Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

THỊ XÃ BẾN CÁT

TỈNH BÌNH DƯƠNG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

Bản án số: 170/2023/HS-ST

Ngày 18-8-2023

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ BẾN CÁT, TỈNH BÌNH DƯƠNG

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Phạm Thị Cảnh.

Các Hội thẩm nhân dân:

  • - Bà Nguyễn Thị Thắm;
  • - Bà Nguyễn Kim Lý.

Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Thắm – Thư ký Tòa án nhân dân thị xã Bến Cát, tỉnh Bình Dương.

Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân thị xã Bến Cát, tỉnh Bình Dương tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Văn Vui - Kiểm sát viên.

Ngày 18 tháng 8 năm 2023 tại Tòa án nhân dân thị xã Bến Cát, tỉnh Bình Dương xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 113/2023/HS-ST ngày 08 tháng 6 năm 2023 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 132/2023/QĐXXST-HS ngày 07 tháng 8 năm 2023 đối với bị cáo:

Trương Thái H, sinh năm 1995 tại tỉnh Bình Dương; hộ khẩu thường trú: Khu X, phường P, thành phố T, tỉnh Bình Dương; nghề nghiệp: không; trình độ học vấn: 06/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Trương Văn B, sinh năm 1948 và bà Phan Thị H1, sinh năm 1952 (đã chết); bị cáo có 06 anh em, lớn nhất sinh năm không rõ, nhỏ nhất là bị cáo; bị cáo chưa có vợ con. Tiền án, tiền sự: Không. Nhân thân: Ngày 22/10/2013, bị cáo bị Tòa án nhân dân thành phố Thủ Dầu Một, tỉnh Bình Dương xử phạt 24 tháng tù về tội “Vận chuyển trái phép chất ma túy” đối với hành vi thực hiện ngày 08/6/2013. Bị cáo chấp hành xong án phạt tù ngày 09/02/2015, chấp hành xong án phí hình sự sơ thẩm ngày 16/12/2013. Ngày 02/7/2019, bị cáo bị Tòa án nhân dân thành phố Thủ Dầu Một, tỉnh Bình Dương áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc thời gian 15 tháng. Đến ngày 31/8/2020, bị cáo được miễn chấp hành phần thời gian áp dụng biện pháp xử lý hành chính còn lại. Bị cáo bị bắt tạm giữ, tạm giam từ ngày 04/3/2023 đến nay; có mặt.

Bị hại: Ông Nguyễn Văn Th, sinh năm 1980, địa chỉ thường trú: Ấp Ngọc Lợi, xã Ng, huyện Gi, tỉnh Kiên Giang; địa chỉ tạm trú: Nhà trọ Trần Hoàng, ấp L, xã A, thị xã B, tỉnh Bình Dương, vắng mặt và có yêu cầu xét xử vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Trương Thái H là đối tượng nghiện ma túy đá (loại Methamphetamine). Sáng ngày 04/3/2023, H nảy sinh ý định trộm cắp xe mô tô của người khác để sử dụng làm phương tiện đi lại. Khoảng 13 giờ cùng ngày, H thuê xe mô tô Grap chở đi từ nhà thuộc khu X, phường P, thành phố T, tỉnh Bình Dương đến thị xã Bến Cát, tỉnh Bình Dương để tìm xe mô tô trộm cắp. Khi đến khu vực xã A, thị xã B, H xuống xe rồi đi bộ qua các nhà trọ để tìm kiếm xe mô tô. Khoảng 13 giờ 20 phút cùng ngày, khi đi đến trước nhà trọ Trần H2 thuộc ấp L, xã A, H phát hiện có nhiều xe mô tô dựng ở hành lang và không có người trông coi nên lén lút đi vào cạnh xe mô tô hiệu Honda Vision, không biển số, không khóa cổ xe của anh Nguyễn Văn Th (sinh năm 1980, hộ khẩu thường trú: ấp Ngọc Lợi, xã Ng, huyện Gi, tỉnh Kiên Giang) dựng trước cửa phòng trọ số 19, H dắt xe ra ngoài cửa nhà trọ rồi lấy chìa khóa trong hộc đựng đồ phía trước xe, khởi động máy điều khiển xe chạy qua huyện C, Thành phố Hồ Chí Minh nhằm tránh bị phát hiện.

Đến khoảng 15 giờ 30 phút cùng ngày 04/3/2023, anh Nguyễn Văn Th phát hiện bị mất xe nên đến Công an xã A trình báo sự việc. Khoảng 16 giờ 30 phút cùng ngày, khi H điều khiển xe mô tô đến khu vực huyện C, Thành phố Hồ Chí Minh thì xe bị tắt máy. Lúc này, H dắt xe mô tô vào quán cà phê (không tên, không rõ địa chỉ) cạnh đường ngồi nghỉ thì bị lực lượng Công an xã A dò theo định vị gắn trong xe mô tô đến bắt giữ H cùng tang vật. Sau đó, vụ việc được chuyển giao cho Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thị xã Bến Cát giải quyết theo thẩm quyền.

Vật chứng thu giữ: 01 xe mô tô hiệu Honda Vision, màu xám, chưa gắn biển số, số khung: RLHJK0356NY017206, số máy: JK03E- 8117265.

Tại Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thị xã Bến Cát, Trương Thái H đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình, lời khai phù hợp với các tài liệu chứng cứ thu thập được trong hồ sơ vụ án.

Theo Kết luận định giá tài sản số 29 ngày 09/3/2023, Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự thị xã Bến Cát, kết luận: 01 xe mô tô hiệu Honda Vision, màu xám, chưa gắn biển số, số khung: RLHJK0356NY017206, số máy: JK03E-8117265, đã qua sử dụng trị giá 43.620.000 đồng.

Về xử lý vật chứng: Ngày 13/3/2023, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thị xã Bến Cát ra Quyết định xử lý vật chứng số 42 giao trả 01 xe mô tô hiệu Honda Vision, màu xám, chưa gắn biển số, số khung: RLHJK0356NY017206, số máy: JK03E-8117265 cho anh Nguyễn Văn Th.

Bản Cáo trạng số 144/CT-VKS-BC ngày 29/6/2023 của Viện Kiểm sát nhân dân thị xã Bến Cát, tỉnh Bình Dương truy tố bị cáo Trương Thái H về tội: “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại khoản 1 Điều 173 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (đã được sửa đổi, bổ sung năm 2017).

Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã Bến Cát, tỉnh Bình Dương trong phần tranh luận giữ nguyên quyết định truy tố bị cáo Trương Thái H về tội “Trộm cắp tài sản”. Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng khoản 1 Điều 173, điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015 được sửa đổi, bổ sung năm 2017 để xử phạt bị cáo 02 (hai) năm đến 02 (hai) năm 06 (sáu) tháng tù.

Về xử lý vật chứng và trách nhiệm dân sự: Đã giải quyết xong, không đề nghị xem xét.

Bị cáo Trương Thái H khai nhận toàn bộ hành vi đúng như nội dung bản cáo trạng, kết luận điều tra và không tranh luận với đại diện Viện Kiểm sát.

Lời nói sau cùng của bị cáo: Bị cáo ăn năn, hối hận về hành vi của mình và xin Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:

[1] Về tố tụng: Hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thị xã Bến Cát, Điều tra viên, Viện Kiểm sát nhân dân thị xã Bến Cát, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, các bị cáo không có ý kiến hay khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện là đúng quy định pháp luật.

[2] Căn cứ vào lời khai của bị cáo, bị hại; biên bản giữ người trong trường hợp khẩn cấp và những chứng cứ, tài liệu có trong hồ sơ vụ án, xác định: Khoảng 13 giờ 20 phút ngày 04/3/2023, tại nhà trọ Trần H2 thuộc ấp L, xã A, thị xã B, tỉnh Bình Dương, Trương Thái H có hành vi lén lút lấy trộm 01 xe mô tô hiệu Honda Vision, màu xám, chưa gắn biển số trị giá 43.620.000 đồng của anh Nguyễn Văn Th nhằm mục đích sử dụng thì bị phát hiện bắt quả tang. Hành vi này của bị cáo Trương Thái H đã đủ yếu tố cấu thành tội: “Trộm cắp tài sản”, quy định tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017.

Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân thị xã Bến Cát, tỉnh Bình Dương và kết luận của Kiểm sát viên truy tố bị cáo Trương Thái H về tội: “Trộm cắp tài sản” theo quy định khoản 1 Điều 173 của Bộ luật Hình sự 2015 được sửa đổi, bổ sung năm 2017 là có căn cứ, đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.

[3] Về tính chất, mức độ của hành vi: Tội phạm do bị cáo thực hiện tuy ít nghiêm trọng nhưng đã xâm phạm quyền sở hữu tài sản của bị hại được pháp luật bảo vệ, gây mất trật tự trị an tại địa phương. Về nhận thức bị cáo hoàn toàn biết hành vi trộm cắp tài sản của người khác là trái pháp luật nhưng vì động cơ tham lam, tư lợi và muốn có tiền tiêu xài nên đã cố ý phạm tội. Vì vậy, cần xử phạt bị cáo với mức án tương xứng với tính chất mức độ tội phạm đã thực hiện, có xét đến các tình tiết giảm nhẹ, tăng nặng trách nhiệm hình sự, nhân thân của bị cáo.

[4] Tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Không có.

[5] Tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Tại cơ quan điều tra và tại phiên tòa, bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải đây là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự theo quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự.

[6] Về nhân thân: Bị cáo có nhân thân xấu, từng bị Tòa án nhân dân thành phố Thủ Dầu Một xử phạt 24 tháng tù về tội: “Vận chuyển trái phép chất ma túy”; bị Tòa án nhân dân thành phố Thủ Dầu Một, tỉnh Bình Dương áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc thời gian 15 tháng nhưng không lấy đó làm bài học sửa đổi bản thân, sau khi chấp hành xong hình phạt lại không tu chí làm ăn để làm người có ích cho gia đình và xã hội mà tiếp tục thực hiện hành vi phạm tội “Trộm cắp tài sản”. Do đó cần cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian mới đủ để giáo dục, cải tạo bị cáo thành công dân có ích cho gia đình, xã hội và có tác dụng đấu tranh, phòng ngừa chung.

[7] Về xử lý vật chứng:

  • 01 xe mô tô hiệu Honda Vision, màu xám, chưa gắn biển số, số khung: RLHJK0356NY017206, số máy: JK03E- 8117265. Cơ quan cảnh sát điều tra đã trả lại tài sản cho bị hại là đúng quy định nên không đặt ra xem xét.
  • 01 USB bên trong chứa đoạn video ghi lại hình ảnh Trương Thái H thực hiện hành vi trộm cắp là chứng cứ nên lưu trong hồ sơ vụ án.

[8] Về trách nhiệm dân sự: Tài sản bị chiếm đoạt đã thu hồi trả lại cho bị hại đồng thời bị hại không yêu cầu gì khác nên trách nhiệm dân sự không đặt ra xem xét.

[9] Đề nghị của đại diện Viện kiểm sát đưa ra đối với bị cáo về tội danh, mức hình phạt, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, nhân thân của bị cáo, về trách nhiệm dân sự và xử lý vật chứng là phù hợp nên có căn cứ chấp nhận.

[10] Án phí sơ thẩm: Bị cáo Trương Thái H phải nộp án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào Điều 260, Điều 299, Điều 326, Điều 327, Điều 331 và Điều 333 của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015;

  1. Tuyên bố bị cáo Trương Thái H phạm tội “Trộm cắp tài sản”.

    Áp dụng khoản 1 Điều 173; điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 38 Bộ luật Hình sự năm 2015 được sửa đổi, bổ sung năm 2017.

    Xử phạt bị cáo Trương Thái H 02 năm tù. Thời hạn tù tính từ ngày 04/3/2023.

  2. Về trách nhiệm dân sự: Đã giải quyết xong.
  3. Về xử lý vật chứng: Lưu hồ sơ vụ án 01 USB bên trong chứa đoạn video ghi lại hình ảnh Trương Thái H thực hiện hành vi trộm cắp.
  4. Về án phí sơ thẩm: Áp dụng khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng Hình sự; điểm c khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy Ban thường vụ Quốc Hội khoá 14 về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Toà án.

    Bị cáo Trương Thái H phải nộp 200.000 (hai trăm nghìn) đồng án phí hình sự sơ thẩm.

  5. Về quyền kháng cáo: Bị cáo có mặt được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án. Bị hại vắng mặt được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án tống đạt hợp lệ./.

Nơi nhận:

  • - TAND tỉnh Bình Dương;
  • - VKSND tỉnh Bình Dương;
  • - Sở Tư pháp tỉnh Bình Dương;
  • - VKSND thị xã Bến Cát;
  • - Công an thị xã Bến Cát;
  • - Chi cục THADS thị xã Bến Cát;
  • - Người tham gia tố tụng;
  • - Lưu: HSVA, VT.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

(Đã ký)

Phạm Thị Cảnh

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 170/2023/HS-ST ngày 18/08/2023 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ BẾN CÁT, TỈNH BÌNH DƯƠNG về trộm cắp tài sản (hình sự sơ thẩm)

  • Số bản án: 170/2023/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Trộm cắp tài sản (Hình sự sơ thẩm)
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 18/08/2023
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ BẾN CÁT, TỈNH BÌNH DƯƠNG
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Trương Thái H phạm tội trộm cắp tài sản
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger