TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BẮC GIANG | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: 170/2024/DS-PT
Ngày 05 tháng 8 năm 2024
V/v : Tranh chấp hợp đồng vay tài sản
NHÂN DANHNƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BẮC GIANG
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà: Ngọ Thị Thanh Hảo
Các Thẩm phán: Bà Phạm Thị Chuyền; bà Triệu Thị Luyện
- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Mai Hương - Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Bắc Giang.
- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân tỉnh Bắc Giang: Bà Nguyễn Thị Việt Anh - Kiểm sát viên tham gia phiên toà
Trong các ngày 31 tháng 7 và 05 tháng 8 năm 2024 tại trụ sở Toà án nhân dân tỉnh Bắc Giang xét xử phúc thẩm công khai vụ án thụ lý số 84/2024/TLPT-DS ngày 12 tháng 6 năm 2024, về “Tranh chấp hợp đồng vay tài sản”
Do bản án dân sự sơ thẩm số 04/2024/DS-ST ngày 05 tháng 04 năm 2024 của Toà án nhân dân huyện Sơn Động, tỉnh Bắc Giang bị kháng cáo.
Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số: 160/2024/QĐPT-DS ngày 08 tháng 7 năm 2024, giữa các đương sự:
- * Nguyên đơn: Ông Nguyễn Sỹ H, sinh năm 1976, địa chỉ: TDP số D, thị trấn A, huyện S, Bắc Giang, (có mặt).
- * Bị đơn: Ông Hà Văn T, sinh năm 1969 và bà Hoàng Thị T1, sinh năm 1973, địa chỉ: Thôn L, xã D, huyện S, Bắc Giang, (có mặt).
- * Người kháng cáo: Ông Hà Văn T và bà Hoàng Thị T1 - Bị đơn
NỘI DUNG VỤ ÁN
+ Theo đơn khởi kiện đề ngày 10/6/2023, quá trình tiến hành tố tụng tại tòa án nguyên đơn ông Nguyễn Sỹ H trình bày: Trong năm 2019 và năm 2020 ông có cho ông Hà Văn T, bà Hoàng Thị T1 vay tiền 02 lần, cụ thể như sau:
Lần 1: Ngày 21/06/2019 ông có cho ông Hà Văn T, bà Hoàng Thị T1 vay số tiền là 150.000.000đ, hai bên có viết giấy với nhau, lãi suất tự thỏa thuận 2,6%/tháng và thời hạn vay là 02 tháng ông T, bà T1 sẽ phải thanh toán trả xong cho ông cả tiền gốc và lãi.
Lần 2: Ngày 20/07/2020 ông cho ông Hà Văn T, bà Hoàng Thị T1 vay tiếp tiền và cộng tiền lãi của số tiền 150.000.000đ thành số tiền ký nhận nợ là 355.000.000đ, hai bên có viết giấy với nhau, lãi suất tự thỏa thuận 3%/tháng và thời hạn vay là 02 tháng ông T, bà T1 sẽ phải thanh toán trả xong cho ông cả tiền gốc và lãi.
Sau khi vay hết thời hạn 02 tháng ông đã yêu cầu ông T, bà T1 trả tiền nhiều lần nhưng ông T, bà T1 không trả và cứ khất nợ từ đó cho đến nay. Từ khi vay cho đến ngày 05/07/2021 ông T, bà T1 đã trả được mấy lần tiền lãi = 130.000.000đ, ngày 14/09/2021 tiếp tục trả cho ông được 10.000.000đ tiền lãi, ngày 14/04/2023 ông T gán nợ trả tiền lãi bằng 01 bộ bàn ghế bằng gốc cây giá trị là 63.000.000đ. Từ khi vay tiền cho đến nay ông T, bà T1 đã trả cho ông được tổng số tiền lãi là 203.000.000đ, gốc chưa trả.
Hiện nay ông T, bà T1 vẫn còn nợ ông số tiền gốc vay 505.000.000đ; Tiền lãi ông tính theo lãi suất của pháp luật quy định là 87.000.000đ. Do đó ông yêu cầu buộc ông T, bà T1 phải trả cho ông số tiền gốc còn nợ 505.000.000đ và tiền lãi là 87.000.000đ. Ngoài ra ông không có yêu cầu gì khác.
+ Tại biên bản lấy lời khai, quá trình tiến hành tố tụng tại toà, bị đơn ông Hà Văn T và bà Hoàng Thị T1 trình bày: Trong năm 2020, vợ chồng ông có vay tiền 03 lần của ông H để làm ăn, cụ thể như sau: Lần 1: Ngày 30/5/2020, vay số tiền 30.000.000đ, lãi suất 3.000đ/1 triệu/1 ngày, thời hạn vay tự thỏa thuận đến khi nào ông H đòi thì trả. Lần 2: Ngày 13/6/2020, vay số tiền 150.000.000đ, lãi suất 3.000đ/1 triệu/1 ngày, thời hạn vay tự thỏa thuận đến khi nào ông H đòi thì trả. Lần 3: Ngày 21/6/2020, vay số tiền 180.000.000đ, lãi suất 3.000đ/1 triệu/1 ngày, thời hạn vay tự thỏa thuận đến khi nào ông H đòi thì trả.
Tổng cộng 03 lần vay là: 360.000.000đ; Cả 03 lần vay có lập thành văn bản ký kết với nhau (vợ chồng ông có ký giấy với ông H), ngoài 03 lần vay trên ông bà không vay lần tiền nào khác của ông H. Quá trình vay ông có đưa cho ông H 03 giấy chứng nhận quyền sử dụng đất (sổ bìa đỏ để làm tin).
Sau khi vay đến hạn ông bà đã trả được tiền gốc vay, cụ thể như sau: Ngày tháng không nhớ, lần 1 trả được 8.000.000đ; lần 2 trả 5.000.000đ; lần 3 trả 15.000.000đ; lần 4 trả 5.000.000đ; lần 5 trả 50.000.000đ; lần 6 trả 130.000.000đ; lần 7 trả 10.000.000đ; lần 8 trả 63.000.000đ; ngoài ra còn 1 số lần trả tiền cho ông H ông bà không nhớ; tổng số tiền gốc đã trả được 333.000.000đ, các lần này đều có ký kết giấy trả nợ với nhau. Về tiền lãi ông bà chưa trả được đồng nào cho ông H.
Ông bà xác nhận giấy vay tiền ngày 21/6/2019 ông bà ký nhận vay số tiền 150.000.000₫ là đúng; Giấy vay tiền ngày 20/7/2020 đối với số tiền 355.000.000₫ không phải là vay mà do chuyển số tiền gốc vay 150.000.000đ + tiền nợ + lãi chưa trả = 355.000.000đ. Do đó, ông bà khẳng định ông bà chỉ nợ ông H số tiền là 355.000.000₫.
Sau khi vay đến tháng 02/2023 ông H nhiều lần đòi tiền ông bà đã trả được số tiền gốc vay là 203.000.000đ, nay còn nợ lại là 27.000.000đ. Nay ông bà nhất trí trả tiền gốc còn nợ 27.000.000đ và tiền lãi là 87.000.000đ; tổng cộng cả gốc, lãi là 114.000.000đ. Ngoài ra ông bà không có ý kiến, yêu cầu gì khác
Với nội dung trên, Bản án dân sự sơ thẩm số 04/2024/DS-ST ngày 05/4/2024 của Toà án nhân dân huyện Sơn Động đã quyết định:
Căn cứ vào khoản 3 Điều 26; 35; 144, 147, 271 và 273 Bộ luật Tố tụng dân sự. Điều 463, 466 và 470 Bộ luật Dân sự. Khoản 2 Điều 26 Nghị quyết 326/2016/NQ - UBTVQH 14 quy định về án phí, lệ phí Toà án.
- Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn ông Nguyễn Sỹ H đối với bị đơn ông Hà Văn T, bà Hoàng Thị T1.
- Buộc ông Hà Văn T, bà Hoàng Thị T1 phải trả cho ông Nguyễn Sỹ H số tiền gốc là: 302.000.000đ; tiền lãi tính đến ngày 05/4/2024 là 200.892.700đ. Tổng cộng tiền gốc + lãi là 502.892.700đ (năm trăm linh hai triệu, tám trăm chín mươi hai nghìn bảy trăm đồng).
Về lãi suất chậm thi hành án: Kể từ ngày tiếp theo của ngày xét xử sơ thẩm cho đến khi thi hành xong, bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất các bên thỏa thuận nhưng phải phù hợp với quy định của pháp luật; nếu không có sự thỏa thuận về mức lãi suất thì quyết định theo mức lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 468 của Bộ luật Dân sự năm 2015.
- Về án phí: Ông Hà Văn T, bà Hoàng Thị T1 phải chịu 24.028.900đ. tiền án phí DSST. Hoàn trả ông Nguyễn Sỹ H số tiền 13.840.000đ nộp tạm ứng án phí DSST, biên lai số 0000771 ngày 24/10/2023 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Sơn Động.
Ngoài ra bản án còn tuyên về quyền kháng cáo, quyền thi hành án đối với các đương sự.
Sau khi xét xử sơ thẩm:
Ngày 29/4/2024, ông Hà Văn T, bà Hoàng Thị T1 kháng cáo, đề nghị Tòa án phúc thẩm sửa bản án sơ thẩm số 04/2024/DS-ST ngày 05/4/2024 của Tòa án nhân dân huyện Sơn Động.
Tại phiên tòa phúc thẩm:
+ Ông Hà Văn T và bà Hoàng Thị T1 vẫn giữ nguyên yêu cầu kháng cáo và trình bày: Ông bà không đồng ý với số tiền gốc phải trả như bản án sơ thẩm đã tuyên. Ông bà thừa nhận năm 2019 ông có vay của ông H số tiền 360.000.000 đồng, cụ thể: Lần thứ nhất ngày 30/5/2020, vay 30.000.000 đồng; Lần thứ hai ngày 13/6/2020 vay 150.000.000 đồng; Lần thứ ba ngày 21/6/2020 vay 180.000.000 đồng. Số tiền này ông bà chưa trả được cho ông H tiền gốc cũng như tiền lãi. Do không trả được ngày 20/7/2020, giữa ông và ông H có viết giấy chốt nợ, ông còn nợ ông H số tiền 355.000.000 đồng. Lãi suất vay là 3%/tháng, thời hạn vay hai tháng, mục đích vay là ông kinh doanh. Số tiền vay không liên quan gì đến vợ và con ông H. Ngoài ba lần vay trên ông không còn vay ông H khoản vay nào khác. Nay ông H khởi kiện yêu cầu vợ chồng ông bà trả số tiền gốc là 505.000.000 đồng tiền gốc theo hai giấy vay ngày 21/6/2029 và 20/7/2020 ông bà không đồng ý. Yêu cầu xem xét lại số tiền gốc. Sau ông bà thừa nhận ba lần vay trên là năm 2019, không phải năm 2020 như ông bà trình bày. Sau khi chốt nợ ông bà đã trả cho ông H số tiền 286.000.000 đồng, cụ thể ngày 05/7/2021 trả 130.000.000 đồng; ngày ông không nhớ trả 10.000.000 đồng chuyển khoản; ngày ông không nhớ trả bằng bộ bàn nghế trị giá 63.000.000 đồng và năm lần trả khác ông không nhớ cụ thể năm nào tổng số tiền trả là 83.000.000 đồng. Ông T, bà T1 nhất trí mỗi bên chịu một nửa số tiền 83.000.000 đồng trừ vào tiền lãi của khoản vay 360.000.000 đồng ông bà đã trả cho ông H.
+ Ông Nguyễn Sỹ H không nhất trí với kháng cáo của ông T, bà T1 và trình bày: Ông và ông T, bà T1 là cùng quê L lên Sơn Động làm ăn, do có mối quan hệ quen biết, năm 2019, ông có cho ông T, bà T1 vay ba lần tổng số tiên 360.000.000 đồng như ông T bà T1 trình bày là đúng, các lần vay ngày 21/6/2019 là vay 150.000.000 đồng, còn ngày 13/6/2019 vay 180.000.000 đồng . Ngoài ba lần vay trên, ông không cho ông T, bà T1 vay khoản vay nào khác. Đối với giấy vay tiền viết ngày 20/7/2020, với số tiền 355.000.000 đồng, bao gồm tiền gốc của khoản vay 30.000.000 đồng và 180.000.000 đồng, tổng tiền gốc là 210.000.000 đồng và tiền lãi với lãi suất 3%/tháng của tổng số tiền vay 360.000.000 đồng từ ngày viết giấy vay đến ngày chốt nợ là 145.000.000 đồng. Lý do các bên không chốt nợ giấy vay 150.000.000 đồng vào giấy vay ngày 20/7/2020 vì ông T1 có hẹn với ông là ông T1 sẽ trả số tiền 150.000.000 đồng, do vậy hai bên không chốt khoản vay 150.000.000 đồng vào giấy vay ngày 20/7/2020. Sau khi chốt nợ ông T bà T1 đã trả ông được 203.000.000 đồng, cụ thể: ngày 05/7/2021 trả 130.000.000 đồng; ngày 14/9/2021 trả 10.000.000 đồng; ngày 14/4/2023 trả 63.000.000 đồng (trị giá bộ bàn nghế). Đối với số tiền 83.000.000 đồng ông T, bà T1 trình bày trả cho ông là sau khi chốt nợ ngày 20/7/2020 là không đúng, số tiền này trả trước khi chốt nợ. Nay ông yêu cầu ông T bà T1 phải trả cho ông số tiền gốc vay 360.000.000 đồng và tiền lãi kể từ khoản vay cuối cùng ngày 21/6/2019 theo lãi suất quy định của pháp luật đến ngày xét xử sơ thẩm. Ông H nhất trí với ý kiến của ông T, bà T1 về số tiền 83.000.000 đồng, ông không có ý kiến gì. Đối với số tiền gốc và tiền lãi ông T bà T1 đã trả và còn nợ ông thì ông đề nghị cấp phúc thẩm tính theo quy định của pháp luật, ông nhất trí với việc tính của cấp phúc thẩm, ông không có ý kiến gì.
Đại diện VKSND tỉnh Bắc Giang phát biểu:
- - Ý kiến về việc tuân theo pháp luật trong quá trình giải quyết vụ án: Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa tuân thủ theo đúng các quy định của pháp luật Tố tụng dân sự trong quá trình thụ lý, giải quyết và xét xử vụ án. Nguyên đơn, bị đơn đã chấp hành đúng các quy định của pháp luật Tố tụng dân sự.
- - Ý kiến về việc giải quyết vụ án: Đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ khoản 2 Điều 308 Bộ luật tố tụng dân sự, chấp nhận kháng cáo của ông Hà Văn T, bà Hoàng Thị T1, sửa bản án sơ thẩm. Buộc ông T, bà T1 phải trả cho ông H số tiền gốc và lãi là 370.710.900 đồng, trong đó: Tiền gốc là 157.000.000 đồng; tiền lãi là 213.710.772 đồng. Về án phí dân sự sơ thẩm: Ông T, bà T1 phải chịu án phí là 18.535.545 đồng.
- Về án phí dân sự phúc thẩm: ông Hà Văn T, bà Hoàng Thị T1 không phải chịu án phí dân sự phúc thẩm.
- - Yêu cầu, kiến nghị khắc phục vi phạm: Không
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên toà và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận định:
[1]. Xét kháng cáo của ông Hà Văn T, bà Hoàng Thị T1: Ông Hà Văn T, bà Hoàng Thị T1 kháng cáo, đề nghị Tòa án phúc thẩm sửa bản án sơ thẩm số 04/2024/DS-ST ngày 05/4/2024 của Tòa án nhân dân huyện Sơn Động. Lý do kháng cáo ông T, bà T1 không đồng ý với số tiền gốc vay là 505.000.000 đồng với hai giấy vay ngày 21/6/2019 và ngày 20/07/2020; Việc tính lãi suất của cấp sơ thẩm là chưa chính xác; Số tiền 83.000.000 đồng chưa được trừ vào số tiền gốc ông bà đã trả.
[1.1]. Đối với kháng cáo của ông T, bà T1 về số tiền vay gốc 505.000.000 đồng theo hai giấy vay ngày 21/6/2019 và ngày 20/07/2020, thì thấy: Tại phiên toà phúc thẩm, các bên đều thừa nhận có cho vay và có vay tổng số tiền 360.000.000 đồng theo ba giấy vay tiền cụ thể: ngày 30/5/2019, vay 30.000.000 đồng; ngày 13/6/2019 vay 180.000.000 đồng; ngày 21/6/2019 vay 150.000.000 đồng, trình bày của các đương sự phù hợp với các giấy vay tiền ông H giao nộp cho cấp phúc thẩm.
Hợp đồng vay tiền mặt viết ngày 20/7/2020 với số tiền 355.000.000 đồng, tại cấp phúc thẩm ông H thừa nhận, trong đó có 210.000.000 đồng là tiền gốc của khoản vay 30.000.000 ngày 30/5/2019 đồng và 180.000.000 đồng ngày 13/6/2019, số tiền còn lại 145.000.000 đồng là tiền lãi của tổng số tiền vay 360.000.000 đồng từ khi viết giấy vay đến ngày chốt nợ với lãi suất 3%/tháng, còn giấy vay tiền 150.000.000 đồng do ông T có nói với ông H là mấy hôm thì trả do vậy hai bên không chốt giấy vay với số tiền 150.000.000 đồng vào giấy chốt nợ ngày 20/7/2020. Sau khi chốt nợ ông T bà T1 trình bày đã trả cho ông H số tiền 286.000.000 đồng tiền gốc, còn nợ tiền gốc là 74.000.000 đồng. Còn ông H thừa nhận, ông T, bà T1 đã trả 203.000.000 đồng, cụ thể: ngày 05/7/2021 trả 130.000.000 đồng; ngày 14/9/2021 trả 10.000.000 đồng và ngày 14/4/2023 trả 63.000.000 đồng, ông H không đồng ý trừ số tiền đã nhận trên vào tiền gốc, ông H đồng ý trừ số tiền đã trả vào tiền lãi. Tại cấp phúc thẩm ông H không có tài liệu chứng cứ và không chứng minh được số tiền đã trả tính lãi của khoản vay nào, lãi suất tính cụ thể như thế nào, mặt khác, khi ông T, bà T1 trả cho ông H số tiền trên, ông H có ký nhận, các bên không ghi rõ là tiền lãi hay tiền gốc. Do vậy, cấp sơ thẩm xác định số tiền ông T, bà T1 đã trả 203.000.000 đồng trừ vào tiền gốc là phù hợp.
Đối với số tiền 83.000.000 đồng, tại phiên toà phúc thẩm ông T, bà T1 và ông H nhất trí mỗi bên chịu một nửa số tiền 83.000.000 đồng và cùng nhất trí trừ vào tiền lãi của số tiền vay 360.000.000 đồng.
Cấp sơ thẩm xác định số tiền 355.000.000 đồng viết ngày 20/7/2020 là tiền gốc và xác định ông T, bà T1 nợ ông H tổng số tiền gốc là 505.000.000 đồng theo giấy vay tiền mặt ngày 21/6/2019 và hợp đồng vay tiền mặt ngày 20/7/2020 là không chính xác, ảnh hưởng đến quyền lợi của các đương sự. Do vậy, Hội đồng xét xử chấp nhận kháng cáo của ông T, bà T1 là có căn cứ và sửa bản án sơ thẩm. Xác định số tiền gốc ông T, bà T1 vay của ông H là 360.000.000 đồng, số tiền ông T, bà T1 đã trả 203.000.000 đồng. Số tiền gốc ông T bà T1 còn phải trả cho ông H là 157.000.000 đồng.
[1.2]. Đối với kháng cáo của ông T, bà T1 về cách tính tiền lãi của cấp sơ thẩm chưa chính xác thì thấy: Theo giấy vay tiền ngày 21/6/2019, hai bên có thoả thuận lãi suất là 2,6%/tháng = 31,2%/năm; giấy vay tiền ngày 20/7/2020, hai bên có thoả thuận lãi suất là 3%/tháng = 36%/năm. Các bên thoả thuận lãi suất đều vượt quá lãi suất giới hạn theo quy định tại khoản 1 Điều 468 Bộ luật dân sự.
Tại khoản 1 Điều 468 Bộ luật dân sự quy định lãi suất vay do các bên thoả thuận như sau: “1. Lãi suất vay do các bên thỏa thuận. Trường hợp các bên có thỏa thuận về lãi suất thì lãi suất theo thỏa thuận không được vượt quá 20%/năm của khoản tiền vay, trừ trường hợp luật khác có liên quan quy định khác. Căn cứ tình hình thực tế và theo đề xuất của Chính phủ, Ủy ban thường vụ Quốc hội quyết định điều chỉnh mức lãi suất nói trên và báo cáo Quốc hội tại kỳ họp gần nhất. Trường hợp lãi suất theo thỏa thuận vượt quá lãi suất giới hạn được quy định tại khoản này thì mức lãi suất vượt quá không có hiệu lực.”
Giao dịch các bên thực hiện tại thời điểm Bộ luật dân sự năm 2015 đang có hiệu lực pháp luật, nhưng cấp sơ thẩm áp dụng quy định về lãi suất theo Quyết định số 2868 ngày 29/11/2010 của Thống đốc Ngân hàng N là 9%/tháng và áp dụng lãi suất thoả thuận của các bên là không phù hợp với quy định tại khoản 2, điểm a khoản 3 Điều 2 Nghị quyết 01/2019/NQ-HĐTP ngày 11/01/2019 hướng dẫn áp dụng một số quy định của pháp luật về lãi, lãi suất, phạt vi phạm.
Tại khoản 2 Điều 2 Nghị quyết quy định: “2. Hợp đồng vay tài sản không phải là hợp đồng tín dụng được xác lập kể từ ngày 01-01-2017 thì áp dụng quy định về lãi, lãi suất của Bộ luật Dân sự năm 2015 và văn bản quy phạm pháp luật quy định chi tiết, hướng dẫn áp dụng Bộ luật Dân sự năm 2015 để giải quyết.”
Tại điểm a khoản 3 Điều 2 Nghị quyết quy định: “3. Hợp đồng vay tài sản không phải là hợp đồng tín dụng có lãi, lãi suất phù hợp với quy định của Bộ luật Dân sự năm 2015 hướng dẫn tại khoản 1 Điều này khi thuộc một trong các trường hợp sau đây: a) Mức lãi suất thỏa thuận không vượt quá mức lãi suất giới hạn quy định tại Điều 468 của Bộ luật Dân sự năm 2015.”
Từ những căn cứ trên kháng cáo của ông T, bà T1 là có căn cứ, do vậy cần phải sửa số tiền lãi. Tại phiên toà ông H yêu cầu tính lãi của số tiền vay 360.000.000 đồng kể từ khoản vay cuối cùng ngày 21/6/2019, theo lãi suất quy định của pháp luật. Lãi suất áp dụng là 20%/năm; 1.66%/tháng và 0,055%/ngày. Số tiền lãi được tính như sau:
- - Từ ngày 21/6/2019 đến ngày 05/7/2021 là 02 năm 14 ngày, tiền lãi được tính là: (360.000.000 đồng x 20% x 2 năm) + (360.000.000 đồng x 0,055% x 14 ngày) = (144.000.000 đồng + 2.772.000 đồng) = 146.772.000 đồng.
- - Ngày 05/7/2021 ông T, bà T1 trả ông H 130.000.000 đồng, từ ngày 06/7/2021 đến ngày 14/9/2021 là 2 tháng 08 ngày, số tiền gốc còn nợ là 230.000.000 đồng, tiền lãi được tính là: (230.000.000 đồng x 1,66% x 2 tháng) + (230.000.000 đồng x 0,055% x 8 ngày) = (7.636.000 đồng + 1.012.000 đồng) = 8.648.000 đồng.
- - Ngày 14/9/2021 ông T, bà T1 trả ông cho H 10.000.000 đồng, từ ngày 15/9/2021 đến ngày 14/4/2023 là 01 năm 06 tháng 27 ngày, số tiền gốc còn nợ là 220.000.000 đồng, tiền lãi được tính là: (220.000.000 đồng x 20% x 01 năm) +(220.000.000 đồng x 1,66% x 6 tháng) + (220.000.000 đồng x 0,055% x 27 ngày) = (44.000.000 đồng + 21.912.000 đồng + 3.267.000 đồng) = 69.179.000 đồng.
- - Ngày 14/4/2023 ông T, bà T1 trả ông cho H 63.000.000 đồng, từ ngày 15/4/2023 đến ngày xét xử sơ thẩm 05/4/2024 là 11 tháng 21 ngày, số tiền gốc còn nợ là 157.000.000 đồng, tiền lãi được tính là: (157.000.000 đồng x 1,66% x 11 tháng) + (157.000.000 đồng x 0,055% x 21 ngày) = (28.668.200 đồng + 1.813.350 đồng) = 30.481.550 đồng.
Tổng tiền lãi là: 146.772.000 đồng + 8.648.000 đồng + 69.179.000 đồng + 30.481.550 đồng = 255.080.550 đồng
Đối với số tiền 83.000.000 đồng, tại phiên toà phúc thẩm ông T, bà T1 và ông H nhất trí mỗi bên chịu một nửa số tiền trên và cùng nhất trí trừ vào số tiền lãi của khoản vay 360.000.000 đồng, do vậy, Hội đồng xét xử chấp nhận thoả thuận của các bên và trừ số tiền 41.500.000 đồng trong tổng số 83.000.000 đồng ông H đã nhận vào số tiền lãi ông T, bà T1 phải trả.
Số tiền lãi ông T, bà T1 phải trả cho ông H là: 255.080.550 đồng - 41.500.000 đồng = 213.580.550 đồng.
Tổng số tiền gốc và tiền lãi ông T bà T1 phải trả cho ông H là: 157.000.000 đồng + 213.580.550 đồng = 370.580.550 đồng.
[2]. Từ những phân tích trên, Hội đồng xét xử chấp nhận kháng cáo của ông T, bà T1 là có căn cứ, cần sửa bản án sơ thẩm như đề nghị của đại diện Viện kiểm sát tỉnh Bắc Giang.
[3]. Hội đồng xét xử phúc thẩm không xem xét, giải quyết các quyết định khác của bản án sơ thẩm mà không có kháng cáo, kháng nghị.
[4]. Về án phí sơ thẩm: Do cấp sơ thẩm tính không đúng số tiền gốc và tiền lãi, vì vậy án phí sơ thẩm cấp sơ thẩm tính chưa đúng, do vậy cần phải sửa án phí sơ thẩm. Số tiền ông T, bà T1 phải trả cho ông H là 370.140.200 đồng x 5% = 18.507.010 đồng. Do vậy, ông T, bà T1 phải chịu án phí sơ thẩm là phù hợp với quy định tại khoản 2 Điều 26 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.
[5]. Về án phí phúc thẩm: Do bản án sơ thẩm bị sửa, vì vậy ông T, bà T1 không phải chịu án phí dân sự phúc thẩm là phù hợp với quy định tại khoản 2 Điều 29 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ khoản 2 Điều 308 của Bộ luật Tố tụng dân sự, chấp nhận kháng cáo của ông Hà Văn T và bà Hoàng Thị T1. Sửa bản án sơ thẩm.
Căn cứ khoản 3 Điều 26, Điều 35, 144, 147 của Bộ luật Tố tụng dân sự. Điều 357, 463, Điều 466, 468 của Bộ luật dân sự; khoản 2 Điều 26 của Nghị quyết số 326/2016/NQ- UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án. Xử:
- Buộc ông Hà Văn T và bà Hoàng Thị T1 phải có trách nhiệm trả ông Nguyễn Sỹ H tổng số tiền 370.580.550 đồng (Ba trăm bảy mươi triệu năm trăm tám mươi nghìn năm trăm năm mươi đồng), trong đó: số tiền gốc còn nợ là 157.000.000 đồng (Một trăm năm mươi bảy triệu đồng) tiền lãi là 213.580.550 đồng (Hai trăm mười ba triệu năm trăm tám mươi nghìn năm trăm năm mươi đồng).
- Nghĩa vụ chậm thi hành án: Kể từ ngày bản án có hiệu lực pháp luật (đối với các trường hợp cơ quan thi hành án có quyền chủ động ra quyết định thi hành án) hoặc kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án (đối với các khoản tiền phải trả cho người được thi hành án) cho đến khi thi hành án xong, tất cả các khoản tiền, hàng tháng bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 468 Bộ luật Dân sự.
- Án phí dân sự sơ thẩm:
- - Ông Nguyễn Sỹ H không phải chịu tiền án phí dân sự sơ thẩm. Hoàn trả ông Nguyễn Sỹ H số tiền 13.840.000 đồng tiền tạm ứng án phí đã nộp theo biên lai số 0000771 ngày 24/10/2023 tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Sơn Động, tỉnh Bắc Giang.
- - Ông Hà Văn T và bà Hoàng Thị T1 phải liên đới chịu 18.529.027 đồng tiền án phí dân sự sơ thẩm.
- Án phí dân sự phúc thẩm: Ông Hà Văn T và bà Hoàng Thị T1 không phải chịu án phí dân sự phúc thẩm. Trả lại ông T, bà T1 số tiền 600.000 đồng tạm ứng án phí phúc thẩm, ông T, bà T1 đã nộp theo biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Toà án số 0008584 ngày 31/5/2024 và số 0008589 ngày 13/6/2024 tại Chi Cục Thi hành án dân sự huyện Sơn Động, tỉnh Bắc Giang.
- Hướng dẫn thi hành án: Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2- Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6; 7, 7a, 7b và 9 - Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 - Luật thi hành án dân sự.
Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.
Nơi nhận:
| TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TOẠ PHIÊN TOÀ Ngọ Thị Thanh Hảo |
10
Bản án số 170/2024/DS-PT ngày 05/08/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BẮC GIANG về tranh chấp hợp đồng vay tài sản
- Số bản án: 170/2024/DS-PT
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hợp đồng vay tài sản
- Cấp xét xử: Phúc thẩm
- Ngày ban hành: 05/08/2024
- Loại vụ/việc: Dân sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BẮC GIANG
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Ông H khởi kiện đòi tiền vay đối với ông Th và bà Th
