Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 170/2024/HS-ST

Ngày: 17-4-2024

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Mai Trâm

Các Hội thẩm nhân dân.

  1. Ông Trần Trung Tính;
  2. Ông Nguyễn Ngọc Hòa.

- Thư ký phiên tòa:

Ông Nguyễn Đức Vũ - Thư ký Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên tòa:

Bà Hoàng Thị Thảo - Kiểm sát viên.

Ngày 17 tháng 4 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh, xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 202/2024/TLST-HS ngày 14/3/2024, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 1366/2024/QĐXXST-HS ngày 19/3/2024 đối với bị cáo:

1. Họ và tên: Nguyễn Thị Thanh V, sinh ngày: 21 tháng 12 năm 1998 tại Thành phố Hồ Chí Minh; hộ khẩu thường trú: A đường C, Phường A, Quận C, Thành phố Hồ Chí Minh; nơi ở: 5 đường Đ, Phường A, quận B, Thành phố Hồ Chí Minh; nghề nghiệp: buôn bán; trình độ học vấn: 01/12; dân tộc: Kinh; giới tính: nữ; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Thanh P và bà Ngô Thị L; chồng: Nguyễn Văn N, sinh năm 1995 và 01 con là Ngô Thanh T, sinh năm: 2020; Tiền án: Ngày 15/9/2020 bị Tòa án nhân dân Quận 1, Thành phố Hồ Chí Minh xử phạt 09 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản” theo Bản án hình sự sơ thẩm số 112/2020/HS-ST.Tiền sự: Không có; Bị cáo bị bắt tạm giam từ ngày 25/9/2023. Bị cáo Nguyễn Thị Thanh V có mặt.

2. Họ và tên: Tô Thị Kim L1, sinh ngày: 07 tháng 3 năm 1999 tại Thành phố Hồ Chí Minh; hộ khẩu thường trú: 262/64 đường Đ, Phường A, Quận D, Thành phố Hồ Chí Minh; nơi ở: 5 đường Đ, Phường A, quận B, Thành phố Hồ Chí Minh; nghề nghiệp: buôn bán; trình độ học vấn: 01/12; dân tộc: Kinh; giới tính: nữ; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Tô Đình P1 và bà Nguyễn Thị G; chồng: Trương Phạm Thành V1, sinh năm 1995 và có 03 con, con lớn nhất sinh năm 2017, con nhỏ nhất sinh năm 2019; Tiền án: Ngày 15/9/2020 bị Tòa án nhân dân Quận 1, Thành phố Hồ Chí Minh xử phạt 09 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản” theo Bản án hình sự sơ thẩm số 112/2020/HS-ST; Tiền sự: Không có; Bị cáo bị bắt tạm giam từ ngày 25/9/2023. Bị cáo Tô Thị Kim L1 có mặt.

3. Họ và tên: Mai Thị Thu H, sinh ngày: 04 tháng 5 năm 2000 tại Thành phố Hồ Chí Minh; hộ khẩu thường trú: ấp T, xã T, huyện B, tỉnh Vĩnh Long; nơi ở: 5 đường Đ, Phường A, quận B, Thành phố Hồ Chí Minh; nghề nghiệp: buôn bán; trình độ học vấn: 01/12; dân tộc: Kinh; giới tính: nữ; tôn giáo: Phật giáo; quốc tịch: Việt Nam; con ông: không rõ và bà Mai Thị S; chồng: chưa có và có 02 con, con lớn là Mai Thị Thu T1, sinh năm: 2021, con nhỏ là Mai Thị S, sinh năm: 2023; Tiền án, tiền sự: Không có. Nhân thân: Ngày 10/4/2019 bị Tòa án nhân dân Quận 1, Thành phố Hồ Chí Minh xử phạt 09 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản” theo Bản án hình sự sơ thẩm số 42/2019/HS-ST. Bị cáo bị bắt tạm giữ từ ngày 25/9/2023. Ngày 29/9/2023, bị cáo Mai Thị Thu H bị thay thế biện pháp ngặn tạm giữ bằng biện pháp cấm đi khỏi nơi cư trú theo Quyết định thay thế biện pháp ngăn chặn số 1746-56/QĐ-PC01-Đ3 ngày 29/9/2023. Bị cáo Mai Thị Thu H có mặt.

Bị hại: Anh Xie Y; sinh ngày: 05/4/1992; Quốc tịch: Trung Quốc nơi ở hiện nay: A N, phường T, thành phố T, Thành phố Hồ Chí Minh. Bị hại - anh Xie Y vắng mặt.

Người làm chứng: Bà Hoàng Thị T2, sinh ngày 20/01/1998 tại Lào Cai; dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Nơi ở hiện nay: A N, phường T, thành phố T, Thành phố Hồ Chí Minh. Người làm chứng – bà Hoàng Thị T2 vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, thì nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 23 giờ ngày 21/9/2023, Tô Thị Kim L1, Nguyễn Thị Thanh V và Mai Thị Thu H đứng bán kẹo trước số H B, phường P, Quận A, Thành phố Hồ Chí Minh thì thấy anh Xie Y (sinh năm 1992, Quốc tịch Trung Quốc) đeo 01 túi xách chéo ở sau lưng, không khóa dây kéo cùng với chị Hoàng Thị T2 (sinh năm 1998, nơi ở hiện tại: 112 N, phường T, thành phố T, Thành phố Hồ Chí Minh) đi bộ đến trước số E B, phường P, Quận A, Thành phố Hồ Chí Minh, nên L1, V và H cùng nhau dàn cảnh để trộm cắp tài sản bên trong túi xách của anh Xie Y. H chạy đến mời anh Xie Y mua kẹo nhằm mục đích để anh Xie Y mất cảnh giác, còn V thì che chắn để L1 áp sát anh Xie Y từ phía sau dùng tay phải lấy trộm bên trong túi xách được 17.400.000 đồng và 01 Passport, L1 ném bỏ Passport xuống đất, cất giấu số tiền 17.400.000 đồng vào túi quần jean phía sau bên phải; Sau đó, cả ba tẩu thoát vào hẻm E B hướng ra đường T, Quận A, Thành phố Hồ Chí Minh. Sau khi trộm được số tiền 17.400.000 đồng của anh Xie Y, L1 sử dụng 400.000 đồng để mua đồ ăn cho cả nhóm, chia cho V số tiền 5.700.000 đồng, Hằng số tiền 5.000.000 đồng, L1 số tiền 6.300.000 đồng. L1, V và H đã sử dụng hết số tiền đã trộm cắp được của anh Xie Y.

Sau khi phát hiện bị mất tiền và P2, anh X Yuwei đến Cơ quan Công an phường P, Quận A, Thành phố Hồ Chí Minh trình báo. Qua điều tra truy xét, xác định được Tô Thị Kim L1, Nguyễn Thị Thanh V và Mai Thị Thu H là các đối tượng thực hiện hành vi trộm cắp tài sản của anh Xie Y, nên chuyển hồ sơ đến Cơ quan Cảnh sát điều tra Công Thành phố H điều tra theo thẩm quyền.

Tại cơ quan Cảnh sát điều tra Công an Thành phố H, Tô Thị Kim L1, Nguyễn Thị Thanh V và Mai Thị Thu H khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội như trên, phù hợp với Biên bản thực nghiệm điều tra, biên bản đối chất, biên bản nhận dạng và lời trình bày của bị hại.

* Vật chứng thu giữ trong vụ án:

  • 01 điện thoại Samsung A10S; 01 áo ngắn tay; 01 quần đùi ngắn (thu giữ của Mai Thị Thu H);
  • 01 áo khoác dài tay; 01 áo thun ngắn tay; 01 quần dài màu đen (thu giữ của Nguyễn Thị Thanh V),
  • 01 điện thoại; 01 áo dài tay; 01 quần màu xanh dương (thu giữ của Tô Thị Kim L1).

* Trách nhiệm dân sự:

  • Bị hại là anh Xie Y yêu cầu bồi thường số tiền 17.400.000 đồng, các bị can chưa bồi thường.

Bản cáo trạng số 171/CT-VKS-P2 ngày 12/3/2024 của Viện kiểm sát nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh đã truy tố bị cáo Mai Thị Thu H, Tô Thị Kim L1 và Nguyễn Thị Thanh V phạm tội “Trộm cắp tài sản” theo khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017).

Tại phiên tòa sơ thẩm,

- Bị cáo Mai Thị Thu H, Tô Thị Kim L1 và Nguyễn Thị Thanh V đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình như nội dung Bản cáo trạng đã truy tố. Lời khai của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai trước đây tại cơ quan điều tra.

- Đại diện Viện kiểm sát giữ quyền công tố luận tội và tranh luận: Lời khai nhận tội của các bị cáo Mai Thị Thu H, Tô Thị Kim L1 và Nguyễn Thị Thanh V tại phiên toà hoàn toàn phù hợp với lời khai của bị cáo, bị hại tại cơ quan điều tra và phù hợp với vật chứng cùng các tài liệu, chứng cứ khác được thu thập trong hồ sơ vụ án đủ cơ sở khẳng định các bị cáo Mai Thị Thu H, Tô Thị Kim L1 và Nguyễn Thị Thanh V có hành vi lén lút, bí mật chiếm đoạt tài sản người khác trái pháp luật với tổng số tiền là 17.400.000 đồng.

Do đó, Viện kiểm sát giữ nguyên quyết định truy tố đối với bị cáo về tội “Trộm cắp tài sản”. Trong quá trình điều tra và tại phiên toà hôm nay, các bị cáo Mai Thị Thu H, Tô Thị Kim L1 và Nguyễn Thị Thanh V có các tình tiết giảm nhẹ như thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải được quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự; bị cáo Mai Thị Thu H đang nuôi con nhỏ dưới 36 tháng; bị cáo Tô Thị Kim L1 và bị cáo Nguyễn Thị Thanh V có tình tiết tăng nặng là tái phạm tại điểm h khoản 1, Điều 52 Bộ luật hình sự nên đề nghị Hội đồng xét xử:

Áp dụng khoản 1 Điều 173; điểm s khoản 1 Điều 51của Bộ luật Hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017 xử phạt bị cáo Mai Thị Thu H: 06 tháng tù đến 12 tháng tù

Áp dụng khoản 1 Điều 173; điểm s khoản 1 Điều 51; điểm h khoản 1 Điều 52 của Bộ luật Hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017 xử phạt bị cáo Tô Thị Kim L1: 12 tháng tù đến 18 tháng tù.

Áp dụng khoản 1 Điều 173; điểm s khoản 1 Điều 51; điểm h khoản 1 Điều 52 của Bộ luật Hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017 xử phạt bị cáo Nguyễn Thị Thanh V: 12 tháng tù đến 18 tháng tù.

Về xử lý vật chứng và yêu cầu bồi thường thiệt hại đề nghị Hội đồng xét xử giải quyết theo quy định pháp luật.

Bị cáo Nguyễn Thị Thanh V nói lời sau cùng: Mong Hội đồng xét xử xem xét xử nhẹ để bị cáo sớm về với con.

Bị cáo Tô Thị Kim L1 nói lời sau cùng: Bị cáo đã thấy lỗi lầm của mình, bị cáo ăn năn hối cải, mong Hội đồng xét xử cho bị cáo mức án nhẹ để bị cáo sớm về với các con.

Bị cáo Mai Thị Thu H nói lời sau cùng: Bị cáo mong được mức án nhẹ để sớm về với các con.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ đã được thu thập có trong hồ sơ vụ án và kết quả thẩm vấn công khai, tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

[1] Về hành vi, quyết định tố tụng: Trong quá trình điều tra, truy tố, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an Thành phố H, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh, Kiểm sát viên đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra, truy tố, bị cáo, bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan không có ý kiến, khiếu nại về hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng và người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đúng quy định của pháp luật.

[2] Về hành vi phạm tội của bị cáo: Bị cáo Mai Thị Thu H, Tô Thị Kim L1 và Nguyễn Thị Thanh V đã thực hiện hành vi lén lút chiếm đoạt tài sản là số tiền 17.400.000 đồng. Hành vi này của bị cáo Mai Thị Thu H, Tô Thị Kim L1 và Nguyễn Thị Thanh V đã phạm vào tội “Trộm cắp tài sản”, tội phạm và hình phạt được quy định tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự năm 2015 sửa đổi bổ sung năm 2017.

[3] Về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị cáo:

Tình tiết giảm nhẹ: Tại cơ quan điều tra và tại phiên tòa, các bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải. Do đó, cần cho bị cáo hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017.

Tình tiết tăng nặng: bị cáo Tô Thị Kim L1 và bị cáo Nguyễn Thị Thanh V đã bị bị Tòa án nhân dân Quận 1, Thành phố Hồ Chí Minh xử phạt 09 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản” theo Bản án hình sự sơ thẩm số 112/2020/HS-ST ngày 15/9/2020 mà chưa được xóa án tích. Đây là tình tiết tăng nặng là tái phạm tại điểm h khoản 1, Điều 52 Bộ luật hình sự. Bị cáo Mai Thị Thu H không có các tình tiết tăng nặng.

[4] Các bị cáo do tham lam tư lợi và lười lao động nên đã cố ý thực hiện hành vi nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm đến tài sản hợp pháp của người khác nhằm thỏa mãn nhu cầu tiêu xài cá nhân của bản thân, gây mất trật tự trị an xã hội ảnh hưởng hình ảnh người Việt Nam trong mắt bạn bè người nước ngoài, tuy nhiên bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải nên Hội đồng xét xử áp dụng mức hình phạt vừa có tác dụng cải tạo, giáo dục, cảnh tỉnh bị cáo và phòng ngừa chung trong xã hội nhưng vẫn phù hợp với tính chất, mức độ phạm tội của bị cáo.

[5] Về các biện pháp tư pháp, xử lý vật chứng:

  • 01 điện thoại của bị cáo Tô Thị Kim L1: Hội đồng xét xử nhận thấy không có căn cứ để xác định bị cáo Tô Thị Kim L1 sử dụng điện thoại này để thực hiện hành vi phạm tội nên hoàn trả cho bị cáo Tô Thị Kim L1.
  • 01 điện thoại Samsung A10S của bị cáo Mai Thị Thu H: Hội đồng xét xử nhận thấy không có căn cứ để xác định bị cáo Mai Thị Thu H sử dụng điện thoại này để thực hiện hành vi phạm tội nên hoàn trả cho bị cáo Mai Thị Thu H.
  • 01 áo ngắn tay, 01 quần đùi ngắn thu giữ của Mai Thị Thu H: Xét thấy bị cáo Mai Thị Thu H không yêu cầu nhận lại tài sản và tài sản này không còn giá trị sử dụng nên tịch thu tiêu hủy.
  • 01 áo khoác dài tay; 01 áo thun ngắn tay; 01 quần dài màu đen: Xét thấy bị cáo Nguyễn Thị Thanh V không yêu cầu nhận lại tài sản và tài sản này không còn giá trị sử dụng nên tịch thu tiêu hủy.
  • 01 áo dài tay; 01 quần màu xanh dương: Xét thấy bị cáo Tô Thị Kim L1 không yêu cầu nhận lại tài sản và tài sản này không còn giá trị sử dụng nên tịch thu tiêu hủy.

[6] Về trách nhiệm dân sự:

  • Bị hại là anh Xie Y yêu cầu bồi thường số tiền 17.400.000 đồng. Các bị cáo phải có trách nhiệm liên đới bồi thường thiệt hại cho bị hại.

[7] Bị cáo chịu án phí hình sự sơ thẩm, án phí dân sự sơ thẩm theo Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội Quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

[8] Bị cáo, bị hại có quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

1. Căn cứ khoản 1 Điều 173; điểm s khoản 1 Điều 51; điểm h khoản 1 Điều 52 của Bộ luật Hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017;

Xử phạt bị cáo Nguyễn Thị Thanh V: 15 (mười lăm) tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”, thời hạn tù tính từ ngày 25/9/2023.

2. Căn cứ khoản 1 Điều 173; điểm s khoản 1 Điều 51; điểm h khoản 1 Điều 52 của Bộ luật Hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017;

Xử phạt bị cáo Tô Thị Kim L1: 15 (mười lăm) tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”, thời hạn tù tính từ ngày 25/9/2023.

3. Căn cứ khoản 1 Điều 173; điểm s khoản 1 Điều 51của Bộ luật Hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017;

Xử phạt bị cáo Mai Thị Thu H: 09 (chín) tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”, thời hạn tù được tính từ ngày bị cáo bị bắt thi hành nhưng được trừ thời gian bị tạm giam (từ ngày 25/9/2023 đến ngày 29/9/2023).

4. Áp dụng Khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017; Khoản 2, 3 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015:

  • Tịch thu tiêu hủy 01 áo ngắn tay, 01 quần đùi ngắn thu giữ của Mai Thị Thu H.
  • Tịch thu tiêu hủy 01 áo khoác dài tay; 01 áo thun ngắn tay; 01 quần dài màu đen.
  • 01 áo dài tay; 01 quần màu xanh dương: Xét thấy bị cáo Tô Thị Kim L1 không yêu cầu nhận lại tài sản và tài sản này không còn giá trị sử dụng nên tịch thu tiêu hủy.
  • Trả lại cho bị cáo Tô Thị Kim L1 01 (một) điện thoại di động được niêm phong
  • Trả lại cho bị cáo Mai Thị Thu H 01 (một) điện thoại di động S1 A10S được niêm phong

(theo Biên bản giao nhận tang tài vật số NK2024/150 ngày 25/01/2024 của Cục Thi hành án dân sự Thành phố Hồ Chí Minh).

5. Bị cáo Nguyễn Thị Thanh V có trách nhiệm bồi thưởng thiệt hại đối với số tiền 5.700.000 (năm triệu bảy trăm nghìn) đồng, bị cáo Tô Thị Kim L1 có trách nhiệm bồi thường thiệt hại đối với số tiền 6.700.000 (sáu triệu bảy trăm nghìn) đồng, bị cáo Mai Thị Thu H có trách nhiệm bồi thường thiệt hại với số tiền 5.000.000 (năm triệu) đồng cho bị hại Xie Y.

6. Căn cứ khoản 2 Điều 135; khoản 2 Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015; Luật phí và lệ phí; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án:

Buộc bị cáo Nguyễn Thị Thanh V phải nộp án phí hình sự sơ thẩm là 200.000 (hai trăm nghìn) đồng và án phí dân sự sơ thẩm là 300.000 (ba trăm nghìn) đồng.

Buộc bị cáo Tô Thị Kim L1 phải nộp án phí hình sự sơ thẩm là 200.000 (hai trăm nghìn) đồng và án phí dân sự sơ thẩm là 335.000 (ba trăm ba mươi lăm nghìn) đồng.

Buộc bị cáo Mai Thị Thu H phải nộp án phí hình sự sơ thẩm là 200.000 (hai trăm nghìn) đồng và án phí dân sự sơ thẩm là 300.000 (ba trăm nghìn) đồng.

7. Căn cứ Điều 331; Điều 333 của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015,

Bị cáo Nguyễn Thị Thanh V, Tô Thị Kim L1, Mai Thị Thu H, đương sự có mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 (mười lăm) ngày kể từ ngày tuyên án. Đương sự vắng mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 (mười lăm) ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc ngày bản án được niêm yết theo quy định.

Trong trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a và 9; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự, được sửa đổi, bổ sung năm 2014./.

Nơi nhận:

  • Tòa án nhân dân tối cao;
  • Tòa án nhân dân cấp cao tại TP.HCM;
  • Viện kiểm sát nhân dân TP.HCM;
  • Cục Thi hành án dân sự TP.HCM;
  • Sở Tư pháp TP.HCM;
  • Thi hành án hình sự TAND TP.HCM;
  • Trại giam; Bị cáo; Bị hại; Người QLNVLQ;
  • Phòng PV06 – Công an TP. Hồ Chí Minh;
  • Lưu: VT, hồ sơ vụ án (30).

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Nguyễn Mai Trâm

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 170/2024/HS-ST ngày 17/04/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH về hình sự sơ thẩm về tội trộm cắp tài sản

  • Số bản án: 170/2024/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Hình sự sơ thẩm về tội Trộm cắp tài sản
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 17/04/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Tội trộm cắp tài sản
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger