|
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BÌNH THUẬN |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc |
|
Bản án số: 170/2023/DS-PT Ngày 20-12-2023 V/v: “Tranh chấp hợp đồng vay tài sản” |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BÌNH THUẬN
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Văn Thành
Các Thẩm phán:
- Ông Lê Minh Tuấn
- Bà Phạm Phong Lan
- Thư ký phiên tòa: Bà Hoàng Thị Hà Trang - Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Bình Thuận.
- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân tỉnh Bình Thuận tham gia phiên tòa: Ông Đinh Văn Lai - Kiểm sát viên.
Ngày 20 tháng 12 năm 2023, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Bình Thuận xét xử phúc thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số 197/2023/TLPT-DS ngày 09 tháng 11 năm 2023 về việc “Tranh chấp hợp đồng vay tài sản”. Do bản án dân sự sơ thẩm số 44/2023/DS-ST ngày 07 tháng 9 năm 2023 của Tòa án nhân dân thị xã La Gi bị kháng cáo.
Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số 202/2023/QĐ-PT ngày 27 tháng 11 năm 2023 và Quyết định hoãn phiên tòa số 145/2023/QĐ-PT ngày 08 tháng 12 năm 2023 của Tòa án nhân dân tỉnh Bình Thuận, giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Bà Nghê Thiên K, sinh năm 1979
Địa chỉ: Hẻm D N, khu phố E, phường T, thị xã L, tỉnh Bình Thuận.
- Bị đơn: Bà Huỳnh Thị M, sinh năm 1975
Địa chỉ: Hẻm B, Nguyễn Chí T, khu phố A, phường B, thị xã L, tỉnh Bình Thuận.
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Bà Lương Thị Bích N, sinh năm 1999
Địa chỉ: Hẻm B, Nguyễn Chí T, khu phố A, phường B, thị xã L, tỉnh Bình Thuận.
Người kháng cáo: Bị đơn bà Huỳnh Thị M.
Tại phiên tòa có mặt bà Nghê Thiên K, bà Huỳnh Thị M; vắng mặt bà Lương Thị Bích N (có đơn xin xét xử vắng mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo bản án sơ thẩm thì nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
- Ý kiến của nguyên đơn, theo đơn khởi kiện ngày 10/5/2023 và tại phiên tòa, nguyên đơn bà Nghê Thiên K trình bày:
Ngày 15/01/2017, bị đơn bà Huỳnh Thị M có vay của bà 185.000.000 đồng, lãi suất hai bên thỏa thuận 5%/ tháng. Thời hạn vay 12 tháng, tuy nhiên sau khi hết thời hạn vay 12 tháng thì bị đơn không hoàn trả lại cho bà số tiền gốc. Bị đơn chỉ trả lãi hai năm đầu cho bà tổng cộng 157.000.000 đồng. Nay khoản vay đã quá thời hạn từ lâu và bà yêu cầu bị đơn phải thực hiên trả nợ nhưng bị đơn không thực hiện. Nay nguyên đơn yêu cầu Tòa án buộc bị đơn phải hoàn trả lại khoảng tiền vay 185.000.000 đồng gốc. Tiền lãi yêu cầu 20%/năm thời hạn tính từ ngày 15/01/2017 cho đến ngày 10/5/2023 theo mức lãi suất 20%/năm, tạm tính là 80.000.000 đồng. Tại phiên tòa bà đề nghị Tòa án tính lãi theo quy định của nhà nước và trừ đi số lãi bà đã nhận là 157.000.000 đồng. Nếu sau khi trừ, số tiền còn lại thấp hơn 80.000.000 đồng hoặc nhiều hơn 80.000.000 đồng bà cũng đồng ý chấp nhận.
- Ý kiến bị đơn bà Huỳnh Thị M trình bày:
Trước đây bà thừa nhận ngày 15/01/2017 bà có vay của bà Nghê Thiên K số tiền là 160.000.000 đồng là do bà không nhớ. Nay bà xác định lại ngày 15/01/2017 bà có vay của bà Nghê Thiên K số tiền 185.000.000 đồng như giấy vay nợ bà K đã nộp cho Tòa án. Khi vay không thỏa thuận lãi suất trên giấy vay nợ và vì tin tưởng nhau nên hàng ngày bà trả lãi cho bà K 300.000 đồng cũng không ghi giấy. Bà đã trả lãi cho bà K liên tục trong 03 năm với số tiền khoảng 324.000.000 đồng. Đến tháng 2/2021, thấy tiền lãi quá nặng nên bà có xin giảm lãi nhưng bà K không chấp nhận, sau đó bà có liên hệ với bà K để trả số tiền gốc 185.000.000 đồng thì bà K đồng ý. Trong vòng 02 tháng tính từ tháng 02/2021, bà đã nhiều lần trả gốc cho bà K với số tiền 135.000.000 đồng nhưng khi trả không làm giấy tờ gì nên bà không có tài liệu chứng minh.
Nay bà K xác định đã nhận của bà 157.000.000 đồng thì bà xin trả thêm cho bà K 28.000.000 đồng, bà không đồng ý trả lãi.
- Ý kiến người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan bà Lương Thị Bích N: Bà có cùng ý kiến với mẹ bà là bà Huỳnh Thị M.
Tại Bản án dân sự sơ thẩm số 44/2023/DS-ST ngày 07 tháng 9 năm 2023 của Tòa án nhân dân thị xã La Gi đã quyết định:
Căn cứ: Khoản 3 Điều 26 điểm a khoản 1 Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39, của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 Điều 463, và khoản 1 Điều 468 Bộ luật Dân sự năm 2015, Khoản 3 Điều 26 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH ngày 30/12/2016.
Tuyên xử: Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của bà Nghê Thiên K.
- Buộc bà Huỳnh Thị M phải hoàn trả cho bà Nghê Thiên K số tiền là 378.266.652 đồng (ba trăm bảy mươi tám triệu hai tăm sáu mươi sáu ngàn sáu trăm năm mươi hai đồng). Trong đó gồm 185.000.000 đồng gốc và 193.266.625 đồng tiền lãi.
- Về án phí:
Kể từ ngày tiếp theo của ngày xét xử sơ thẩm cho đến khi thi hành xong, bên phải thi hành án còn phải chịu khoản lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại khoản 1 Điều 468 Bộ luật Dân sự năm 2015.
- Bà Huỳnh Thị M phải chịu 18.913.000 đồng án phí dân sự sơ thẩm.
- Hoàn trả lại cho bà Nghê Thiên K 6.625.000 đồng tiền tạm ứng án phí án phí đã nộp theo biên lai thu số 0016496 ngày 25/5/2023 của Chi cục Thi hành án dân sự thị xã La Gi.
Ngoài ra, bản án sơ thẩm còn quyết định về quyền kháng cáo, quyền và nghĩa vụ thi hành án của các đương sự.
Sau khi xét xử sơ thẩm:
Ngày 18 tháng 9 năm 2023, bị đơn bà Huỳnh Thị M kháng cáo toàn bộ bản án dân sự sơ thẩm số 44/2023/DS-ST ngày 07 tháng 9 năm 2023 của Tòa án nhân dân thị xã La Gi.
Tại phiên tòa phúc thẩm:
- Nguyên đơn vẫn giữ nguyên yêu cầu khởi kiện.
- Bị đơn giữ nguyên yêu cầu kháng cáo.
- Kiểm sát viên tham gia phiên tòa phát biểu ý kiến của Viện kiểm sát về việc tuân theo pháp luật trong quá trình giải quyết vụ án ở giai đoạn phúc thẩm và quan điểm giải quyết vụ án:
+ Về thủ tục tố tụng: Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa và các thành viên Hội đồng xét xử, Thư ký đã thực hiện đúng theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự;
các đương sự tham gia tố tụng chấp hành đúng quyền và nghĩa vụ theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự.
+ Về nội dung vụ án: Đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ khoản 1 Điều 308 Bộ luật tố tụng dân sự không chấp nhận kháng cáo của bị đơn bà Huỳnh Thị M, giữ nguyên bản án dân sự sơ thẩm số 44/2023/DS-ST ngày 07 tháng 9 năm 2023 của Tòa án nhân dân thị xã La Gi.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án đã được xem xét tại phiên tòa, kết quả tranh tụng tại phiên tòa và ý kiến của Viện Kiểm sát nhân dân tỉnh Bình Thuận, Hội đồng xét xử nhận thấy:
[1] Về thủ tục tố tụng:
- Bị đơn bà Huỳnh Thị M kháng cáo trong thời hạn, đúng thủ tục pháp luật quy định nên vụ án được xem xét theo thủ tục phúc thẩm.
- Tòa án sơ thẩm xác định quan hệ pháp luật tranh chấp và giải quyết là đúng quy định tại khoản 3 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự.
[2] Về sự vắng mặt của các đương sự: Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan bà Lương Thị Bích N vắng mặt nhưng có đơn xin xét xử vắng mặt. Căn cứ khoản 2 Điều 296 Bộ luật Tố tụng dân sự, Tòa án tiến hành xét xử vắng mặt đương sự theo quy định.
[3] Xét kháng cáo của bị đơn bà Huỳnh Thị M:
[3.1] Về nội dung: Căn cứ giấy vay nợ lập ngày ngày 15/01/2017 có chữ ký của bà Huỳnh Thị M, trong ngày 15/01/2017, bị đơn có vay của nguyên đơn số tiền 185.000.000 đồng. Lãi suất thỏa thuận 5%/tháng, thời hạn vay 12 tháng. Bị đơn xác nhận số nợ trên nhưng cho rằng đã trả lãi 324.000.000 đồng và trả gốc 135.000.000 đồng, nay chỉ đồng ý trả gốc 28.000.000 đồng, không đồng ý trả lãi.
[3.2] Quá trình thực hiện nghĩa vụ trả nợ: Theo nguyên đơn thì sau khi vay, bị đơn không thực hiện nghĩa vụ trả nợ cho nguyên đơn, bị đơn chỉ trả tiền lãi hai năm đầu số tiền 37.000.000 đồng, sau đó ngừng không trả tiền lãi, đến năm thứ 5 trả số tiền 120.000.000 đồng. Nguyên đơn xác nhận bị đơn trả cho nguyên đơn tổng số tiền lãi là 157.000.000 đồng. Ngược lại bị đơn cho rằng đã trả lãi cho nguyên đơn liên tục trong 03 năm với số tiền khoảng 324.000.000 đồng. Đến tháng 2/2021, thì trả nợ gốc nhiều lần cho nguyên đơn với số tiền 135.000.000 đồng, nay bà xác định chỉ còn nợ bà K 28.000.000 đồng. Quá trình trả nợ gốc cho nguyên đơn, bị đơn không làm giấy tờ gì và không có tài liệu gì chứng minh.
[3.3] Về lãi suất: Giao dịch vay tiền giữa nguyên đơn và bị đơn xác lập ngày 15/01/2017, đây là giao dịch vay tiền có thời hạn và có thỏa thuận về lãi
suất. Tuy nhiên lãi suất hai bên thỏa thuận 5%/tháng là vượt quá mức lãi suất theo quy định tại khoản 1 Điều 468 Bộ luật Dân sự nên phần thỏa thuận vượt quá không có hiệu lực. Tòa án cấp sơ thẩm tuyên buộc bị đơn phải hoàn trả cho nguyên đơn 193.266.625 đồng tiền lãi (lãi suất từ khi vay ngày 15/01/2017 đến ngày xét xử sơ thẩm) là có căn cứ.
Trong quá trình xét xử phúc thẩm và tại phiên tòa, người kháng cáo là bị đơn bà Huỳnh Thị M không đưa ra được các tài liệu, chứng cứ mới để chứng minh việc đã trả số tiền nợ gốc và lãi cho nguyên đơn nên không có cơ sở để xem xét.
[4] Ý kiến của Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bình Thuận tại phiên tòa trùng với nhận định của Hội đồng xét xử nên được chấp nhận.
Từ những nhận định trên, xét thấy kháng cáo của bị đơn là không có cơ sở.
[5] Những quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, không bị kháng nghị có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
6] Về án phí: Do kháng cáo không được chấp nhận nên bị đơn bà Huỳnh Thị M phải chịu án phí phúc thẩm.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ khoản 1 Điều 308 Bộ luật Tố tụng dân sự;
Không chấp nhận yêu cầu kháng cáo của bị đơn bà Huỳnh Thị M.
Giữ nguyên bản án dân sự sơ thẩm số 44/2023/DS-ST ngày 07 tháng 9 năm 2023 của Tòa án nhân dân thị xã La Gi.
Căn cứ: Khoản 3 Điều 26 điểm a khoản 1 Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015; Điều 463, khoản 1 Điều 468 Bộ luật Dân sự năm 2015; Nghị quyết 01/2019/NQ/HĐTP ngày 11/01/2019 hướng dẫn áp dụng một số quy định của pháp luật về lãi, lãi suất, phạm vi phạm của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao; Khoản 3 Điều 26, khoản 1 Điều 29 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí tòa án.
Tuyên xử: Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của bà Nghê Thiên K.
- Buộc bà Huỳnh Thị M phải hoàn trả cho bà Nghê Thiên K số tiền là 378.266.652 đồng (Ba trăm bảy mươi tám triệu hai trăm sáu mươi sáu ngàn sáu trăm năm mươi hai đồng). Trong đó gồm 185.000.000 đồng gốc và 193.266.625 đồng tiền lãi.
- Về án phí:
Kể từ ngày tiếp theo của ngày xét xử sơ thẩm (đối với các khoản tiền phải trả cho người được thi hành án) cho đến khi thi hành án xong, bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại Điều 357, Điều 468 của Bộ luật Dân sự năm 2015, trừ trường hợp pháp luật có quy định khác.
- Bà Huỳnh Thị M phải chịu 18.913.000 đồng án phí dân sự sơ thẩm.
- Hoàn trả lại cho bà Nghê Thiên K 6.625.000 đồng tiền tạm ứng án phí án phí đã nộp theo biên lai thu số 0016496 ngày 25/5/2023 của Chi cục Thi hành án dân sự thị xã La Gi.
- Bà Huỳnh Thị M phải chịu 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) án phí dân sự phúc thẩm, nhưng được trừ vào số tiền 300.000 đồng tạm ứng án phí theo biên lai số 0016715 ngày 09/10/2023 tại Chi cục thi hành án dân sự thị xã La Gi.
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật thi hành án dân sự, thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
- Những quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, không bị kháng nghị có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.
|
Nơi nhận:
|
TM.HỘI ĐỒNG XÉT XỬ THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TOÀ Nguyễn Văn Thành |
Bản án số 170/2023/DS-PT ngày 20/12/2023 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BÌNH THUẬN về tranh chấp hợp đồng vay tài sản
- Số bản án: 170/2023/DS-PT
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hợp đồng vay tài sản
- Cấp xét xử: Phúc thẩm
- Ngày ban hành: 20/12/2023
- Loại vụ/việc: Dân sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BÌNH THUẬN
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Nghê Thiên Kim kiện Huỳnh Thị M về việc “Tranh chấp hợp đồng vay tài sản”
