh cho phù hợp với sự điều chỉnh lãi suất của Ngân hàng cho vay.

    Ngân hàng TMCP S và ông Đỗ Quốc T1 thực hiện việc giao và nhận tiền tại Chi cục Thi hành án dân sự có thẩm quyền.

  3. Án phí dân sự sơ thẩm:
  4. 2.1. Ông Đỗ Quốc T14 chịu án phí dân sự sơ thẩm là 2.409.657 đồng (Hai triệu bốn trăm linh chín nghìn sáu trăm năm mươi bảy đồng).

    2.2.Ngân hàng TMCP S2 phải chịu án phí dân sự sơ thẩm. H lại cho Ngân hàng TMCP S số tiền tạm ứng án phí 1.036.328 đồng (Một triệu không trăm ba mươi sáu nghìn ba trăm hai mươi tám đồng) theo biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0038653 ngày 06/12/2023 của Chi cục Thi hành án dân sự Quận 6.

  5. Về quyền kháng cáo, kháng nghị: Các đương sự được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Đối với đương sự vắng mặt được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc niêm yết bản án. Viện kiểm sát được quyền kháng nghị theo quy định của pháp luật.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6,7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

Nơi nhận:

- Viện kiểm sát nhân dân Quận 6;

- Chi cục Thi hành án dân sự Quận 6 ;

-Các đương sự (để thi hành);

-Lưu.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Huỳnh Thị Kim Thương

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 180/2024/DS-ST ngày 03/07/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN 6 THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH về tranh chấp hợp đồng vay tài sản

  • Số bản án: 180/2024/DS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hợp đồng vay tài sản
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 03/07/2024
  • Loại vụ/việc: Dân sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN 6 THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: chap nhan yeu cau
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger