Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

THÀNH PHỐ PLEIKU

TỈNH GIA LAI

 

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 170/2023/HSST

Ngày: 01/11/2023.

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ PLEIKU, TỈNH GIA LAI

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

- Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Đoàn Thị Thanh Hà

Các Hội thẩm nhân dân:

  1. 1. Ông Quách Đình Hoằng
  2. 2. Bà Tô Thị Lành.

Thư ký phiên tòa: Bà Đặng Thị Lệ Quyên - Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Pleiku, tỉnh Gia Lai.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Pleiku, tỉnh Gia Lai tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Văn Vinh - Kiểm sát viên.

Trong ngày 01 tháng 11 năm 2023 tại Tòa án nhân dân thành phố Pleiku, tỉnh Gia Lai xét xử sơ thẩm vụ án hình sự thụ lý số: 141/2023/TLST-HS ngày 27 tháng 9 năm 2023, đối với bị cáo:

Hồ Lê B, sinh ngày: 12/10/1997 tại Bình Định.

Nơi ĐKHKTT: Thôn K, xã Â, huyện H, tỉnh Bình Định.

Chổ ở: Phòng trọ 02, nhà trọ số G đường Đ, tổ E, phường I, thành phố P, tỉnh Gia Lai.

Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Trình độ học vấn: 9/12; Nghề nghiệp: buôn bán; Cha: Hồ Đình L, sinh năm 1972, hiện trú tại: thôn D, xã I, huyện I, tỉnh Gia Lai; Mẹ: Lê Hồng L1, sinh năm 1976, hiện trú tại: Thôn K, xã Â, huyện H, tỉnh Bình Định. Bị cáo có 01 em ruột, sinh năm 2001. Vợ: Đặng Ngọc Huyền T, sinh năm 2000; bị cáo có 01 người con sinh năm 2019, hiện vợ con của bị cáo cư trú tại xã T, thành phố P, tỉnh Gai Lai.

Tiền án, tiền sư: không.

Bị cáo bị tạm giữ từ ngày 03/6/2023 đến ngày 12/6/2023, sau đó bị áp dụng biện pháp tạm giam cho đến nay tại Nhà tạm giữ Công an thành phố P. Có mặt tại phiên tòa.

  • * Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
  • - Chị Lê Thị H, sinh năm: 1983
  • Địa chỉ: Tổ E, phường I, thành phố P, tỉnh Gia Lai. Vắng mặt.
  • *Người chứng kiến: Ông Nguyễn Khắc N; sinh năm 1962.
  • Địa chỉ: Tổ E, phường I, thành phố P, tỉnh Gia Lai. Vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Hồ Lê B sử dụng ma túy (loại Ketamine) từ khoảng thời gian tháng 5 năm 2023. Thông qua các mối quan hệ xã hội, B có biết người thanh niên tên Q (không rõ nhân thân, lai lịch) có bán ma túy và có số điện thoại của Q. Vào khoảng 20 giờ ngày 01/6/2023, B gọi điện thoại cho Q hỏi mua ma túy (loại Ketamine), Q đồng ý và hẹn gặp B tại đường L, phường I, thành phố P, tỉnh Gia Lai. Khoảng 20 giờ 15 phút cùng ngày, B đi bộ từ phòng trọ số 02 nhà trọ số G đường Đ, Tổ E, phường I, thành phố P, tỉnh Gia Lai, đến địa điểm đã hẹn và đã mua của Q 01 gói nilon chứa ma túy loại Ketamine (được để trong 01 vỏ bao gói thuốc lá hiệu W) với giá 1.500.000 đồng. Sau khi mua được ma túy, B đi bộ về phòng trọ cất giấu để sử dụng dần. Đến 21 giờ cùng ngày, tại phòng trọ, B đã lấy một ít ma túy mua được của Q ra sử dụng; số ma túy còn lại trong gói nilon, B bỏ lại vào vỏ bao gói thuốc lá hiệu White Horse, rồi cất giấu trên bờ tường phía trước phòng trọ số 02 với mục đích để sử dụng sau. Đến 00 giờ 30 phút ngày 03/6/2023, khi B đang ở phòng trọ số 02 nhà trọ số G đường Đ, Tổ E, phường I, thành phố P, thì bị lực lượng Cảnh sát điều tra tội phạm về ma túy - Công an thành phố P phối hợp với lực lượng Công an phường I bắt quả tang cùng vật chứng, gồm: 01 vỏ bao gói thuốc lá hiệu White Horse, bên trong có 01 gói nilon chứa chất màu trắng dạng tinh thể, đã được niêm phong ghi số “I” (do B tự lấy tại bờ tường trước phòng trọ số 02 và giao nộp); thu giữ trong phòng trọ 01 ống hút nhựa màu trắng bám dính chất bột màu trắng, đã được niêm phong ghi số “II”; 01 chiếc điện thoại di động hiệu Nokia màu xanh, kèm thẻ sim (mặt sim có dãy số 8984-04800-09012-46377).

Tại Bản Kết luận giám định số 509/KLGĐ ngày 10/6/2023 của phòng K - Công an tỉnh G, kết luận: “Chất màu trắng dạng tinh thể trong gói nilon (trong vỏ bao gói thuốc lá “White Horse” trong bì công văn ghi “I”, gửi giám định là ma túy, loại Ketamine, khối lượng 1,4046 gam; Chất màu trắng dạng bột, bám dính trong đoạn ống nhựa (dạng ống hút) màu trắng, trong bì công văn ghi “II”, gửi giám định là ma túy, loại Ketamine, do lượng mẫu ít không cân được khối lượng chất bám dính".

* Vật chứng của vụ án, gồm:

  • + Chất ma túy còn lại sau giám định cùng 01 vỏ bao gói thuốc lá hiệu White Horse và đoạn ống nhựa (dạng ống hút) màu trắng (là dụng cụ để bị cáo sử dụng ma túy) đều được để trong 02 bì công văn dán kín đều ghi số 509/PC09, ngày 10 tháng 6 năm 2023 có dấu niêm phong của phòng K - Công an tỉnh G.
  • + Chiếc điện thoại di động hiệu Nokia màu xanh, kèm thẻ sim đã qua sử dụng, là của bị cáo B và bị cáo đã sử dụng chiếc điện thoại này liên lạc với đối tượng Q để mua ma túy.

Đối với đối tượng tên Q mà bị cáo Hồ Lê B khai là người đã bán ma túy cho B: Do bị cáo B không biết được nhân thân, lai lịch của Q; Cơ quan điều tra đã mở danh bạ, nhật ký cuộc gọi, tin nhắn trong chiếc điện thoại đã thu giữ của bị cáo B, nhưng không xác định được số điện thoại của Q và không xác định được nội dung có liên quan đến việc mua bán chất ma túy. Do đó, chưa có cơ sở để điều tra, xử lý; Cơ quan điều tra sẽ tiếp tục xác minh làm rõ và xử lý sau.

Đối với chị Lê Thị H là người cho bị cáo thuê trọ, việc bị cáo tàng trữ ma tuý để sử dụng thì chị H không biết nên cơ quan cảnh sát điều tra không xử lý là có căn cứ.

Tại Bản cáo trạng số: 161/CT - VKS ngày 27/9/2023 của Viện Kiểm sát nhân dân thành phố Pleiku, tỉnh Gia Lai đã truy tố bị cáo Hồ Lê B về tội: “Tàng trữ trái phép chất ma tuý” quy định tại điểm g khoản 1 Điều 249 của Bộ luật Hình sự 2015 đã được sửa đổi, bổ sung năm 2017.

Tại phiên toà, đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Pleiku, tỉnh Gia Lai giữ nguyên quyết định truy tố, đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố bị cáo Hồ Lê B phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý”; đề nghị áp dụng điểm g khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 50; Điều 38 Bộ luật Hình sự năm 2015; xử phạt bị cáo mức án từ 01 năm 03 tháng đến 01 năm 06 tháng tù.

Về vật chứng của vụ án:

  • - Đối với 01 điện thoại di động hiệu Nokia màu xanh, kèm thẻ sim đã qua sử dụng mà bị cáo B dùng để liên lạc mua ma túy. Đây là phương tiện phạm tội nên tịch thu sung công quỹ Nhà nước.
  • - Đối với 02 bì công văn cùng ghi số 509/PC09 ngày 10/6/2023 có dấu niêm phong của Phòng K - Công an tỉnh G (có các chữ ký, họ và tên của Nguyễn Đại H1, Bùi Sỹ T1, Nguyễn Đức T2) là ma tuý và dụng cụ mà bị cáo dùng để sử dụng ma tuý nên tịch thu tiêu huỷ.

Về hình phạt bổ sung: Do bị cáo không có tài sản gì nên không áp dụng hình phạt bổ sung.

Về án phí: bị cáo phải nộp 200.000đồng án phí hình sự sơ thẩm theo quy định pháp luật.

Tại phiên tòa, bị cáo thừa nhận có hành vi “Tàng trữ trái phép chất ma tuý” như cáo trạng đã nêu, nhận thấy hành vi đó của mình là sai trái, vi phạm pháp luật; bị cáo xin Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt đối với mình.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan điều tra Công an thành phố P, tỉnh Gia Lai; Điều tra viên; Viện kiểm sát nhân dân thành phố Pleiku, tỉnh Gia Lai trong quá trình điều tra, truy tố đã được thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo và những người tham gia tố tụng khác không có người nào có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó các hành vi quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

[2] Lời khai của bị cáo và người chứng kiến trong quá trình điều tra và tại phiên tòa hôm nay phù hợp với các tài liệu, chứng cứ có tại hồ sơ vụ án. Như vậy, có đủ cơ sở kết luận bị cáo phạm tội như sau:

Hồ Lê B sử dụng ma túy (loại Ketamine) từ khoảng thời gian tháng 5 năm 2023. Vào khoảng 20 giờ 15 phút ngày 01/6/2023, tại đường L, phường I, thành phố P, B đã mua của một người thanh niên tên Q (không rõ nhân thân, lai lịch) 01 gói ma túy (loại Ketamine) với giá 1.500.000 đồng rồi mang về phòng trọ số 02 nhà trọ số G đường Đ, Tổ E, phường I, thành phố P cất giấu. Đến 21 giờ cùng ngày, tại phòng trọ, B đã sử dụng một phần ma tuý; phần ma túy còn lại B cất giấu trên bờ tường phía trước phòng trọ số 02, với mục đích để sử dụng sau. Vào lúc 00 giờ 30 phút ngày 03/6/2023, khi B đang ở phòng trọ thì bị lực lượng Cảnh sát điều tra tội phạm về ma túy - Công an thành phố P bắt quả tang cùng toàn bộ vật chứng. Qua giám định, xác định: Chất màu trắng dạng tinh thể mà bị cáo Hồ Lê Bảo tàng t để sử dụng là Ketamine, có khối lượng là 1,4046 gam.

[3] Hành vi tàng trữ 1,4046gam ma túy loại Ketamine với mục đích để sử dụng, do bị cáo Hồ Lê B thực hiện như trên là nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm chính sách độc quyền quản lý của Nhà nước về chất ma túy, xâm phạm trật tự trị an xã hội, đã phạm vào tội: “Tàng trữ trái phép chất ma túy” được quy định tại điểm g khoản 1 Điều 249 của Bộ luật Hình sự 2015, đã được sửa đổi bổ sung năm 2017, đúng như cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Pleiku đã truy tố.

Bị cáo là người có đủ năng lực để nhận thức được tác hại của ma túy đối với sức khoẻ con người và sự phát triển lành mạnh của nòi giống, việc sử dụng ma tuý là nguyên nhân gián tiếp làm phát sinh các loại tội phạm và các tệ nạn xã hội khác nhưng chỉ vì ham muốn nhất thời của bản thân cùng với lối sống không lành mạnh mà bị cáo đã phạm tội. Do vậy, cần thiết phải xử phạt bị cáo một mức án thật nghiêm khắc, tương xứng với tính chất mức độ hành vi phạm tội của bị cáo nhằm răn đe, giáo dục riêng đối với bị cáo và phòng ngừa chung cho xã hội.

[4] Về tình tiết giảm nhẹ: bị cáo đã thành khẩn khai báo hành vi phạm tội của mình nên Hội đồng xét xử sẽ áp dụng khi quyết định hình phạt đối với bị cáo.

[5] Về tình tiết tăng nặng: không có.

[6] Về vật chứng vụ án:

  • - Đối với 01 điện thoại di động hiệu Nokia màu xanh (kèm thẻ sim, điện thoại cũ đã qua sử dụng) mà bị cáo B dùng để liên lạc mua ma túy. Đây là phương tiện phạm tội nên tịch thu sung công quỹ Nhà nước.
  • - Đối với 02 bì công văn dán kín cùng ghi số 509/PC09 ngày 10/6/2023 có đóng dấu niêm phong của Phòng K - Công an tỉnh G (có các chữ ký, họ và tên của Nguyễn Đại H1, Bùi Sỹ T1, Nguyễn Đức T2) là ma tuý và dụng cụ mà bị cáo dùng để sử dụng ma tuý nên tịch thu tiêu huỷ.

[7] Về hình phạt bổ sung: không áp dụng hình phạt bổ sung do bị cáo không có tài sản gì.

[8] Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định pháp luật.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

Về tội danh và hình phạt

Căn cứ điểm g khoản 1 Điều 249, điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 50; Điều 38 Bộ luật Hình sự 2015, đã được sửa đổi, bổ sung năm 2017; tuyên bố bị cáo Hồ Lê B phạm tội: “Tàng trữ trái phép chất ma tuý”;

Xử phạt bị cáo Hồ Lê B 01 năm 03 tháng tù; thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 03/6/2023.

Về xử lý vật chứng vụ án:

Căn cứ Điều 46, Điều 47 Bộ luật hình sự; điểm a khoản 2 Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015.

  • - Tịch thu sung công quỹ Nhà nước 01 điện thoại di động hiệu Nokia màu xanh, kèm thẻ sim (điện thoại cũ đã qua sử dụng) của bị cáo Hồ Lê Bảo.
  • - Tịch thu tiêu huỷ 02 bì công văn dán kín cùng ghi số 509/PC09 ngày 10/6/2023 có đóng dấu niêm phong của Phòng K - Công an tỉnh G (có các chữ ký, họ và tên của Nguyễn Đại H1, Bùi Sỹ T1, Nguyễn Đức T2) là ma tuý và dụng cụ mà bị cáo dùng để sử dụng ma tuý nên tịch thu tiêu huỷ.
  • ( Tình trạng vật chứng theo biên bản giao nhận vật chứng ngày 06/10/2023 giữa Công an thành phố P và Chi cục thi hành án dân sự thành phố Pleiku).

Về án phí:

Căn cứ khoản 2 Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015; khoản 1 Điều 6, điểm a khoản 1 Điều 23 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Toà án, bị cáo phải nộp 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.

Về quyền kháng cáo:

Căn cứ các Điều 331, 333 của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015, bị cáo có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án để yêu cầu Tòa án nhân dân tỉnh Gia Lai xét xử phúc thẩm. Riêng người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt tại phiên toà có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hợp lệ hoặc bản án được niêm yết công khai.

Về quyền yêu cầu thi hành án, nghĩa vụ thi hành án, thời hiệu yêu cầu thi hành án:

Căn cứ Điều 26 của Luật Thi hành án dân sự: Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 của Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại Điều 6, Điều 7, Điều 7a, Điều 7b và Điều 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

Nơi nhận:

  • - TAND tỉnh Gia Lai;
  • - VKSND TP. Pleiku;
  • - Công an TP. Pleiku;
  • - Chi cục THADS TP. Pleiku;
  • - Bị cáo;
  • - Những người tham gia tố tụng;
  • - Lưu hồ sơ vụ án

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa

Đoàn Thị Thanh Hà

6

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 170/2023/HSST ngày 01/11/2023 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ PLEIKU, TỈNH GIA LAI về tàng trữ trái phép chất ma tuý (vụ án hình sự)

  • Số bản án: 170/2023/HSST
  • Quan hệ pháp luật: Tàng trữ trái phép chất ma tuý (Vụ án hình sự)
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 01/11/2023
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ PLEIKU, TỈNH GIA LAI
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Hồ Lê Bảo phạm tội: " Tàng trữ trái phép chất ma túy"
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger