|
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH TIỀN GIANG |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
|
Bản án số: 170/2024/HS-PT Ngày: 20/9/2024 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH TIỀN GIANG
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Lê Huy.
Các Thẩm phán: Ông Mai Văn Hùng Cường;
Ông Trần Văn Đạt.
- Thư ký phiên tòa: Ông Hoàng Hà Phan, Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Tiền Giang.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Tiền Giang tham gia phiên tòa: Ông Hồ Minh Hiếu, Kiểm sát viên.
Ngày 20 tháng 9 năm 2024, tại trụ sở Toà án nhân dân tỉnh Tiền Giang xét xử phúc thẩm công khai vụ án hình sự phúc thẩm thụ lý số 163/2024/TLPT-HS ngày 26 tháng 8 năm 2024 do có kháng cáo của bị cáo Hồ Cẩn N đối với Bản án hình sự sơ thẩm số 19/2024/HS-ST ngày 17 tháng 7 năm 2024 của Tòa án nhân dân huyện Gò Công Tây, tỉnh Tiền Giang.
Bị cáo có kháng cáo: Hồ Cẩn N, sinh năm 1989, tại tỉnh Tiền Giang; nơi cư trú: ấp B, xã V, huyện G, tỉnh Tiền Giang; CCCD số: [...]; nghề nghiệp: công chức. quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: kinh; tôn giáo: không; trình độ văn hóa: lớp 12/12; con ông Hồ Văn N1, sinh năm 1965 và bà Lưu Thị Kim H, sinh năm 1965; tiền án, tiền sự: không; bị cấm đi khỏi nơi cư trú từ ngày 11/01/2024 đến ngày 24/6/2024. Bị cáo có mặt tại phiên tòa.
Ngoài ra, bản án còn có bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan nhưng không kháng cáo, bản án không bị kháng nghị.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Bị cáo Hồ Cẩn N là kế toán của Văn phòng Hội đồng nhân dân và Ủy ban nhân dân huyện G (sau đây gọi tắt là Văn phòng HĐND-UBND huyện). Trong quá trình thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn được phân công bị cáo N đã lạm dụng quyền hạn được giao thực hiện hành vi nhiều lần chiếm đoạt tài sản của Văn phòng HĐND-UBND huyện; Cụ thể:
Vụ thứ nhất:
Vào tháng 6/2021, ông Nguyễn Văn T – Chánh văn phòng – Văn phòng HĐND-UBND huyện phân công Nhung (trực tiếp, bằng lời nói) lắp đặt 01 (một) bộ máy vi tính để bàn cấu hình Intel® Core i3 10100, Mainboard H, RAM 8GB DDRAM4, SSD 240GB và màn hình LG 20 inch cho chị Trần Thị Hoài N2- Chuyên viên y tế Văn phòng HĐND-UBND sử dụng. N lấy mainboard, ổ cứng HDD của máy vi tính cũ của chị N2 gắn vào bộ máy mới được cấp, rồi cập nhật driver để cho chị N2 sử dụng. Còn mainboard H410, ổ cứng SSD 240GB của máy mới thì N cất giữ, chiếm đoạt.
Căn cứ Bản kết luận định giá tài sản số 06 ngày 25/03/2024 của Hội đồng định giá tài sản huyện G kết luận: Giá trị 01 mainboard H410, ổ cứng SSD 240GB Nhung chiếm đoạt có tổng giá trị 2.650.000 đồng.
Vụ thứ hai:
Vào tháng 10/2021, ông Nguyễn Văn T phân công bị cáo N (trực tiếp, bằng lời nói) tiếp tục lắp đặt 02 (hai) bộ máy tính vi tính đồng bộ thương hiệu Việt Nam, mã hiệu FPT Elead T101001 cho chị Lưu Thị Đỗ U-Chuyên viên và Nguyễn Trung H1- Phó Chánh văn phòng. N đã lấy ổ cứng HDD của máy vi tính cũ của chị U, ông H1 gắn vào máy mới được cấp, rồi cập nhật driver để chị U, ông H1 sử dụng. Còn 02 ổ cứng SSD của máy vi tính FPT Elead T10100 của máy mới thì N cất giữ, chiếm đoạt.
Căn cứ Bản kết luận định giá tài sản số 06 ngày 25/03/2024 của Hội đồng định giá tài sản huyện G kết luận: Giá trị 02 ổ cứng SSD của máy vi tính F chiếm đoạt có tổng giá trị 2.600.000 đồng.
Vụ thứ ba:
Vào tháng 11/2021, ông T giao bị cáo N (trực tiếp, bằng lời nói) mua 01 (một) thùng máy vi tính (đầu CPU) để phục vụ cho công tác soạn thảo văn bản bí mật Nhà nước. N đã liên hệ anh Lý Minh T1, sinh năm1986, đăng ký thường trú số 316, T, khóm A, phường E, thành phố S, tỉnh Sóc Trăng – Chủ Cửa hàng Vi tính MTC địa chỉ số B, Quốc lộ E, xã Đ, huyện G, Tiền Giang để hỏi mua hóa đơn với thông tin trên hóa đơn là mua 01 (một) thùng máy vi tính VSP cấu hình Intel G5400, main H310, Ram 4GB, SSD 240GB, nguồn 450W, bàn phím, chuột quang với số tiền 8.800.000 đồng (tám triệu tám trăm nghìn đồng), N sẽ chịu tiền thuế, anh T1 đồng ý. N nảy sinh ý định chiếm đoạt giá trị chênh lệnh, nên tự mua linh kiện lắp ráp thành 01 (một) thùng máy vi tính (đầu CPU) có cấu hình Intel G2120; main H61; RAM 2G; SSD 180GB; case 450W; bàn phím; chuột quang (cấu hình thấp hơn) với giá trị 3.900.000 đồng (ba triệu chín trăm nghìn đồng) giao cho Văn phòng HĐND-UBND huyện, rồi làm làm thủ tục chuyển số tiền 8.800.000 đồng vào số tài khoản 71010001098890 của T1. Sau khi nhận được tiền, anh T1 trừ đi tiền thuế là 132.000 đồng (1.5%), rồi chuyển khoản lại cho N số tiền 8.668.000 đồng (tám triệu sáu trăm sáu mươi tám nghìn đồng) vào số tài khoản 6905215029996 của bị cáo N. Số tiền chênh lệch bị cáo N chiếm đoạt là 4.900.000 đồng, bị cáo N sử dụng vào mục đích cá nhân hết.
Căn cứ Bản kết luận định giá tài sản số 06 ngày 25/03/2024 của Hội đồng định giá tài sản huyện G kết luận:
- Thùng máy vi tính để bàn VSP chi tiết: Intel G5400; main H310; RAM 4GB; SSD 240GB; case 450W; bàn phím; chuột quang có giá trị 8.800.000 đồng;
- Thùng máy vi tính để bàn VSP chi tiết: Intel G2120; main H61; RAM 2G; SSD 180GB; case 450W; bàn phím; chuột quang có giá trị 3.900.000 đồng;
Vụ thứ tư:
Vào khoảng tháng 12/2021, bị cáo N được ông T phân công (trực tiếp, bằng lời nói) làm thủ tục thanh lý 07 bộ máy vi tính và 01 máy photo nhãn hiệu Sharp của đơn vị do hết giá trị sử dụng. Tuy nhiên, sau khi được phân công bị cáo N không lập hồ sơ, thủ tục bán thanh lý tài sản đúng quy định mà đã tự liên hệ anh Hứa Văn Hồng T2, sinh năm 1988, ngụ ấp B, xã B, huyện G, tỉnh Tiền Giang – là chủ cửa hàng “Vi tính Bảo Tín C” để bán 01 máy photo được số tiền 1.500.000 đồng nhưng N không nộp vào Ngân sách nhà nước theo quy định mà sử dụng hết vào mục đích cá nhân.
Đối với 07 máy vi tính, bị cáo N đã bán cho anh Nguyễn Thanh X, sinh năm 1977, ngụ khu phố B, thị trấn V, huyện G, tỉnh Tiền Giang được số tiền 864.000 đồng, chị Đỗ Thị Ngọc B – Phó Chánh văn phòng – Văn phòng HĐND-UBND huyện đã trực tiếp nhận số tiền trên để nhập vào quỹ đơn vị, chờ N hoàn thành thủ tục thanh lý sẽ nộp vào Ngân sách nhà nước theo đúng quy định. Tuy nhiên, đến nay N không thực hiện thủ tục thanh lý đối với số tài sản trên nên Văn phòng HĐND-UBND huyện không nộp vào Ngân sách nhà nước được.
Vụ thứ năm:
Vào tháng 12/2021, sau khi nhận bàn giao từ Ban quản lý dự án huyện G, ông Nguyễn Văn T giao cho bị cáo N (trực tiếp, bằng lời nói) quản lý 08 bộ máy vi tính để bàn FPT Elead Core i3 10100 và đề xuất phân bổ, thay thế, lắp đặt cho các chuyên viên trong văn phòng sử dụng. N đã phân bổ 05 bộ máy cho các chuyên viên trong văn phòng sử dụng, còn 03 bộ máy Nhung cất giữ vào kho của Văn phòng HĐND-UBND huyện. Đến cuối tháng 12/2021, N nảy sinh ý định chiếm đoạt, nên lợi dụng lúc ngày nghỉ cuối tuần, Văn phòng HĐND-UBND huyện vắng người sử dụng xe môtô hai bánh biển số 63B5-059.21 (của bà Lưu Thị Kim H, sinh năm 1965, ngụ ấp B, xã V, huyện G là mẹ ruột N) chở 03 bộ máy vi tính trên đem về nhà N tại ấp B, xã V, huyện G, tỉnh Tiền Giang cất giấu.
Đến tháng 3/2022, ông Nguyễn Văn T phân công bị cáo N mua 01 bộ máy vi tính để bàn cho anh Nguyễn Văn P - Chuyên viên tiếp nhận và giao trả kết quả của Văn phòng HĐND-UBND huyện. Bị cáo N nảy sinh ý định bán lại cho Văn phòng HĐND-UBND huyện 01 bộ máy vi tính đã chiếm đoạt trước đó, nên liên hệ với anh Trần Huỳnh T3, sinh năm 1987, ngụ khu phố A, thị trấn V, huyện G, tỉnh Tiền Giang - là chủ Cửa hàng Máy văn phòng-Camera-P-Thiết bị thông minh Trần K để làm hợp đồng mua bán 01 bộ máy vi tính để bàn hiệu F1 i3 10100 (cùng cấu hình với máy đã chiếm đoạt của Văn phòng HĐND-UBND huyện) với giá 13.000.000đ (mười ba triệu đồng). Sau khi hoàn chỉnh hợp đồng, bị cáo N nhận 01 (một) bộ máy vi tính từ anh T3 và tiến hành thủ tục quyết toán đúng quy định. Tuy nhiên, bị cáo N không bàn giao máy mua của anh T3 cho Văn phòng HĐND-UBND huyện mà đem về nhà cất rồi lấy bộ máy vi tính đã chiếm đoạt trước đó đem đến Văn phòng HĐND-UBND huyện lắp đặt cho anh P sử dụng. Còn bộ máy mua của anh T3, bị cáo N đã bán cho người thanh niên (không rõ họ tên, địa chỉ) được số tiền 10.000.000 đồng (mười triệu đồng) và N đã tiêu xài hết.
Đến tháng 10/2022, bị cáo N điều chuyển công tác đến Phòng Lao động Thương binh và Xã hội huyện G, được ông Trần Văn T4- Trưởng phòng phân công N mua 01 (một) thùng (đầu) CPU máy vi tính để bàn hiệu F1 i3 10100. Tương tự như lần trước, bị cáo N đã liên hệ anh Hứa Văn Hồng T2, sinh năm 1987, ngụ ấp B, xã B, huyện G, Tiền Giang - là Chủ Cửa hàng V để tiến hành thủ tục mua 01 (một) thùng (đầu) CPU máy vi tính để bàn hiệu F1 i3 10100 (cùng cấu hình với máy đã chiếm đoạt của Văn phòng HĐND-UBND huyện) với giá 10.650.000 đồng (mười triệu sáu trăm năm mươi nghìn đồng). Sau khi nhận thùng (đầu) máy vi tính mới mua của anh T2, N đem về nhà cất, lấy thùng (đầu) máy vi tính đã chiếm đoạt trước đó đem đến và bàn giao cho Phòng L. Đến tháng 02/2023, ông T4 tiếp tục phân công N mua 01 (một) màn hình máy vi tính của máy vi tính. N tiếp tục liên hệ anh T2 mua 01 (một) màn hình máy vi tính giống như màn hình chiếm đoạt trước đó với giá 2.700.000 đồng (hai triệu bảy trăm nghìn đồng). Sau khi nhận màn hình máy vi tính, N đem về nhà cất, lấy màn hình máy tính chiếm đoạt trước đó đến bàn giao cho Phòng Lao động Thương binh và Xã hội huyện G. Đối với 01 (một) thùng CPU máy vi tính và màn hình máy vi tính mà N mua của anh T2, bị cáo N đã bán cho người thanh niên (không rõ họ tên, địa chỉ) được số tiền 10.000.000 đồng (mười triệu đồng) và bị cáo N đã tiêu xài cá nhân hết.
Đối với 01 (một) bộ máy vi tính để bàn hiệu FPT Elead Core i3 10100 còn lại N vẫn cất giấu tại nhà. Sau đó, bị cáo N đã giao nộp cho Cơ quan điều tra.
Căn cứ Bản kết luận định giá tài sản số 17 ngày 18/7/2023 của Hội đồng định giá tài sản huyện G kết luận: Giá trị 03 bộ máy vi tính để bàn hiệu F1 i3 10100 FPT Elead Core i3 10100 là 36.000.000 đồng.
Vụ thứ sáu:
Vào tháng 12/2021, ông T phân công bị cáo N mua sắm (trực tiếp, bằng lời nói) 02 (hai) bộ máy vi tính để bàn để trang cấp cho chị Lê Nhất N3- Phó chủ tịch HĐND huyện và anh Nguyễn Thanh P1 - Trưởng Ban kinh tế xã hội, HĐND huyện và 01 (một) máy vi tính xách tay (laptop) để trang cấp cho ông T. Tương tự như trên, bị cáo N liên hệ anh Lý Minh T1 mua hóa đơn với thông tin trên hóa đơn là mua 02 (hai) bộ máy vi tính để bàn FPT cấu hình Intel G5600, main H310, DDR4 2666MHz 4GB, SSD 500GB, 19,5 inch Led, case 450W, bàn phím, chuột quang; 01 (một) máy tính xách tay ACER cấu hình Intel Core i3 8130U 2,20GHz, DDR4 2400MHz 4GB, SSD 256GB PCIe, màn hình 15,6inch, sạc và 01 (một) máy in Canon LBP6030 (mua trên mạng và đúng giá trị) có giá trị 41.600.000 đồng, anh T1 đồng ý. Bị cáo N tự đặt mua linh kiện lắp ráp thành 02 bộ máy vi tính để bàn FPT có cấu hình thấp hơn ( 01 bộ có cấu hình Intel ® G3460; main H81; DDR3/4G; SSD 60GB + HDD 250G; màn hình FPT 20 inch; case 450W; bàn phím FPT; chuột quang FPT và 01 bộ có cấu hình Intel ® G3460; main H81; DDR3/2G x2; SSD 60GB + HDD 250G; màn hình FPT 19,5 inch/2014; case 450W; bàn phím FPT; chuột Gienus), và đặt mua 01 máy tính xách tay ACER cấu hình thấp hơn (A i3 5005U 2,20GHz; DDR4 2400MHz 4GB; SSD 240GB 06 Maxtor; màn hình LED 15,6inch; webcam HD; wifi; bluetooth; 2xUSB 3.0, USB 2.0, HDMI, VGA, DVD-RW, LAN RJ45, Pin 3 cell; 1,9kg) với tổng giá trị khoảng 27.800.000 đồng giao cho Văn phòng HĐND-UBND, rồi N làm thủ tục chuyển số tiền 41.600.000 đồng cho anh T1. Sau khi nhận được tiền, anh T1 trừ đi tiền thuế là 624.000 đồng (1.5%), nhưng do số tiền nhờ xuất hóa đơn nhiều nên N nói với anh T1 bồi dưỡng luôn cho anh T1 là 1.000.000đồng, nên anh T1 chuyển khoản lại cho bị cáo N số tiền 40.600.000 đồng (bốn mươi triệu sáu trăm nghìn đồng). Số tiền chênh lệch N chiếm đoạt là 15.700.000đ (mười lăm triệu bảy trăm nghìn đồng), bị cáo N sử dụng vào mục đích cá nhân hết.
Căn cứ Bản kết luận định giá tài sản số 06 ngày 25/03/2024 của Hội đồng định giá tài sản huyện G kết luận:
- Bộ máy vi tính để bàn FPT chi tiết: Intel ® Pentium G5600 2,90GHz; Main H310 Express; 01 DDR4 2666MHz 4GB; SSD 500GB; màn hình LED 19,5 inch Wide; case 450W; bàn phím; chuột quang có giá trị 11.800.000 đồng;
- Bộ máy vi tính để bàn FPT chi tiết: Intel ® G3460; main H81; DDR3/4G; SSD 60GB + HDD 250G; màn hình FPT 20 inch; case 450W; bàn phím FPT; chuột quang FPT có giá trị 6.650.000 đồng;
- Bộ máy vi tính để bàn FPT chi tiết: Intel® Pentium G5600 3.90GHz; M; 03 DDR4 2666MHz 4GB; SSD 500GB; màn hình LED 19,5 inch Wide; case 450W; bàn phím; chuột quang có giá trị 11.800.000 đồng;
- Bộ máy vi tính để bàn FPT chi tiết: Intel ® G3460; main H81; DDR3/2G x2; SSD 60GB + HDD 250G; màn hình FPT 19,5 inch/2014; case 450W; bàn phím FPT; chuột Gienus có giá trị 6.650.000 đồng;
- Máy vi tính xách tay ACER chi tiết: Intel® Core i3 TM 8130U 2,20GHz; DDR4 2400MHz 4GB; SSD 256GB PCIe, Intel ® UHD Graphics; màn hình LED 15,6inch; webcam HD; wifi; bluetooth; 2xUSB 3.0, USB 2.0, HDMI, VGA, DVD-RW, LAN RJ45, Pin 3 cell; 1,9kg có giá trị 13.900.000 đồng.
- Máy vi tính xách tay ACER chi tiết: Acer F5-571 Core i3 5005U 2,20GHz; DDR4 2400MHz 4GB; SSD 240GB 06 Maxtor; màn hình LED 15,6inch; webcam HD; wifi; bluetooth; 2xUSB 3.0, USB 2.0, HDMI, VGA, DVD-RW, LAN RJ45, Pin 3 cell; 1,9kg có giá trị 8.500.000 đồng.
Vụ thứ bảy:
Vào tháng 12/2021, ông Nguyễn Văn T phân công (trực tiếp, bằng lời nói) bị cáo N lắp đặt 03 bộ máy tính FPT E i3 10100 cho ông Nguyễn Văn T- Chánh văn phòng, anh Đặng Công L-Chuyên viên Công nghệ thông tin và anh Bùi Công H2- Chuyên viên nghiên cứu tổng hợp. N đã lấy ổ cứng HDD của máy vi tính cũ của ông T, anh L và anh H2 gắn vào máy mới được cấp, rồi cập nhật driver để ông T, anh L và anh H2 sử dụng. Còn 03 ổ cứng SSD của máy vi tính FPT Elead Core i3 10100 của máy mới thì N cất giữ, chiếm đoạt.
Căn cứ Bản kết luận định giá tài sản số 06 ngày 25/03/2024 của Hội đồng định giá tài sản huyện G kết luận: Giá trị 03 ổ cứng SSD của máy vi tính F chiếm đoạt có tổng giá trị 4.050.000 đồng.
Vụ thứ tám:
Vào tháng 3/2022, ông Nguyễn Văn T phân công (trực tiếp, bằng lời nói) Nhung lắp đặt 01 (một) bộ máy vi tính để bàn cho anh Nguyễn Văn P - Chuyên viên tiếp nhận và giao trả kết quả của Văn phòng HĐND-UBND huyện sử dụng. Khi lắp đặt, bị cáo N lấy ổ cứng HDD của máy vi tính cũ gắn vào bộ máy mới được trang cấp, rồi cập nhật driver để anh P sử dụng; còn ổ cứng SSD của máy mới N cất giữ, chiếm đoạt.
Căn cứ Bản kết luận định giá tài sản số 06 ngày 25/03/2024 của Hội đồng định giá tài sản huyện G kết luận: Giá trị 01 ổ cứng SSD của máy vi tính F chiếm đoạt có tổng giá trị 1.080.000 đồng.
Quá trình điều tra, bị cáo N thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; tự nguyện bồi thường số tiền 50.500.000 đồng cho Văn phòng HĐND- UBND huyện và số tiền 13.350.000 đồng cho Phòng L và khắc phục hậu quả xong; gia đình bị can có bà nội là người có công với cách mạng. Bị can không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.
Tại bản án hình sự sơ thẩm số: 19/2024/HS-ST ngày 17 tháng 7 năm 2024 của Tòa án nhân dân huyện Gò Công Tây, tỉnh Tiền Giang đã quyết định:
Tuyên bố bị cáo Hồ Cẩn N phạm tội: “Lạm dụng chức vụ, quyền hạn chiếm đoạt tài sản”.
Căn cứ điểm c khoản 2 Điều 355; Điều 38; điểm b, s khoản 1,2 Điều 51; khoản 1 Điều 54 Bộ luật hình sự.
Xử phạt bị cáo Hồ Cẩn N 04 (bốn) năm tù. Thời hạn tù được tính từ ngày bắt bị cáo chấp hành hình phạt.
Ngoài ra bản án sơ thẩm còn quyết định về xử lý vật chứng, án phí và thông báo về quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.
Ngày 18/7/2024, bị cáo Hồ Cẩn N có đơn kháng cáo với nội dung: xin được hưởng án treo.
* Tại phiên tòa phúc thẩm, bị cáo thay đổi yêu cầu kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt.
* Quan điểm của đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Tiền Giang tại phiên tòa phúc thẩm: Về tố tụng, bị cáo có đơn kháng cáo hợp lệ và trong thời hạn luật định nên được xem xét theo trình tự phúc thẩm. Về tội danh, Tòa án cấp sơ thẩm tuyên bố bị cáo phạm tội “Lạm dụng chức vụ, quyền hạn chiếm đoạt tài sản” là có căn cứ pháp luật. Về hình phạt, đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm a khoản 1 Điều 355, Điều 356 Bộ luật Tố tụng hình sự, không chấp nhận kháng cáo của bị cáo, giữ nguyên bản án hình sự sơ thẩm số 19/2024/HS-ST ngày 17 tháng 7 năm 2024 của Tòa án nhân dân huyện Gò Công Tây, tỉnh Tiền Giang
* Bị cáo nói lời nói sau cùng: Bị cáo xin Hội đồng xét xử xem xét cho các bị cáo hưởng án treo.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1]. Về thủ tục kháng cáo: Bị cáo Hồ Cẩn N có đơn kháng cáo trong thời hạn luật định và thực hiện thủ tục kháng cáo hợp lệ nên được xem xét theo trình tự phúc thẩm.
[2]. Về nội dung vụ án:
Bị cáo Hồ Cẩn N được bổ nhiệm làm Kế toán của Văn phòng Ủy ban nhân dân - Hội đồng nhân dân huyện G, tỉnh Tiền Giang (gọi tắt là Văn phòng UBND-HĐND huyện). Từ tháng 6/2021 đến tháng 3/2022, bị cáo đã lạm dụng chức vụ, quyền hạn được giao đã thực hiện 08 lần chiếm đoạt tài sản gồm: 03 bộ máy tính để bàn, 07 ổ cứng, 01 mainboard, giá trị chênh lệch do mua máy tính có cấu hình thấp hơn và số tiền 1.500.000 do bán máy photo hết hạn sử dụng (trong đó có 06 lần chiếm đoạt trên 2.000.000 đồng) của Văn phòng HĐND-UBND huyện G với tổng giá trị tài sản chiếm đoạt là 68.480.000 đồng.
Như vậy, Tòa án cấp sơ thẩm kết án bị cáo về tội “Lạm dụng chức vụ, quyền hạn chiếm đoạt tài sản” theo quy định tại điểm c khoản 2 Điều 355 Bộ luật Hình sự là đúng người, đúng tội.
[3]. Xét kháng cáo của các bị cáo:
Tòa án cấp sơ thẩm xem xét các tình tiết cho bị cáo như: tự nguyện bồi thường thiệt hại, thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, có thân nhân là người có công cách mạng theo quy định tại điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự và áp dụng khoản 1 Điều 54 của Bộ luật Hình sự xử phạt bị cáo 04 năm tù.
Xét thấy, bị cáo là kế toán được giao nhiệm vụ mua sắm, quản lý tài sản, thanh lý tài sản là trang bị thiết bị văn phòng cho các cơ quan trực thuộc Ủy ban nhân dân - Hội đồng nhân dân huyện G, tỉnh Tiền Giang nhưng đã lợi dụng, chức vụ, quyền hạn để thay đổi linh kiện thiết bị, mua thiết bị không đúng loại để chiếm đoạt số tiền chênh lệnh tiêu xài cá nhân, trong khoảng thời gian ngắn thực hiện liên tiếp nhiều vụ (trong đó có 06 vụ có giá trị tài sản trên 2.000.000 đồng). Hành vi phạm tội của các bị cáo thể hiện bản tính xem thường pháp luật, gây nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm quyền sở hữu tài sản của cơ quan, tổ chức. Do vậy, Tòa án cấp sơ thẩm áp dụng Điều 54 của Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo hình phạt dưới mức thấp nhất của khung hình phạt (04 năm tù) là có xem xét, cân nhắc đến tính chất, mức độ của hành vi phạm tội, các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị cáo, đồng thời bị cáo kháng cáo nhưng không có cung cấp tình tiết giảm nhẹ đặc biệt nào khác, vì vậy, không có căn cứ chấp nhận. Hội đồng xét xử không chấp nhận kháng cáo của bị cáo.
[4]. Các phần liên quan đến kháng cáo cần xem xét: không có.
[5]. Xét đề nghị của đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Tiền Giang là có căn cứ chấp nhận như nhận định của Hội đồng xét xử.
[6]. Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
[7]. Bị cáo kháng cáo về hình phạt không được chấp nhận nên phải chịu án phí phúc thẩm theo quy định tại điểm b khoản 2 Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 355, Điều 356 của Bộ luật Tố tụng hình sự;
- Không chấp nhận kháng cáo của bị cáo Hồ Cẩn N.
- Giữ nguyên bản án hình sự sơ thẩm số 19/2024/HS-ST ngày 17/7/2024 của Tòa án nhân dân huyện Gò Công Tây, tỉnh Tiền Giang về hình phạt.
Áp dụng điểm c khoản 2 Điều 355; Điều 38; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; khoản 1 Điều 54 của Bộ luật hình sự.
Xử phạt bị cáo Hồ Cẩn N 04 (bốn) năm tù. Thời hạn tù được tính từ ngày bị bắt để thi hành án.
- Về án phí: Áp dụng điểm d khoản 2 Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội, bị cáo phải chịu án phí hình sự phúc thẩm là 200.000 đồng.
- Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
- Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TOÀ Nguyễn Lê Huy |
9
10
Bản án số 170/2024/HS-PT ngày 20/09/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH TIỀN GIANG về hình sự phúc thẩm
- Số bản án: 170/2024/HS-PT
- Quan hệ pháp luật: Hình sự phúc thẩm
- Cấp xét xử: Phúc thẩm
- Ngày ban hành: 20/09/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH TIỀN GIANG
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Hồ Cẩn N phạm tội: “Lạm dụng chức vụ, quyền hạn chiếm đoạt tài sản”
