Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN CHƯƠNG MỸ

THÀNH PHỐ HÀ NỘI

*****

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

*****

Bản án số: 170/2024/DS-ST

Ngày: 12/09/2024

V/v: “Tranh chấp hợp đồng tín

dụng”.

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CHƯƠNG MỸ - TP HÀ NỘI

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

  • Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Hoàng Long
  • Các Hội thẩm nhân dân: Bà Nguyễn Thị Hà
  • Bà Đặng Thị Phương Hạnh
  • Thư ký ghi biên bản phiên tòa: Bà Đỗ Thị Luân – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Chương Mỹ.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Chương Mỹ tham gia phiên tòa: Bà Triệu Thị Hồng - Kiểm sát viên.

Ngày 12 tháng 09 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Chương Mỹ, Thành phố Hà Nội xét xử sơ thẩm công khai vụ án Dân sự thụ lý số: 01/2024/TLST-DS ngày 02/01/2024 về “Tranh chấp hợp đồng tín dụng”. Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 72/2024/QĐST-DS ngày 20/08/2024; Quyết định hoãn phiên tòa số: 69/2024/QĐST-DS ngày 04/09/2024 giữa các đương sự:

  • * Nguyên đơn: Ngân hàng TMCP Q (N2)
  • Trụ sở chính: 25 L, phường L, quận H, Thành phố Hà Nội.
  • Người đại diện theo pháp luật: Bà Bùi Thị Thanh H - Chức vụ: Chủ tịch Hội đồng quản trị .
  • Người đại diện theo ủy quyền: Ông Lê Viết P - Chức vụ: Quyền Giám đốc Trung tâm Xử lý nợ - Ngân hàng TMCP Q (Giấy ủy quyền số: 178/2023/UQ-HĐQT.NCB ngày 27/11/2023 của Chủ tịch Hội đồng quản trị Ngân hàng TMCP Q
  • Ông Lê Viết P uỷ quyền lại cho ông Hồ Trọng N, ông Ứng Doãn T, bà Trần Lê Phương U (Giấy uỷ quyền số: 462/2024/UQ-BĐH.NCB ngày 16/01/2024.
  • * Bị đơn: 1. Ông Nguyễn Tiến L, sinh năm 1976.
  • 2. Bà Trần Minh N1, sinh năm 1980.
  • Cư trú tại: thôn T, xã H, huyện C, TP Hà Nội.
  • * Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan:
  • 1. Công ty Cổ phần T2 (gọi tắt là: Công ty T2)
  • Địa chỉ: Tầng E, Tòa nhà F, đường L, phường M, quận N, Thành phố Hà Nội và địa chỉ: Tầng B, Tòa nhà B, số B đường C, phường D, quận C, Thành phố Hà Nội.
  • Người đại diện theo pháp luật: Ông Lê Tiến D.

Tại phiên tòa:

  • + Người đại diện theo ủy quyền của Ngân hàng TMCP Q bà Trần Lê Phương U và Bị đơn ông Nguyễn Tiến L có mặt.
  • + Bị đơn - Bà Trần Minh N1; người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Công ty Cổ phần T2 vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

* Theo đơn khởi kiện, bản tự khai và lời trình bày tại phiên tòa của người đại diện theo ủy quyền của Nguyên đơn Ngân hàng TMCP Q (N2) – Bà Trần Lê Phương U trình bày:

Về Hợp đồng tín dụng: Ngày 23/10/2018, giữa Ngân hàng Thương mại Cổ phần Q – Chi nhánh H1 (gọi tắt là: Ngân hàng N2) với vợ chồng ông Nguyễn Tiến L, bà Trần Minh N1 đã ký Hợp đồng cho vay số: 216/18/HĐCV-9346 với nội dung: Ông Nguyễn Tiến L, bà Trần Minh N1 vay Ngân hàng N2 số tiền là: 898.170.000 đồng (Bằng chữ: T1 trăm chín mươi tám triệu, một trăm bảy mươi nghìn đồng). Ngân hàng N2 đã giải ngân cho ông L, bà N1 tổng số tiền là: 829.547.727 đồng (Bằng chữ: Tám trăm hai mươi chín triệu, năm trăm bốn mươi bảy nghìn, bảy trăm hai mươi bảy đồng).

Mục đích vay: Vay thanh toán tiền mua căn hộ số: 927 tại tầng 9 của khách sạn F thuộc Dự án Quần thể trung tâm hội nghị, Khu dịch vụ, du lịch nghỉ dưỡng và Biệt thự nghỉ dưỡng F1 tại Khu vực đồi cột 3 đến cột H thành phố H, tỉnh Quảng Ninh.

Thời hạn vay: 168 tháng tính từ ngày tiếp theo kể từ ngày giải ngân khế ước nhận nợ đầu tiên.

Lãi suất thả nổi như sau:

  • + Lãi suất kỳ đầu tiên: Lãi suất vay kể từ ngày giải ngân đến ngày 05/02/2019 là 8,5%/năm
  • + Lãi suất kỳ tiếp theo: Lãi suất áp dụng đối với khoản vay của khách hàng cho thời gian tiếp theo được điều chỉnh định kỳ 03 tháng/lần theo công thức:
  • Lãi suất vay bằng (=) Lãi suất cơ sở cộng (+) 3,9%.

Quá trình thực hiện hợp đồng cho vay đã ký: Ông Nguyễn Tiến L, bà Trần Minh N1 đã được Ngân hàng N2 giải ngân 02 lần, cụ thể như sau:

  • * Ngày 23/10/2018, Ngân hàng N2 đã giải ngân cho ông L, bà N1 số tiền: 458.640.000 đồng (Bằng chữ: Bốn trăm năm mươi tám triệu, sáu trăm bốn mươi nghìn đồng) theo Khế ước nhận nợ số: 001/KUNN/216/18/HĐCV-9346 ngày 23/10/2018.
  • + Kỳ hạn trả lãi vay: 01 tháng/1 kỳ, tính từ ngày trả lãi vay đầu tiên. Ngày trả lãi vay đầu tiên là ngày 25/11/2018. Các ngày trả lãi vay tiếp theo vào ngày 25 hàng tháng. Ngày trả lãi cuối cùng là ngày kết thúc thời hạn vay.
  • + Trả nợ gốc: Ân hạn gốc 12 tháng kể từ ngày giải ngân đầu tiên. Ông L, bà N1 trả nợ gốc cho Ngân hàng NCB nhiều lần theo kỳ, cụ thể: Lần trả nợ gốc đầu tiên sau 12 tháng kể từ ngày giải ngân lần đầu tiên. Ông L, bà N1 phải trả nợ gốc kỳ đầu tiên số tiền là: 2.940.000 đồng cho Ngân hàng N2 vào ngày 25/11/2019; các kỳ tiếp theo trả nợ gốc theo lịch như sau: Từ kỳ thứ 02 đến kỳ 155 trả Ngân hàng N2 số tiền là: 2.940.000 đồng vào ngày 25 hàng tháng. Kỳ thứ 156 (kỳ cuối cùng) trả số tiền: 2.940.000 đồng vào ngày 23/10/2032.
  • * Ngày 04/01/2019, Ngân hàng N2 đã giải ngân cho ông L, bà N1 số tiền: 370.907.727 đồng (Bằng chữ: Ba trăm bảy mươi triệu, chín trăm linh bảy nghìn, bảy trăm hai mươi bảy đồng) theo Khế ước nhận nợ số: 002/KUNN/216/18/HĐCV/9346 ngày 04/01/2019.
  • + Kỳ hạn trả lãi vay: 01 tháng/1 kỳ, tính từ ngày trả lãi vay đầu tiên. Ngày trả lãi vay đầu tiên là ngày 25/01/2019. Các ngày trả lãi vay tiếp theo vào ngày 25 hàng tháng. Ngày trả lãi cuối cùng là ngày kết thúc thời hạn vay.
  • + Trả nợ gốc: Ân hạn gốc 12 tháng kể từ ngày giải ngân đầu tiên. Ông L, bà N1 trả nợ gốc cho Ngân hàng NCB nhiều lần theo kỳ. Cụ thể: Lần trả nợ gốc đầu tiên sau 12 tháng kể từ ngày giải ngân lần đầu tiên. Ông L, bà N1 phải trả nợ gốc kỳ đầu tiên số tiền là: 2.378.000 đồng cho Ngân hàng N2 vào ngày 25/11/2019. Các kỳ tiếp theo trả nợ gốc theo lịch như sau: Từ kỳ thứ 02 đến kỳ 155 trả 2.378.000 đồng vào ngày 25 hàng tháng. Kỳ thứ 156 (kỳ cuối cùng) trả: 2.317.727 đồng vào ngày 23/10/2032.

Tổng số tiền của 02 lần giải ngân, Ngân hàng N2 đã giải ngân cho ông L, bà N1 số tiền là: 829.547.727 đồng (Bằng chữ: Tám trăm hai mươi chín triệu, năm trăm bốn mươi bảy nghìn, bảy trăm hai mươi bảy đồng).

Tài sản bảo đảm: Để bảo đảm cho khoản vay của Hợp đồng cho vay nêu trên tại Ngân hàng N2, ông L, bà N1 đã thế chấp cho Ngân hàng N2: Toàn bộ quyền tài sản của ông Nguyễn Tiến L và bà Trần Minh N1 phát sinh từ Hợp đồng mua bán Căn hộ số: 927/2018/HĐMB-FLC GrandHotel HaLong ngày 17/08/2018 và các Phụ lục kèm theo Hợp đồng mua bán căn hộ số: 927 tầng 9 của Khách sạn F, diện tích 47.4m2, bao gồm:

  • - Quyền nhận nhà từ Bên bán nhà sau khi nhà được xây dựng xong.
  • - Quyền sở hữu nhà.
  • - Quyền sử dụng đất (nếu có).
  • - Quyền được ghi tên trên giấy chứng nhận quyền sở hữu nhà ở, quyền sử dụng đất và tài sản khác gắn liền với đất “Giấy chứng nhận”.
  • - Quyền nhận Giấy chứng nhận quyền sở hữu nhà ở và các hồ sơ liên quan đến nhà từ bên Bán/chuyển nhượng và/hoặc bất kỳ bên thứ ba nào khác.
  • - Quyền yêu cầu Bên bán/chuyển nhượng thực hiện các nghĩa vụ khác trong Hợp đồng mua bán nêu trên, kể cả nghĩa vụ phạt vi phạm và bồi thường thiệt hại (nếu có).
  • - Các quyền khác mà ông L, bà N1 được hưởng theo Hợp đồng mua bán trên.
  • - Các quyền, lợi ích phát sinh từ Tài sản bảo đảm (bao gồm nhưng không giới hạn ở hoa lợi, lợi tức, tiền đền bù, bồi thường, bảo hiểm,...) cũng đều thuộc tài sản bảo đảm.

Căn cứ vào Hợp đồng mua bán Căn hộ giữa Công ty T2 và ông L, bà N1, Ngân hàng N2 được biết ông L, bà N1 có ký thêm Hợp đồng thuê và quản lý tài sản với Công ty T2 (và/hoặc với Bên thứ ba do Công ty T2 chỉ định), theo ông L, bà N1 sẽ giao cho Công ty T2 (và/hoặc Bên thứ ba do Công ty T2 chỉ định) được độc quyền thuê, quản lý, kinh doanh, khai thác Căn hộ.

Tài sản bảo đảm trên được ông L, bà N1 thế chấp theo Hợp đồng thế chấp tài sản số: 216/18/HĐTC-9346 ngày 23/10/2018. Đăng ký giao dịch bảo đảm tại Trung tâm đăng ký giao dịch tài sản tại Hà Nội ngày 23/10/2018.

Quá trình thực hiện Hợp đồng tín dụng, ông L, bà N1 đã vi phạm nghĩa vụ trả nợ gốc, lãi cho Ngân hàng N2 theo Hợp đồng cho vay đã ký, nên khoản vay trên bị chuyển nợ quá hạn từ ngày 25/8/2020.

Tạm tính đến ngày 14/8/2024, ông L, bà N1 đã trả cho Ngân hàng N2 được tổng số tiền là: 282.087.105 đồng. Trong đó: Tiền gốc là: 97.883.182 đồng; tiền lãi trên số dư nợ gốc là: 175.186.549 đồng và tiền lãi quá hạn: 4.232.405 đồng; lãi chậm trả lãi là 4.784.969 đồng.

Đến nay, ông L, bà N1 còn phải trả cho Ngân hàng N2 tổng số tiền tạm tính đến hết ngày 14/8/2024 là: 1.213.027.861 đồng. Trong đó:

  • + Khế ước nhận nợ số: 001/KUNN/216/18/HĐCV-9346 ngày 23/10/2018 tổng số tiền là: 681.690.062 đồng. Trong đó: Nợ gốc: 403.560.818 đồng; lãi trong hạn: 197.518.776 đồng; lãi quá hạn: 39.496.313 đồng; lãi chậm trả: 41.114.155 đồng.
  • + Khế ước nhận nợ số: 002/KUNN/216/18/HĐCV/9346 ngày 04/01/2019 tổng số tiền là: 531.337.799 đồng. Trong đó: Nợ gốc là: 328.103.727 đồng; lãi trong hạn: 145.265.522 đồng; lãi quá hạn: 29.451.884 đồng; lãi chậm trả: 28.516.666 đồng

Sau khi phát sinh nợ quá hạn, Ngân hàng N2 đã nhiều lần đôn đốc, tạo điều kiện để ông L, bà N1 thực hiện nghĩa vụ trả nợ cho Ngân hàng NCB nhưng ông L, bà N1 không thực hiện đã gây ảnh hưởng đến quyền và lợi ích hợp pháp của Ngân hàng N2.

Nay, Ngân hàng N2 khởi kiện đề nghị Tòa án nhân dân huyện Chương Mỹ giải quyết:

Buộc ông Nguyễn Tiến L và bà Trần Minh N1 phải trả cho Ngân hàng N2 tổng số tiền tạm tính đến hết ngày 14/08/2024 là: 1.213.027.861 đồng. Trong đó:

  • + Khế ước nhận nợ số: 001/KUNN/216/18/HĐCV-9346 ngày 23/10/2018 tổng số tiền là: 681.690.062 đồng. Trong đó: Nợ gốc: 403.560.818 đồng; lãi trong hạn: 197.518.776 đồng; lãi quá hạn: 39.496.313 đồng; lãi chậm trả: 41.114.155 đồng.
  • + Khế ước nhận nợ số: 002/KUNN/216/18/HĐCV/9346 ngày 04/01/2019 tổng số tiền là: 531.337.799 đồng. Trong đó: Nợ gốc là: 328.103.727 đồng; lãi trong hạn: 145.265.522 đồng; lãi quá hạn: 29.451.884 đồng; lãi chậm trả: 28.516.666 đồng.

Ông L, bà N1 còn phải thanh toán cho Ngân hàng NCB số tiền lãi phát sinh kể từ ngày 15/08/2024 theo lãi suất thỏa thuận tại Hợp đồng cho vay và các Khế ước nhận nợ cho đến khi thanh toán xong khoản nợ cho Ngân hàng N2.

Trường hợp ông L, bà N1 không thực hiện hoặc thực hiện không đầy đủ nghĩa vụ trả nợ cho Ngân hàng N2, Ngân hàng N2 được quyền yêu cầu cơ quan Thi hành án có thẩm quyền kê biên, xử lý tài sản thế chấp là: Toàn bộ quyền tài sản của ông Nguyễn Tiến L và bà Trần Minh N1 phát sinh từ Hợp đồng mua bán Căn hộ số: 927/2018/HĐMB-FLC GrandHotel HaLong ngày 17/08/2018 và các Phụ lục kèm theo Hợp đồng mua bán căn hộ số: 927 tầng 9 của Khách sạn F, diện tích 47.4m² theo Hợp đồng thế chấp quyền tài sản số: 216/18/HĐTC-9346 ngày 23/10/2018.

Trường hợp số tiền thu được từ việc xử lý tài sản bảo đảm không đủ thanh toán hết khoản nợ thì ông L, bà N1 vẫn phải có nghĩa vụ trả hết khoản nợ cho Ngân hàng NCB.

Buộc ông L, bà N1 phải chịu mọi chi phí tố tụng phát sinh trong suốt quá trình giải quyết vụ án theo quy định của pháp luật.

Đối với Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan: Buộc Công ty T2 chuyển toàn bộ số tiền thu được từ hoạt động cho thuê căn hộ số: 927 tại tầng 9 thuộc dự án FLC Grandhotel HaLong của ông L, bà N1 cho Ngân hàng N2 để thu hồi khoản nợ. Buộc Công ty T2 phải cung cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất đối với căn hộ số: 927 tại tầng 9 cho Ngân hàng N2 khi được cơ quan nhà nước có thẩm quyền cấp và yêu cầu Công ty T2 có trách nhiệm phối hợp, hỗ trợ bàn giao tài sản bảo đảm của ông L, bà N1 cho Ngân hàng N2 và Cơ quan Thi hành án Dân sự có thẩm quyền để xử tài sản thế chấp.

* Bị đơn – Ông Nguyễn Tiến L trình bày.

Năm 2017, theo truyền thông quảng cáo báo chí về dự án FLC H đăng bán căn hộ du lịch FLC H - Quảng Ninh. Sau đó, qua tìm hiểu ông Nguyễn Tiến L, bà Trần Minh N1 được biết Công ty Cổ phần T2 là chủ đầu tư nổi tiếng, có cam kết chia sẻ tiền thuê lại tài sản cao (12%/năm), có chính sách hỗ trợ khoản vay từ ngân hàng nên ông L, bà N1 đã quyết định mua căn hộ theo Hợp đồng mua bán Căn hộ số: 927/2018/HĐMB-FLC GrandHotel HaLong ngày 17/08/2018 với Công ty T2. Do thiếu vốn nên ông L, bà N1 ký vay tiền với Ngân hàng N2 theo Hợp đồng cho vay số: 216/18/HĐCV-9346 ngày 23/10/2018 với 02 Khế ước nhận nợ số 001/KUNN/216/18/HĐCV-9346 ngày 23/10/2018 và Khế ước nhận nợ số 002/KUNN/216/18/HĐCV/9346 ngày 04/01/2019. Tổng số tiền ông L, bà N1 được Ngân hàng N2 giải ngân là: 829.547.727 đồng.

Tài sản đảm bảo cho khoản vay tại Ngân hàng N2 là: Toàn bộ quyền tài sản của ông Nguyễn Tiến L và bà Trần Minh N1 phát sinh từ Hợp đồng mua bán Căn hộ số: 927/2018/HĐMB-FLC GrandHotel HaLong ngày 17/08/2018 và các Phụ lục kèm theo Hợp đồng mua bán căn hộ số: 927 tầng 9 của Khách sạn F, diện tích 47.4m² theo Hợp đồng thế chấp quyền tài sản số: 216/18/HĐTC-9346 ngày 23/10/2018.

Hiện nay căn hộ số: 927 tầng 9 của Khách sạn F HaLong ông L, bà N1 đang cho bên Công ty Cổ phần T2 thuê để kinh doanh khách sạn. Từ giữa năm 2020 thì bên Công ty Cổ phần T2 không thanh toán trả ông L, bà N1 tiền thuê nhà dẫn đến ông L, bà N1 không có tiền trả cho khoản vay tại Ngân hàng N2.

Đối với số tiền bên Ngân hàng NCB kê khai thể hiện ông L, bà N1 đã thanh toán trả Ngân hàng NCB được tổng số tiền là: 282.087.105 đồng. Trong đó: Tiền gốc là: 97.883.182 đồng; tiền lãi trên số dư nợ gốc là: 175.186.549 đồng và tiền lãi quá hạn: 4.232.405 đồng; lãi chậm trả lãi là 4.784.969 đồng thì ông L, bà N1 thừa nhận.

Trước yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng N2 là buộc vợ chồng ông L, bà N1 phải trả cho Ngân hàng N2 tổng số tiền tạm tính đến hết ngày 14/8/2024 là: 1.213.027.861 đồng. Trong đó:

  • + Khế ước nhận nợ số: 001/KUNN/216/18/HĐCV-9346 ngày 23/10/2018 tổng số tiền là: 681.690.062 đồng. Trong đó: Nợ gốc: 403.560.818 đồng; lãi trong hạn: 197.518.776 đồng; lãi quá hạn: 39.496.313 đồng; lãi chậm trả: 41.114.155 đồng.
  • + Khế ước nhận nợ số: 002/KUNN/216/18/HĐCV/9346 ngày 04/01/2019 tổng số tiền là: 531.337.799 đồng. Trong đó: Nợ gốc là: 328.103.727 đồng; lãi trong hạn: 145.265.522 đồng; lãi quá hạn: 29.451.884 đồng; lãi chậm trả: 28.516.666 đồng.

Ông L, bà N1 đề nghị Ngân hàng giảm lãi suất để ông L, bà N1 thu xếp tiền trả nợ.

* Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan là Công ty Cổ phần T2 vắng mặt trong suốt quá trình giải quyết vụ án và không có ý kiến trình bày.

* Theo Biên bản xem xét thẩm định tại chỗ do Tòa án nhân dân Thành phố Hạ Long, tỉnh Quảng Ninh thực hiện theo Quyết định ủy thác thu thập chứng cứ số: 18/2024/QĐ-UTTA ngày 08/05/2024 của Tòa án nhân dân huyện Chương Mỹ, Thành phố Hà Nội thể hiện:

  • + Căn hộ số: 927 tầng 9 của Khách sạn F có mã quản lý vận hành là 948 có vị trí: Phía Bắc giáp căn hộ số 947; phía Đông hướng sảnh chính; phía Tây giáp hành lang bộ; phía Nam giáp căn hộ I.
  • + Về diện tích, thiết kế nội thất, trang thiết bị: Qua đối chiếu, xem xét trực tiếp căn hộ được xây dựng đúng với sơ đồ thiết kế; nội thất và trang thiết bị trong căn hộ đầy đủ đúng với danh mục kèm theo Hợp đồng mua bán Căn hộ số: 927/2018/HĐMB-FLC Grandhotel HaLong ngày 17/08/2018 giữa Công ty Cổ phần T2 với ông Nguyễn Tiến L, bà Trần Minh N1.

* Ý kiến trình bày tại phiên tòa của các đương sự:

  • + Người đại diện theo ủy quyền của Ngân hàng N2 giữ nguyên yêu cầu khởi kiện về việc yêu cầu ông Nguyễn Tiến L và bà Trần Minh N1 phải trả khoản tiền còn nợ tính đến hết ngày 12/09/2024 (ngày xét xử sơ thẩm) tổng số tiền là: 1.224.215.820 đồng. Trong đó: Nợ gốc: 731.664.545 đồng, lãi trong hạn: 347.939.920 đồng, lãi quá hạn: 72.258.806 đồng, phạt chậm trả lãi: 72.352.549 đồng. Trong đó:
    • Khế ước nhận nợ số: 001/KUNN/216/18/HĐCV-9346 ngày 23/10/2018 tổng số tiền là: 687.968.613 đồng. Trong đó: Nợ gốc: 403.560.818 đồng; lãi trong hạn: 200.369.336 đồng; lãi quá hạn: 41.355.953 đồng; lãi chậm trả: 42.682.506 đồng.
    • Khế ước nhận nợ số: 002/KUNN/216/18/HĐCV/9346 ngày 04/01/2019 tổng số tiền là: 536.247.208 đồng. Trong đó: Nợ gốc là: 328.103.727 đồng; lãi trong hạn: 147.570.585 đồng; lãi quá hạn: 30.902.853 đồng; lãi chậm trả: 29.670.043 đồng.
  • Kể từ ngày 13/09/2024, ông Nguyễn Tiến L và bà Trần Minh N1 phải tiếp tục chịu lãi phát sinh trên số dư nợ gốc theo mức lãi suất đã thỏa thuận trong Hợp đồng cho vay và Khế ước nhận nợ đã ký cho đến khi ông L và bà N1 thanh toán xong toàn bộ khoản nợ.
  • Trong trường hợp ông L và bà N1 không trả nợ hoặc trả nợ không đầy đủ cho Ngân hàng NCB, Ngân hàng N2 có quyền đề nghị Cơ quan Thi hành án Dân sự có thẩm quyền xử lý tài sản thế chấp để thu hồi nợ. Việc vợ chồng ông L và bà N1 xin giảm khoản tiền lãi thì hiện tại Ngân hàng N2 không đồng ý. Các bên sẽ thỏa thuận trong quá trình thi hành án trên cơ sở thiện chí thanh toán nợ của ông L và bà N1 với Ngân hàng N2.
  • + Bị đơn - Ông Nguyễn Tiến L trình bày: Ông Nguyễn Tiến L thừa nhận việc ký Hợp đồng cho vay với Ngân hàng N2 và thừa nhận tài sản thế chấp là: Toàn bộ quyền tài sản của ông Nguyễn Tiến L và bà Trần Minh N1 phát sinh từ Hợp đồng mua bán Căn hộ số: 927/2018/HĐMB-FLC GrandHotel HaLong ngày 17/08/2018 và các Phụ lục kèm theo Hợp đồng mua bán căn hộ số: 927 tầng 9 của Khách sạn F, diện tích 47.4m². Sau khi vay tiền để mua căn hộ nêu trên, ông L bà N1 được Công ty Cổ phần T2 thanh toán tiền thuê căn hộ nên có nguồn tiền để thanh toán cho Ngân hàng N2 theo như cam kết trong Hợp đồng cho vay. Tuy nhiên, từ giữa năm 2020 do bên Công ty Cổ phần T2 không thanh toán trả ông L, bà N1 tiền thuê nhà dẫn đến ông L, bà N1 không có tiền trả cho khoản vay tại Ngân hàng N2. Ông L, bà N1 đề nghị Ngân hàng giảm lãi suất để ông L, bà N1 thu xếp tiền trả nợ.

* Đại diện Viện kiểm sát phát biểu ý kiến tại phiên tòa:

  • + Về tố tụng: Thẩm phán, Thư ký thực hiện đúng quy định của Bộ luật Tố tụng Dân sự. Tòa án đã tiến hành thu thập chứng cứ theo đúng quy định của Bộ luật Tố tụng Dân sự. Nguyên đơn thực hiện đúng quyền, nghĩa vụ của đương sự theo quy định của Bộ luật Tố tụng Dân sự, bị đơn là ông Nguyễn Tiến L và bà Trần Minh N1 và người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan là Công ty Cổ phần T2 chưa thực hiện đúng quyền, nghĩa vụ của đương sự theo quy định của Bộ luật Tố tụng Dân sự.
  • + Về nội dung: Căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ do nguyên đơn xuất trình; ý kiến, quan điểm của nguyên đơn, bị đơn và ý kiến của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan trong quá trình giải quyết vụ án và các tài liệu chứng cứ do Tòa án thu thập. Đại diện Viện kiểm sát đề nghị:
  • - Về khoản tiền còn nợ và trách nhiệm trả nợ:
  • Đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng N2 về việc Ngân hàng N2 yêu cầu ông L và bà N1 phải thanh toán toàn bộ khoản tiền còn nợ tính đến hết ngày 12/09/2024 (ngày xét xử sơ thẩm) tổng số tiền là: 1.224.215.820 đồng. Trong đó: Nợ gốc: 731.664.545 đồng, lãi trong hạn: 347.939.920 đồng, lãi quá hạn: 72.258.806 đồng, phạt chậm trả lãi: 72.352.549 đồng. Trong đó:
    • Khế ước nhận nợ số: 001/KUNN/216/18/HĐCV-9346 ngày 23/10/2018 tổng số tiền là: 687.968.613 đồng. Trong đó: Nợ gốc: 403.560.818 đồng; lãi trong hạn: 200.369.336 đồng; lãi quá hạn: 41.355.953 đồng; lãi chậm trả: 42.682.506 đồng.
    • Khế ước nhận nợ số: 002/KUNN/216/18/HĐCV/9346 ngày 04/01/2019 tổng số tiền là: 536.247.208 đồng. Trong đó: Nợ gốc là: 328.103.727 đồng; lãi trong hạn: 147.570.585 đồng; lãi quá hạn: 30.902.853 đồng; lãi chậm trả: 29.670.043 đồng.
  • Kể từ ngày 13/09/2024, ông L và bà N1 phải tiếp tục chịu lãi phát sinh trên số dư nợ gốc theo mức lãi suất đã thỏa thuận tại Hợp đồng cho vay và Khế ước nhận nợ đã ký cho đến khi ông L và bà N1 thanh toán xong các khoản nợ cho Ngân hàng N2.
  • - Về xử lý tài sản bảo đảm: Đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu của Ngân hàng N2 về việc Ngân hàng N2 có quyền yêu cầu Cơ quan Thi hành án Dân sự có thẩm quyền kê biên, phát mại tài sản thế chấp để thu hồi nợ trong trường hợp ông L và bà N1 không trả nợ hoặc trả nợ không đầy đủ cho Ngân hàng NCB.
  • - Về án phí: Bị đơn là ông L và bà N1 phải chịu án phí Dân sự sơ thẩm có giá ngạch tương ứng với nghĩa vụ phải thanh toán theo quy định của pháp luật. Nguyên đơn (Ngân hàng N2) được chấp nhận yêu cầu khởi kiện nên được hoàn trả số tiền dự phí đã nộp.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

[1.]. Về tố tụng:

[1.1]. Về thẩm quyền giải quyết:

Ngày 23/10/2018, ông Nguyễn Tiến L, bà Trần Minh N1 Hợp đồng cho vay số: 216/18/HĐCV-9346 với Ngân hàng N2 để vay Ngân hàng NCB số tiền: 898.170.000 đồng (Bằng chữ: T1 trăm chín mươi tám triệu, một trăm bảy mươi nghìn đồng chẵn). Thực hiện Hợp đồng tín dụng, Ngân hàng N2 đã giải ngân cho ông L và bà N1 số tiền là: 829.547.727 đồng bằng 02 Khế ước nhận nợ. Cụ thể: Ngày 23/10/2018, Ngân hàng N2 đã giải ngân cho ông L, bà N1 số tiền: 458.640.000 đồng (Bằng chữ: Bốn trăm năm mươi tám triệu, sáu trăm bốn mươi nghìn đồng) theo Khế ước nhận nợ số 001/KUNN/216/18/HĐCV-9346 ngày 23/10/2018 và ngày 04/01/2019, Ngân hàng N2 đã giải ngân cho ông L, bà N1 số tiền: 370.907.727 đồng (Bằng chữ: Ba trăm bảy mươi triệu, chín trăm linh bảy nghìn, bảy trăm hai mươi bảy đồng) theo Khế ước nhận nợ số: 002/KUNN/216/18/HĐCV/9346 ngày 04/01/2019.

Trong quá trình thực hiện Hợp đồng tín dụng, ông L, bà N1 đã vi phạm thỏa thuận trong Hợp đồng cho vay và Khế ước nhận nợ đã ký. Ngân hàng N2 khởi kiện tại Tòa án nhân dân huyện Chương Mỹ yêu cầu ông L, bà N1 phải thanh toán khoản tiền gốc và tiền lãi còn nợ. Bị đơn là ông L, bà N1 có hộ khẩu thường trú tại: thôn T, xã H, huyện C, Thành phố Hà Nội nên theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 35 và khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng Dân sự, thẩm quyền giải quyết vụ án thuộc thẩm quyền của Tòa án nhân dân huyện Chương Mỹ, Thành phố Hà Nội.

[1.2]. Về người tham gia tố tụng:

Sau khi ký kết Hợp đồng cho vay với Ngân hàng N2 để mua căn hộ số: 927 tại tầng 9 của khách sạn F thuộc Dự án Quần thể trung tâm hội nghị, khu dịch vụ, du lịch nghỉ dưỡng và Biệt thự nghỉ dưỡng F1 tại khu vực đồi cột 3 đến cột 8 thành phố H thì ông L, bà N1 giao căn hộ cho Công ty Cổ phần T2 quản lý và khai thác. Do vậy, Tòa án đưa Công ty Cổ phần T2 vào tham gia tố tụng với tư cách là người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan trong vụ án.

[2]. Về nội dung vụ án:

[2.1]. Xét yêu cầu về quan hệ tín dụng: Người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn – Ngân hàng N2 xuất trình đầy đủ Hợp đồng cho vay số: 216/18/HĐCV-9346 ngày 23/10/2018 với số tiền thể hiện trong Hợp đồng cho vay ông L, bà N1 vay Ngân hàng N2 là: 898.170.000 đồng (Bằng chữ: T1 trăm chín mươi tám triệu, một trăm bảy mươi nghìn đồng). Ngân hàng N2 đã giải ngân cho ông Nguyễn Tiến L, bà Trần Minh N1 tổng số tiền là: 829.547.727 đồng. Về số tiền ông L, bà N1 đã được Ngân hàng NCB giải ngân theo Hợp đồng cho vay và Khế ước nhận nợ ông L, bà N1 đều thừa nhận.

[2.2]. Xét tính pháp lý của Hợp đồng cho vay, K ước nhận nợ và nghĩa vụ thanh toán nợ: Hợp đồng cho vay số: 216/18/HĐCV-9346 ngày 23/10/2018 được các bên tự nguyện thỏa thuận ký kết, có hình thức và nội dung phù hợp quy định của pháp luật nên có hiệu lực thi hành. Trong quá trình thực hiện hợp đồng, ông L, bà N1 đã vi phạm thỏa thuận trong Hợp đồng cho vay và Khế ước nhận nợ đã ký. Vì vậy, Ngân hàng N2 khởi kiện buộc bên vay là ông L, bà N1 phải thực hiện nghĩa vụ thanh toán nợ và yêu cầu ông L, bà N1 phải trả khoản tiền còn nợ là tiền lãi trong hạn, tiền lãi quá hạn, lãi chậm trả còn nợ là có căn cứ.

Ngân hàng N2 đã xuất trình đầy đủ bảng kê tính khoản tiền gốc và lãi còn nợ (lãi trong hạn, lãi quá hạn). Do vậy, cần buộc ông L, bà N1 phải có nghĩa vụ trả cho Ngân hàng N2 tổng số tiền còn nợ tạm tính đến hết ngày 12/09/2024 (ngày xét xử sơ thẩm) tổng số tiền là: 1.224.215.820 đồng. Trong đó: Nợ gốc: 731.664.545 đồng, lãi trong hạn: 347.939.920 đồng, lãi quá hạn: 72.258.806 đồng, phạt chậm trả lãi: 72.352.549 đồng. Trong đó:

  • Khế ước nhận nợ số: 001/KUNN/216/18/HĐCV-9346 ngày 23/10/2018 tổng số tiền là: 687.968.613 đồng. Trong đó: Nợ gốc: 403.560.818 đồng; lãi trong hạn: 200.369.336 đồng; lãi quá hạn: 41.355.953 đồng; lãi chậm trả: 42.682.506 đồng.
  • Khế ước nhận nợ số: 002/KUNN/216/18/HĐCV/9346 ngày 04/01/2019 tổng số tiền là: 536.247.208 đồng. Trong đó: Nợ gốc là: 328.103.727 đồng; lãi trong hạn: 147.570.585 đồng; lãi quá hạn: 30.902.853 đồng; lãi chậm trả: 29.670.043 đồng.

Kể từ ngày 13/09/2024, ông L và bà N1 phải tiếp tục chịu lãi phát sinh trên số dư nợ gốc theo mức lãi suất đã thỏa thuận tại Hợp đồng cho vay và Khế ước nhận nợ đã ký cho đến khi ông L và bà N1 thanh toán xong các khoản nợ cho Ngân hàng N2.

[2.3]. Về tài sản bảo đảm: Biện pháp bảo đảm tiền vay được quy định tại Điều 5 – Biện pháp bảo đảm tiền vay của Hợp đồng cho vay số: 216/18/HĐCV-9346 ngày 23/10/2018 và nội dung chi tiết được thực hiện theo Điều 2 của Hợp đồng thế chấp giữa bên thế chấp là ông Nguyễn Tiến L, bà Trần Minh N1 với bên nhận thế chấp là Ngân hàng N2. Đối tượng thế chấp là: Toàn bộ quyền tài sản của ông Nguyễn Tiến L và bà Trần Minh N1 phát sinh từ Hợp đồng mua bán Căn hộ số: 927/2018/HĐMB-FLC GrandHotel HaLong ngày 17/08/2018 và các Phụ lục kèm theo Hợp đồng mua bán căn hộ số: 927 tầng 9 của Khách sạn F, diện tích căn hộ là: 47.4m².

[2.4]. Xét tính pháp lý của Hợp đồng thế chấp quyền tài sản: Hợp đồng thế chấp quyền tài sản số công chứng: 216/18/HĐTC-9346 ngày 23/10/2018 tại Văn phòng C có nội dung và hình thức tuân thủ đúng quy định tại Bộ luật Dân sự năm 2015 và Luật Đất đai năm 2013; Nghị định số 163/2006/NĐ-CP ngày 29/12/2006 của Chính phủ về giao dịch bảo đảm và Nghị định số 11/2012/NĐ-CP ngày 22/02/2012 của Chính phủ về việc sửa đổi một số điều của Nghị định số 163/2006/NĐ-CP ngày 29/12/2006 về giao dịch bảo đảm. Theo đó, các thỏa thuận trong Hợp đồng thế chấp có hiệu lực pháp luật để thi hành.

Do vậy, Ngân hàng N2 được quyền yêu cầu Cơ quan Thi hành án Dân sự có thẩm quyền xử lý quyền tài sản bảo đảm trong trường hợp ông L, bà N1 không thực hiện hoặc thực hiện không đầy đủ nghĩa vụ tín dụng là có căn cứ nên được chấp nhận. Do đó, trong trường hợp ông L, bà N1 không thanh toán hoặc không thanh toán đầy đủ khoản nợ cho Ngân hàng NCB, Ngân hàng N2 có quyền đề nghị Cơ quan Thi hành án Dân sự có thẩm quyền kê biên, xử lý, phát mại tài sản thế chấp là: Toàn bộ quyền tài sản của ông Nguyễn Tiến L và bà Trần Minh N1 phát sinh từ Hợp đồng mua bán Căn hộ số: 927/2018/HĐMB-FLC GrandHotel HaLong ngày 17/08/2018 và các Phụ lục kèm theo Hợp đồng mua bán căn hộ số: 927 tầng 9 của Khách sạn F, diện tích căn hộ là: 47.4m².

Tại thời điểm xét xử sơ thẩm: Căn hộ số: 927 tại tầng 9 khách sạn F thuộc Quần thể trung tâm hội nghị, khu dịch vụ, du lịch nghỉ dưỡng và Biệt thự nghỉ dưỡng FLC H có địa chỉ tại: khu vực đồi cột 3 đến cột H thành phố H, tỉnh Quảng Ninh hiện đang do Công ty Cổ phần T2 quản lý.

Theo đó: ông Nguyễn Tiến L, bà Trần Minh N1 và Công ty Cổ phần T2 cùng những người đang sinh sống tại Căn hộ số: 927 tại tầng 9 khách sạn F (nếu có phát sinh thêm) có trách nhiệm bàn giao tài sản thế chấp để thi hành án.

Trường hợp số tiền thu được từ việc phát mại tài sản bảo đảm không đủ để thực hiện nghĩa vụ trả nợ, ông L, bà N1 vẫn phải có nghĩa vụ tiếp tục trả hết các khoản nợ cho Ngân hàng N2.

[3]. Về án phí.

  • + Ông Nguyễn Tiến L, bà Trần Minh N1 phải chịu 48.726.475 đồng án phí Dân sự sơ thẩm.
  • + Ngân hàng N2 được chấp nhận yêu cầu khởi kiện nên được hoàn trả số tiền 22.500.000 đồng dự phí đã nộp tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Chương Mỹ, Thành phố Hà Nội.

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ các Điều 26, 35, 39, 147, 227, 228, 244, 266, 271, 273 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015; các Điều 318, 320, 321, 322, 323, 324, 325, 463, 466, 468 của Bộ luật Dân sự năm 2015;

Căn cứ các Điều 90, 91, 95, 98 Luật các tổ chức tín dụng;

Nghị quyết số 05/2012/NQ-HĐTP ngày 03/12/2012 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao; Nghị định số 163/2006/NĐ-CP ngày 29/12/2006 về giao dịch bảo đảm; Nghị định số 11/2012/NĐ-CP ngày 22/02/2012 của Chính phủ về việc sửa đổi một số điều của Nghị định số 163/2006/NĐ-CP ngày 29/12/2006 về giao dịch bảo đảm; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016. Xử:

  1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng Thương mại Cổ phần Q (Ngân hàng N2) đối với ông Nguyễn Tiến L, bà Trần Minh N1 về yêu cầu trả nợ gốc, lãi trong hạn, lãi quá hạn, lãi phạt chậm trả và dành quyền yêu cầu Cơ quan Thi hành án phát mại quyền tài sản thế chấp để thu hồi nợ.
  2. Buộc ông Nguyễn Tiến L, bà Trần Minh N1 phải có nghĩa vụ trả cho Ngân hàng Thương mại Cổ phần Q (Ngân hàng N2) tổng số tiền tạm tính đến hết ngày 12/09/2024 là: 1.224.215.820 đồng (Bằng chữ: Một tỷ, hai trăm hai mươi bốn triệu, hai trăm mười lăm nghìn, tám trăm hai mươi đồng). Trong đó: Nợ gốc: 731.664.545 đồng, lãi trong hạn: 347.939.920 đồng, lãi quá hạn: 72.258.806 đồng, phạt chậm trả lãi: 72.352.549 đồng. Trong đó:
    • Khế ước nhận nợ số: 001/KUNN/216/18/HĐCV-9346 ngày 23/10/2018 tạm tính đến hết ngày 12/09/2024 tổng số tiền là: 687.968.613 đồng. Trong đó: Nợ gốc: 403.560.818 đồng; lãi trong hạn: 200.369.336 đồng; lãi quá hạn: 41.355.953 đồng; lãi chậm trả: 42.682.506 đồng.
    • Khế ước nhận nợ số: 002/KUNN/216/18/HĐCV/9346 ngày 04/01/2019 tạm tính đến hết ngày 12/09/2024 tổng số tiền là: 536.247.208 đồng. Trong đó: Nợ gốc là: 328.103.727 đồng; lãi trong hạn: 147.570.585 đồng; lãi quá hạn: 30.902.853 đồng; lãi chậm trả: 29.670.043 đồng.

    Kể từ ngày 13/09/2024, ông Nguyễn Tiến L, bà Trần Minh N1 phải tiếp tục chịu lãi phát sinh trên số dư nợ gốc theo mức lãi suất đã thỏa thuận trong Hợp đồng cho vay và Khế ước nhận nợ đã ký cho đến khi ông Nguyễn Tiến L, bà Trần Minh N1 thanh toán xong toàn bộ khoản nợ cho Ngân hàng Thương mại Cổ phần Q (Ngân hàng N2).

  3. Kể từ ngày Bản án có hiệu lực pháp luật, nếu ông Nguyễn Tiến L, bà Trần Minh N1 không thực hiện hoặc thực hiện không đầy đủ nghĩa vụ trả nợ cho Ngân hàng Thương mại Cổ phần Q (Ngân hàng N2), Ngân hàng Thương mại Cổ phần Q (Ngân hàng N2) có quyền đề nghị Cơ quan Thi hành án Dân sự có thẩm quyền kê biên, phát mại tài sản thế chấp là: Toàn bộ quyền tài sản của ông Nguyễn Tiến L và bà Trần Minh N1 phát sinh từ Hợp đồng mua bán Căn hộ số: 927/2018/HĐMB-FLC GRANDHOTEL HALONG ngày 17/08/2018 và các Phụ lục kèm theo Hợp đồng mua bán căn hộ số: 927 tầng 9 của Khách sạn F, diện tích 47.4m² theo Hợp đồng thế chấp quyền tài sản số: 216/18/HĐTC-9346 ngày 23/10/2018 (Căn hộ số: 927 tại tầng 9 của khách sạn F thuộc Quần thể trung tâm hội nghị, Khu dịch vụ, du lịch nghỉ dưỡng và Biệt thự nghỉ dưỡng F1 tại Khu vực đồi cột 3 đến cột H thành phố H, tỉnh Quảng Ninh).

    Theo đó: Ông Nguyễn Tiến L, bà Trần Minh N1 và Công ty Cổ phần T2 có trách nhiệm bàn giao tài sản thế chấp để thi hành án.

    Trường hợp số tiền thu được từ việc phát mại các tài sản bảo đảm không đủ để thực hiện nghĩa vụ trả nợ cho Ngân hàng Thương mại Cổ phần Q (Ngân hàng N2), ông Nguyễn Tiến L, bà Trần Minh N1 vẫn phải có nghĩa vụ tiếp tục trả hết các khoản nợ cho Ngân hàng Thương mại Cổ phần Q (Ngân hàng N2).

  4. Về án phí:
    • + Ông Nguyễn Tiến L, bà Trần Minh N1 phải chịu 48.726.475 đồng (Bằng chữ: Bốn mươi tám triệu, bảy trăm hai mươi sáu nghìn, bốn trăm bảy mươi năm đồng) án phí Dân sự sơ thẩm.
    • + Ngân hàng Thương mại Cổ phần Q (Ngân hàng N2) được hoàn trả số tiền 22.500.000 đồng (Bằng chữ: Hai mươi hai triệu, năm trăm nghìn đồng) dự phí đã nộp (theo Biên lai thu tiền tạm ứng án phí, lệ phí Ký hiệu: BLTU/23 số 0001701 ngày 29/12/2023) tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Chương Mỹ, Thành phố Hà Nội.
  5. Về quyền kháng cáo:
    • + Ngân hàng Thương mại Cổ phần Q (Ngân hàng N2) và ông Nguyễn Tiến L có mặt có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.
    • + Bị đơn là bà Trần Minh N1 và Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan là Công ty Cổ phần T2 vắng mặt có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc kể từ ngày bản án được niêm yết hợp lệ tại nơi cư trú.

Nơi nhận

  • - Các đương sự;
  • - TAND Tp.Hà Nội;
  • - VKSND H.Chương Mỹ;
  • - Chi cục THA H.Chương Mỹ;
  • - Lưu HSVA – VP;

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TOÀ

Nguyễn Hoàng Long

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 170/2024/DS-ST ngày 12/09/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CHƯƠNG MỸ - TP HÀ NỘI về tranh chấp hợp đồng tín dụng

  • Số bản án: 170/2024/DS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hợp đồng tín dụng
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 12/09/2024
  • Loại vụ/việc: Dân sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CHƯƠNG MỸ - TP HÀ NỘI
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: tuyên bố bị đơn phải có nghĩa vụ trả nợ
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger