|
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BẾN TRE TỈNH BẾN TRE |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
|
Bản án số: 130/2024/ DS-ST Ngày: 19/8/2024 V/v “Tranh chấp hợp đồng tín dụng" |
|
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BẾN TRE
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Duy Phong
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Trần Văn Hổ
Ông Trần Văn Hưng
- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Diễm Thúy- Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Bến Tre
Vào ngày 16 tháng 8 năm 2024 tại Trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Bến Tre xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 189/2024/TLST- KDTM ngày 06 tháng 6 năm 2024 về việc: “Tranh chấp hợp tín dụng” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 141/2024/QĐXX ST ngày 14 tháng 7 năm 2024, Quyết định hoãn phiên tòa số 181 ngày 01/8/2024 giữa các đương sự:
- * Nguyên đơn: Ngân hàng thương mại cổ phần S
- Địa chỉ: 2 N, phường V, Quận C, Tp ..
- Đại diện theo pháp luật: Bà Nguyễn Đức Thạch D – Tổng Giám đốc
- Đại diện theo uỷ quyền: Ngân hàng thương mại cổ phần S Chi nhánh B là Ông Nguyễn Văn G – Giám đốc Chi nhánh B
- Địa chỉ: A Đại lộ Đ, phường P, thành phố B, tỉnh Bến Tre
- Ông Nguyễn Văn G uỷ quyền cho Bà Huỳnh Như N, sinh năm: 1993; Chức vụ: Chuyên viên quản lý nợ (có mặt)
- * Bị đơn: Ông Trần Minh H, sinh năm 1983
- Địa chỉ: Số A khu phố C, phường A, thành phố B, tỉnh Bến Tre. (vắng mặt)
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn khởi kiện, bản tự khai, cùng các văn bản, tài liệu chứng cứ cung cấp cho Tòa án cũng như tại phiên tòa hôm nay, người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn Ngân hàng thương mại cổ phần S (S1) tham gia tố tụng là Bà Huỳnh Như N trình bày:
Ngày 14/12/2019 bên vay là ông Trần Minh H có đề nghị với Ngân hàng thương mại cổ phần S – Chi nhánh B cấp thẻ tín dụng. Qua xác minh thực tế nhu cầu sử dụng và tình hình tài chính, thu nhập của khách hàng. Ngân hàng thương mại cổ phần S – Chi nhánh B đã đồng ý cấp thẻ tín dụng cho ông Trần Minh H theo Giấy đề nghị cấp thẻ tín dụng kiêm hợp đồng ngày 14/12/2019. Loại thẻ: quốc tế JCB Classic, hạn mức tín dụng thẻ được cấp là 30.000.000 đồng (Ba mươi triệu đồng), mục đích tiêu dùng, lãi suất: 2,6%/tháng. Thời hạn sử dụng thẻ là 05 năm và thẻ tự động gia hạn thời gian sử dụng. Hàng tháng khách hàng phải thanh toán 5% dư nợ đầu kỳ (chốt dư nợ đầu kỳ ngày 22 tây hàng tháng), Ngân hàng sẽ cho khách hàng 25 ngày để thanh toán. Nếu khách hàng phát sinh trễ hạn sẽ bị thu phí phạt bằng 6% (tối thiểu 80.000) số tiền thanh toán tối thiểu của kỳ đó.
Nếu khách hàng không thanh toán hoặc không thanh toán đầy đủ số tiền thanh toán tối thiểu sau 02 kỳ chốt thông báo giao dịch cộng 10 ngày thẻ sẽ chuyển sang nợ nhóm 2.
Từ thời điểm chuyển nhóm 2 nếu khách hàng không thanh toán đủ số tiền thanh toán tối thiểu của 2 kỳ chốt giao dịch sau thời gian 90 ngày thẻ sẽ chuyển nợ nhóm 3 và chốt toàn bộ dư nợ thành vốn gốc, lãi phát sinh sau khi chuyển nhóm 3 sẽ bằng 150% lãi trong hạn.
Sau khi được cấp Thẻ tín dụng, ông Trần Minh H đã thực hiện các giao dịch với tổng số tiền là 30.200.000 đồng (Ba mươi triệu hai trăm nghìn đồng). Trong quá trình thanh toán thẻ từ ngày 22/12/2019 đến ngày 22/10/2023 ông Trần Minh H thanh toán tổng cộng 41.375.968 đồng (Bốn mươi mốt triệu ba trăm bảy mươi lăm nghìn chín trăm sáu mươi tám đồng).
Do không thực hiện đúng theo cam kết hợp đồng khi không thanh toán phần vốn lãi cho Ngân hàng nên toàn bộ khoản nợ của khoản vay trên của khách hàng đã chuyển sang quá hạn. Căn cứ khoản 24.1 Điều 24 Phụ lục Điều khoản và điều kiện phát hành và sử dụng thẻ tín dụng cá nhân của ngân hàng TMCP S thì ông Trần Minh H đã vi phạm hợp đồng khi không thanh toán thẻ tín dụng dẫn đến khoản vay thẻ tín dụng bị quá hạn nên Ngân hàng đình chỉ thẻ tín dụng nêu trên. Thẻ tín dụng của ông Trần Minh H đang trong nhóm 4. Tổng vốn, lãi thẻ tín dụng hiện tại tính đến ngày 19/8/2024 là 39.042.140 đồng (Ba mươi chín triệu không trăm bốn hai ngàn một trăm bốn mươi đồng). Trong đó: Vốn gốc: 31.294.841 đồng; Lãi trong hạn: 5.164.866 đồng; Lãi quá hạn: 2.582.433 đồng.
Nay yêu cầu Tòa xem xét và phán quyết buộc:
Buộc cá nhân ông Trần Minh H phải trả cho Ngân Hàng TMCP S (do Ngân hàng thương mại cổ phần S – Chi nhánh B nhận thay) toàn bộ số tiền nợ thẻ tín dụng nêu trên là tính đến ngày 19/8/2024 là 39.042.140 đồng (Ba mươi chín triệu không trăm bốn hai ngàn một trăm bốn mươi đồng). Trong đó: Vốn gốc: 31.294.841 đồng; Lãi trong hạn: 5.164.866 đồng; Lãi quá hạn: 2.582.433 đồng và Ngân hàng tiếp tục tính lãi của thẻ tín dụng trên từ ngày 20/8/2024 đến khi ông Trần Minh H trả tất nợ cho Ngân hàng.
Trong quá trình giải quyết vụ án, Tòa án nhân dân thành phố Bến Tre, tỉnh Bến Tre đã nhiều lần mời ông Trần Minh H với vai trò là bị đơn đến để tiến hành hòa giải nhưng ông H vắng mặt không lý do nên không thể tiến hành hòa giải được.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa, căn cứ vào lời trình bày của đương sự, căn cứ vào kết quả tranh luận, Hội đồng xét xử nhận định:
- Về quan hệ pháp luật tranh chấp và thẩm quyền giải quyết: Ngày 09/4/2024 Ngân hàng thương mại cổ phần S có đơn khởi kiện yêu cầu ông Trần Minh H trả số tiền nợ thẻ tín dụng tính đến ngày 19/08/2024 là 39.042.140 đồng (Ba mươi chín triệu không trăm bốn hai ngàn một trăm bốn mươi đồng). Trong đó: Vốn gốc: 31.294.841 đồng; Lãi trong hạn: 5.164.866 đồng; Lãi quá hạn: 2.582.433 đồng và Ngân hàng tiếp tục tính lãi của thẻ tín dụng trên từ ngày 20/8/2024 đến khi ông Trần Minh H trả tất nợ cho Ngân hàng theo Giấy đề nghị cấp thẻ tín dụng kiêm hợp đồng ngày 14/12/2019. Xét đây là tranh chấp phát sinh trong hoạt động dân sự giữa tổ chức có đăng ký kinh doanh với cá nhân nên được xác định là “Tranh chấp hợp đồng tín dụng”. Ông Trần Minh H có địa chỉ tại thành phố B nên thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân thành phố Bến Tre theo quy định tại khoản 1 Điều 30 và Điều 35 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015.
- Ông Trần Minh H mặc dù đã được triệu tập hợp lệ nhiều lần nhưng ông H vẫn vắng mặt không lý do, đồng thời ông H cũng không có người đại diện nên không thể tiến hành phiên họp tiếp cận công khai chứng cứ và hòa giải được, Tòa án cũng đã tiến hành tống đạt Quyết định đưa vụ án ra xét xử, quyết định hoãn phiên tòa hợp lệ nhưng ông vẫn không có mặt để tham gia phiên tòa. Do đó, căn cứ điểm b, khoản 2 Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự, Tòa án tiến hành xét xử vắng mặt đối với ông Trần Minh H.
- Về nội dung vụ án: Ngày 14/12/2019 Ngân hàng thương mại cổ phần S – Chi nhánh B có cấp thẻ tín dụng cho ông Trần Minh H, hạn mức tín dụng thẻ được cấp là 30.000.000 đồng (Ba mươi triệu đồng), mục đích tiêu dùng, lãi suất: 2,6%/tháng. Thời hạn sử dụng thẻ là 05 năm và thẻ tự động gia hạn thời gian sử dụng. Sau khi được cấp Thẻ tín dụng, ông Trần Minh H đã thực hiện các giao dịch với tổng số tiền là 30.200.000 đồng (Ba mươi triệu hai trăm nghìn đồng). Trong quá trình thanh toán thẻ từ ngày 22/12/2019 đến ngày 22/10/2023 ông Trần Minh H thanh toán tổng cộng 41.375.968 đồng (Bốn mươi mốt triệu ba trăm bảy mươi lăm nghìn chín trăm sáu mươi tám đồng).
Tuy nhiên, trong quá trình thực hiện hợp đồng vay ông Trần Minh H không thực hiện đúng theo cam kết hợp đồng khi không thanh toán phần vốn lãi cho Ngân hàng nên toàn bộ khoản nợ của khoản vay trên của khách hàng đã chuyển sang quá hạn và chịu mức lãi suất quá hạn.
Tạm tính đến hết ngày 19/8/2024, ông Trần Minh H còn nợ Ngân hàng thương mại cổ phần S các khoản sau: 39.042.140 đồng (Ba mươi chín triệu không trăm bốn hai ngàn một trăm bốn mươi đồng). Trong đó: Vốn gốc: 31.294.841 đồng; Lãi trong hạn: 5.164.866 đồng; Lãi quá hạn: 2.582.433 đồng và Ngân hàng tiếp tục tính lãi của thẻ tín dụng trên từ ngày 20/08/2024 đến khi ông Trần Minh H trả tất nợ cho Ngân hàng. Nay Ngân hàng yêu cầu ông Trần Minh H phải thanh toán cho Ngân hàng thương mại cổ phần S khoản nợ trên, đồng thời yêu cầu tính lãi tiếp tục từ ngày 20/8/2024 cho đến khi ông Trần Minh H trả tất nợ cho Ngân hàng thương mại cổ phần S.
Tại phần Cam kết trong Giấy đề nghị cấp thẻ tín dụng kiêm hợp đồng số 1395830 ngày 19/12/2019 thể hiện: "Tôi/Chúng tôi có nghĩa vụ thanh toán dư nợ đầy đủ và đúng hạn theo yêu cầu của S1. Tôi/Chúng tôi hiểu rằng trường hợp Tôi/Chúng tôi được S1 cấp tín dụng dưới bất kỳ hình thức nào (tại bất kỳ thời điểm nào) và có tài sản bảo đảm thì nghĩa vụ bảo đảm của tài sản đó đương nhiên bao gồm cả nghĩa vụ thanh toán phát sinh trong quá trình sử dụng thẻ. Việc Tôi/Chúng tôi bị chấm dứt cấp tín dụng tại S1 vì bất cứ lý do gì có thể dẫn đến trình trạng thẻ bị chấm dứt hoạt động và/hoặc xử lý tài sản đảm bảo từ phía S1.”
Cam kết đã thể hiện việc ông Trần Minh H có nghĩa vụ thanh toán dư nợ đầy đủ và đúng hạn theo yêu cầu của Ngân hàng thương mại cổ phần S. Điều này chứng tỏ ông H phải chịu trách nhiệm thanh toán nợ theo Giấy đề nghị cấp thẻ tín dụng kiêm hợp đồng. Vì vậy ông Trần Minh H phải có trách nhiệm trả cho Ngân hàng khoản nợ trên. Do đó yêu cầu của Ngân hàng thương mại cổ phần S là phù hợp nên được chấp nhận.
[4] Về án phí: Do yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn Ngân hàng thương mại cổ phần S được chấp nhận nên án phí dân sự có giá ngạch ông Trần Minh H phải chịu là 1.952.000 đồng (Một triệu chín trăm năm mươi hai nghìn đồng).
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào các Điều 351, 352; 335; 336; 338; 340; 342; 463; 468 Bộ luật dân sự;
Căn cứ vào các Điều 91, 95 Luật các tổ chức tín dụng;
Căn cứ các Điều 30, 35, 147, 227 Bộ luật Tố tụng dân sự;
Căn cứ Nghị quyết số 326/NQ-UBTVQH14 ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án,
Tuyên xử:
- Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn; cụ thể tuyên:
Buộc Ông Trần Minh H có trách nhiệm trả cho Ngân Hàng TMCP S (do Ngân hàng thương mại cổ phần S – Chi nhánh B nhận thay) số tiền tổng cộng vốn gốc: 39.042.140 đồng (Ba mươi chín triệu không trăm bốn hai ngàn một trăm bốn mươi đồng). Trong đó: Vốn gốc: 31.294.841 đồng; Lãi trong hạn: 5.164.866 đồng; Lãi quá hạn: 2.582.433 đồng.
Ông Trần Minh H còn phải tiếp tục chịu lãi suất trên số nợ gốc theo mức lãi suất thỏa thuận theo Giấy đề nghị cấp thẻ tín dụng kiêm hợp đồng ngày 14/12/2019 ký giữa Ngân Hàng TMCP S và ông Trần Minh H từ ngày 20/8/2024 cho đến khi ông Trần Minh H trả tất nợ cho Ngân Hàng TMCP S.
- Về án phí: Án phí Dân sự sơ thẩm có giá ngạch là 1.952.000 đồng (Một triệu chín trăm năm mươi hai nghìn đồng), ông Trần Minh H phải nộp.
Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Bến Tre, tỉnh Bến Tre hoàn trả lại cho Ngân Hàng TMCP S số tiền tạm ứng án phí là 833.000đồng (Tám trăm ba mươi ba ngàn đồng) theo Biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0002554 ngày 31/5/2024 của Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Bến Tre.
Các đương sự có quyền làm đơn kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án, đương sự vắng mặt tại phiên tòa hoặc không có mặt khi tuyên án mà có lý do chính đáng thì thời hạn kháng cáo tính từ ngày nhận được bản án hoặc được tống đạt hợp lệ.
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, có quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Duy Phong (đã ký) |
Bản án số 130/2024/ DS-ST ngày 19/08/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BẾN TRE, TỈNH BẾN TRE về tranh chấp hợp đồng tín dụng
- Số bản án: 130/2024/ DS-ST
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hợp đồng tín dụng
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 19/08/2024
- Loại vụ/việc: Dân sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BẾN TRE, TỈNH BẾN TRE
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ngân hàng B
