|
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TAM BÌNH TỈNH VĨNH LONG |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: 170/2023/HNGĐ-ST
Ngày 19 - 10 - 2023
V/v “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con”
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TAM BÌNH, TỈNH VĨNH LONG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Văn Cảnh
Các Hội thẩm nhân dân.
- Ông Trần Văn Bé Hai
- Ông Huỳnh Văn Hùng
- Thư ký phiên tòa: Ông Trương Minh Tấn – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Tam Bình, tỉnh Vĩnh Long.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Tam Bình: Không tham gia phiên tòa.
Ngày 19 tháng 10 năm 2023 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Tam Bình tiến hành xét xử sơ thẩm công khai vụ án hôn nhân và gia đình thụ lý số: 87/2023/TLST-HNGĐ ngày 01 tháng 3 năm 2023 về việc “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 157/2023/QĐXXST-HNGĐ ngày 11 tháng 9 năm 2023 và Quyết định hoãn phiên tòa số: 136/2023/QĐST-HNGĐ ngày 29 tháng 9 năm 2023, giữa các đương sự:
- - Nguyên đơn: Chị Nguyễn Thị Tú T, sinh năm 1988 – có mặt
- Nơi cư trú: Số A, N, Phường A, thành phố V, tỉnh Vĩnh Long.
- - Bị đơn: Anh Trần Hữu T1, sinh năm 1984 – vắng mặt
- Nơi cư trú: Khóm C, thị trấn T, huyện T, tỉnh Vĩnh Long
NỘI DUNG VỤ ÁN:
- Về hôn nhân: Chị T và anh T1 cưới nhau vào năm 2007, hôn nhân do quen biết, chị T và anh T1 tự nguyện hôn nhân với nhau và có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân thị trấn T, huyện T vào ngày 09/3/2009. Thời gian vợ chồng sống chung hạnh phúc khoảng 11 năm thì phát sinh vi phạm nghĩa vụ vợ chồng và ly thân từ tháng 3 năm 2020 cho đến nay.
- Về con chung: Chị T và anh T1 có hai người con chung tên là Trần Gia N, sinh ngày 07/3/2009 và Trần Gia H, sinh ngày 17/11/2018, hiện nay cháu N và cháu H do chị T nuôi dưỡng.
Khi ly hôn chị T yêu cầu nuôi hai con chung là cháu N và H, chị T không yêu cầu anh T1 nuôi dưỡng.
- Về tài sản chung, nghĩa vụ chung về tài sản: Chị T không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Nguyên nhân phát sinh vi phạm nghĩa vụ vợ chồng: Chị T trình bày do anh chị thường xuyên bất đồng ý kiến, quan điểm sống khác nhau, anh H1 không quan tâm, chăm sóc chị U và các con mà bỏ về cha mẹ ruột sống từ năm 2020 cho đến nay.
- Các tài liệu, chứng cứ của vụ án: Đã được Tòa án công khai tại Biên bản về kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ vào ngày 11/9/2023.
- Các tình tiết, sự kiện không phải chứng minh:
- + Về hôn nhân: Căn cứ vào Giấy chứng nhận kết hôn giữa chị Nguyễn Thị Tú T với anh Trần Hữu T1 được Ủy ban nhân dân thị trấn T, huyện T, tỉnh Vĩnh Long cấp ngày 09/3/2009 thì chị T và anh T1 là hôn nhân hợp pháp.
- + Về con chung: Căn cứ vào Giấy khai sinh được Ủy ban nhân dân Phường A, thành phố V, tỉnh Vĩnh Long cấp ngày 08/12/2018 và Ủy ban nhân dân xã L, huyện L, tỉnh Vĩnh Long cấp ngày 10/6/2009 thì cháu Trần Gia N và Trần Gia H là con chung của chị T và anh T1.
- Các tình tiết, sự kiện mà các bên đương sự thống nhất, không thống nhất:
Do bị đơn là anh Trần Hữu T1 đã được Tòa án tống đạt hợp lệ hai lần thông báo phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải, nhưng anh T1 vắng mặt không vì lý do sự kiện bất khả kháng hoặc trở ngại khách quan nên không xác định được sự thống nhất, không thống nhất của các đương sự.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Căn cứ vào tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên tòa; trên cơ sở xem xét đầy đủ, toàn diện tài liệu, chứng cứ và ý kiến trình bày của đương sự. Hội đồng xét xử nhận định:
[1]. Về quan hệ pháp luật tranh chấp và thẩm quyền giải quyết: Theo nội dung đơn khởi kiện của chị T yêu cầu Tòa án giải quyết ly hôn với anh T1 là tranh chấp về ly hôn được quy định tại khoản 1 Điều 28 của Bộ luật Tố tụng dân sự. Bị đơn có nơi cư trú tại huyện T, theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự thì vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Tam Bình.
[2]. Về trình tự, thủ tục tố tụng: Tòa án nhân dân huyện Tam Bình tiến hành thụ lý, giải quyết vụ án theo đúng trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự. Các tài liệu chứng cứ do đương sự tự giao nộp, Tòa án không tiến hành thu thập chứng cứ, các bên đương sự là người đã thành niên, không bị nhược điểm về thể chất tâm thần nên vụ án không thuộc trường hợp Viện kiểm sát nhân dân cùng cấp phải tham gia kiểm sát việc tuân thủ theo pháp luật tại phiên tòa theo quy định tại khoản 2 Điều 21 của Bộ luật Tố tụng dân sự.
Bị đơn anh T1 đã được Tòa án tống đạt hợp lệ quyết định đưa vụ án ra xét xử và quyết định hoãn phiên tòa nhưng anh T1 vắng mặt không vì lý do sự kiện bất khả kháng hoặc trở ngại khách quan nên Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt anh T1 theo quy định tại khoản 2 Điều 227 của Bộ luật Tố tụng dân sự.
[3]. Về yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn:
- - Về hôn nhân: Xét yêu cầu ly hôn của chị T với anh T1. Hội đồng xét xử, xét thấy nguyên nhân phát sinh vi phạm nghĩa vụ vợ chồng giữa chị T với anh T1 là do anh chị bất đồng quan điểm sống, tính tình không hợp nhau, anh T1 không quan tâm chăm sóc chị T và các con. Hội đồng xét xử, xét thấy từ khi ly thân cho đến nay anh T1, chị T không có quan tâm, chăm sóc lẫn nhau và không tự đoàn tụ được với nhau; xét thấy, hôn nhân giữa chị T với anh T1 đã lâm vào tình trạng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được. Do vậy, Hội đồng xét xử căn cứ vào khoản 3 Điều 2, Điều 19, khoản 1 Điều 56 của Luật hôn nhân và gia đình năm 2014 chấp nhận yêu cầu ly hôn của chị T với anh T1; cho chị T được ly hôn với anh T1.
- - Về con chung: Xét yêu cầu nuôi hai con chung của chị T là Trần Gia N, sinh ngày 07/3/2009 và Trần Gia H, sinh ngày 17/11/2018. Hội đồng xét xử, xét thấy từ khi chị T và anh T1 ly thân cho đến nay con chung do chị T chăm sóc, nuôi dưỡng; đồng thời tại bản tự khai của cháu Trần Gia N, ghi ngày 08/02/2023 thì cháu N có nguyện vọng sống với chị T sau khi chị và anh T1 ly hôn với nhau. Do đó, Hội đồng xét xử giao cháu Trần Gia N, sinh ngày 07/3/2009 và Trần Gia H, sinh ngày 17/11/2018 cho chị T tiếp tục trực tiếp nuôi dưỡng.
- Anh T1 không trực tiếp nuôi con có quyền, nghĩa vụ thăm nom con chung mà không ai được cản trở.
- - Về cấp dưỡng nuôi con: Chị T không có yêu cầu anh T1 cấp dưỡng nuôi con nên Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.
- - Về tài sản chung, nghĩa vụ chung về tài sản: Chị T không yêu cầu Tòa án giải quyết.
- [4]. Về án phí dân sự sơ thẩm: Chị T phải chịu 300.000 đồng tiền án phí dân sự sơ thẩm trong vụ án ly hôn theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, khoản 4 Điều 147, khoản 1 và 2 Điều 227 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015;
Căn cứ vào khoản 3 Điều 2, Điều 19, khoản 1 Điều 51, khoản 1 Điều 56, Điều 81, Điều 82 và Điều 83 của Luật hôn nhân và gia đình năm 2014;
Căn cứ điểm a khoản 5 Điều 27 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án, kèm theo danh mục án phí, lệ phí Tòa án. Tuyên xử:
- Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn chị Nguyễn Thị Tú T.
- Về hôn nhân: Cho ly hôn giữa chị Nguyễn Thị Tú T với anh Trần Hữu T1.
- Về con chung: Giao hai con chung tên là Trần Gia N, sinh ngày 07/3/2009 và Trần Gia H, sinh ngày 17/11/2018 cho chị Nguyễn Thị Tú T tiếp tục trực tiếp nuôi dưỡng.
Anh Trần Hữu T1 không trực tiếp nuôi con có quyền, nghĩa vụ thăm nom con chung mà không ai được cản trở.
- Về cấp dưỡng nuôi con: Chị Nguyễn Thị Tú T không yêu cầu anh Trần Hữu T1 cấp dưỡng nuôi con nên Tòa án không xem xét giải quyết.
- Về tài sản chung, nghĩa vụ chung về tài sản: Nguyễn Thị Tú T không yêu cầu Tòa án giải quyết.
- Về án phí dân sự sơ thẩm: Nguyễn Thị Tú T phải nộp 300.000 đồng tiền án phí dân sự sơ thẩm trong vụ án ly hôn, được khấu trừ vào số tạm ứng án phí chị T đã nộp là 300.000 đồng theo biên lai thu số No 0011264 ngày 01/3/2023 của Chi cục thi hành án dân sự huyện Tam Bình nên chị T không phải nộp thêm.
- Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
- Về quyền kháng cáo:
Chị Nguyễn Thị Tú T có mặt tại phiên tòa có quyền làm đơn kháng cáo trong thời hạn là 15 ngày kể từ ngày tuyên án.
Anh Trần Hữu T1 vắng mặt tại phiên tòa có quyền làm đơn kháng cáo trong thời hạn 15 ngày tính từ ngày nhận được bản án hoặc được tống đạt hợp lệ.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA (Đã ký) Nguyễn Văn Cảnh |
Bản án số 170/2023/HNGĐ-ST ngày 19/10/2023 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TAM BÌNH, TỈNH VĨNH LONG về ly hôn, tranh chấp về nuôi con
- Số bản án: 170/2023/HNGĐ-ST
- Quan hệ pháp luật: Ly hôn, tranh chấp về nuôi con
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 19/10/2023
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TAM BÌNH, TỈNH VĨNH LONG
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Nguyễn Thị Tú Trinh - Trần Hữu Trí
