|
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BẠC LIÊU TỈNH BẠC LIÊU |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
|
Bản án số: 170/2024/DS-ST Ngày 30-9-2024 V/v Tranh chấp vay tài sản |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHÓ BẠC LIÊU, TỈNH BẠC LIÊU
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Bà Phạm Thị Chi.
Các Hội thẩm nhân dân:
1. Bà Khưu Liên Dung
2. Bà Lâm Thị Nguyệt Hồ
- Thư ký phiên tòa: Ông Trương Minh Hùng – Thư ký Tòa án nhân dân thành
phố Bạc Liêu, tỉnh Bạc Liêu.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Bạc Liêu, tỉnh Bạc Liêu tham
gia phiên tòa: Bà Trần Minh Muội – Kiểm sát viên.
Ngày 30 tháng 9 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Bạc Liêu xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số: 181/2024/TLST-DS ngày 02 tháng 5 năm 2024 về “tranh chấp hợp đồng vay tài sản”, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 126A/2024/QĐXXST-DS ngày 26 tháng 7 năm 2024 giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Chị Nguyễn Bích T, sinh năm 1984; địa chỉ: Số A, Khóm D, Phường G, thành phố B, tỉnh Bạc Liêu.
- Bị đơn: Chị Lâm Thị Kim C, sinh năm 1980; địa chỉ: Số F, Khóm G, Phường C, thành phố B, tỉnh Bạc Liêu.
(chị T có mặt, chị C vắng mặt)
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn khởi kiện đề ngày 16/4/2024 và các lời khai trong quá trình tố tụng tại Tòa án nguyên đơn chị Nguyễn Bích T trình bày:
Vào khoảng tháng 01/2024 âm lịch, chị T quen biết chị C và chị C nhờ chơi 30 chưng hụi ngày, mỗi ngày đóng 100.000 đồng/chưng, tổng mỗi ngày đóng hụi 3.000.000 đồng. Chị C đã nhờ hốt đầu hết 30 chưng với tổng số tiền 156.300.000 đồng, chị T giao tiền hụi cho chị C nhận. Sau đó chị C chỉ đóng vài ngày còn nợ lại 28 ngày với số tiền là 84.000.000 đồng. Chị C không còn khả năng thanh toán nên nhờ chị T mượn tiền bên ngoài để lấp vô khoản hụi này. Chị T đã vay tiền và thay chị C trả xong số tiền nợ hụi 84.000.000 đồng. Đến ngày 08/01/2024 âm lịch, chị C có viết biên nhận nợ nội dung chị C có mượn của chị T số tiền 84.000.000 đồng và chị C ký tên xác nhận. Nhưng sau đó chị C không trả tiền cho chị T.
Nay chị T khởi kiện yêu cầu chị C trả số tiền 84.000.000 đồng, chị T xác định tiền này là chị T cho chị C mượn riêng, không liên quan tiền hụi trước đó vì đã thanh toán xong. Chị T không yêu cầu tính lãi.
Trong quá trình giải quyết vụ án, bị đơn chị Lâm Thị Kim C đã được Tòa án triệu tập hợp lệ để tham gia phiên họp, phiên hòa giải nhiều lần nhưng vắng mặt không có lý do nên Tòa án không ghi nhận được ý kiến chị T về yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.
Tại phiên tòa: nguyên đơn chị Nguyễn Bích T giữ nguyên các ý kiến đã trình bày, không cung cấp thêm tài liệu, chứng cứ nào khác và không yêu cầu Tòa án triệu tập thêm người làm chứng. Chị T xác định chỉ yêu cầu cá nhân chị C trả tiền vay, không yêu cầu tính lãi, đối với chi phí giám định yêu cầu giải quyết theo quy định.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Bạc Liêu phát biểu quan điểm:
- Về việc tuân theo pháp luật: Qua nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án, từ khi thụ lý đến phiên tòa hôm nay Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa và những người tham gia tố tụng đã thực hiện đầy đủ các thủ tục theo đúng quy định của pháp luật về tố tụng dân. Bị đơn chị Lâm Thị Kim C đã được Tòa án triệu tập hợp lệ tham gia phiên tòa nhưng vắng mặt lần thứ hai nên Hội đồng xét xử xét xử vắng mặt chị C là đúng quy định. Vì vậy về tố tụng Viện kiểm sát không có kiến nghị gì.
- Về việc giải quyết vụ án: Nguyên đơn đã cung cấp được biên nhận về việc vay tiền của bị đơn. Kết luận giám định đúng chữ ký, chữ viết của bị đơn nên có căn cứ xác định bị đơn chị Lâm Thị Kim C có vay tiền của chị Nguyễn Bích T, nay bị đơn đã vi phạm nghĩa vụ thanh toán số nợ nên có căn cứ chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn. Đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Nguyễn Bích T, buộc chị Lâm Thị Kim C có trách nhiệm trả cho chị T số tiền 84.000.000 đồng.
Bà Lâm Thị Kim C còn phải chịu án phí, chi phí giám định theo quy định pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, quan điểm phát biểu của Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Bạc Liêu. Hội đồng xét xử nhận định nội dung vụ kiện như sau:
[1] Về quan hệ tranh chấp và thẩm quyền: Chị Nguyễn Bích T khởi kiện yêu cầu chị Lâm Thị Kim C trả tiền vay, bị đơn có nơi thường trú tại Phường C, thành phố B, tỉnh Bạc Liêu nên đây là tranh chấp “hợp đồng vay tài sản” và thuộc thẩm quyền của Tòa án nhân dân thành phố Bạc Liêu theo Khoản 3 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ Luật Tố tụng Dân sự năm 2015.
[2] Về thủ tục tố tụng: Bị đơn từ khi thụ lý vụ án, Tòa án đã không tống đạt được các văn bản tố tụng trực tiếp cho bị đơn do không có mặt tại địa chỉ mà nguyên đơn cung cấp. Tại Biên bản xác minh chính quyền địa phương xác định chị Lâm Thị Kim C, sinh năm 1980 có đăng ký hộ khẩu thường trú tại địa chỉ số F, đường V, Khóm G, Phường C, thành phố B, tỉnh Bạc Liêu nhưng đã bỏ nhà đi hơn 03 tháng, không biết đi đâu; nên nguyên đơn đã cung cấp đầy đủ, đúng địa chỉ nơi cư trú bị đơn theo quy định. Căn cứ điểm a khoản 2 Điều 6 Nghị quyết 04/2017/NQ-HĐTP ngày 05/5/2017 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao thì đây được coi là bị đơn cố tình giấu địa chỉ và Tòa án tiếp tục giải quyết theo thủ tục chung. Do đó, Tòa án niêm yết các văn bản tố tụng và tiến hành xét xử vắng mặt bị đơn theo quy định tại điểm a, b khoản 2 Điều 227; khoản 1, 3 Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự.
[3] Về nội dung vụ án: Xét yêu cầu khởi kiện của chị Nguyễn Bích T.
[3.1] Về tiền vốn: Chị T yêu cầu chị Lâm Thị Kim C trả lại số tiền nợ gốc là 84.000.000 đồng. Chị Thủy cung C1 01 biên nhận nợ đề ngày 08/01/2024 âm lịch do chị Lâm Thị Kim C ký tên. Bà T xác định biên nhận do chị T viết nội dung nhưng đã được chị C ký tên, viết họ và tên vào biên nhận. Bị đơn chị Lâm Thị Kim C đã được Tòa án triệu tập hợp lệ từ khi thụ lý, thông báo phiên họp công khai chứng cứ và hòa giải đến khi xét xử nhưng đều vắng mặt và không rõ lý do, nên không có ý kiến của chị C đối với yêu cầu khởi kiện của chị T nên căn cứ quy định tại Điều 91 Bộ luật Tố tụng dân sự nguyên đơn có nghĩa vụ phải chứng minh cho yêu cầu của mình là hợp pháp.
[3.2] Về giám định chữ ký, chữ viết: nguyên đơn chị Nguyễn Bích T yêu cầu trưng cầu giám định chữ ký, chữ viết đối với biên nhận có chữ ký và viết tên chị Lâm Thị Kim C để làm cơ sở giải quyết vụ án. Tòa án đã tiến hành thu thập tài liệu chứng cứ là 02 tờ khai chứng minh nhân dân số [...] của Lâm Thị Kim C tại Phòng Cảnh sát quản lý hành chính về trật tự xã hội, Công an tỉnh B. Tại kết luận giám định số 92/KL-KTHS ngày 27/9/2024 của Phòng K Công an tỉnh B xác định chữ ký, chữ viết tên tại biên nhận ngày 08/01/2024 âm lịch của bị đơn Lâm Thị Kim C với chữ viết, chữ viết Lâm Thị Kim C tại 02 tờ khai chứng minh nhân dân số [...] tại Phòng Cảnh sát quản lý hành chính về trật tự xã hội, Công an tỉnh B là cùng một người viết ra. Như vậy, có căn cứ xác định giữa chị Nguyễn Bích T và chị Lâm Thị Kim C có phát sinh giao dịch vay tiền trên thực tế theo biên nhận nợ, nên chị C phải có nghĩa vụ trả tiền vay theo quy định tại Điều 466 Bộ luật Dân sự 2015. Do đó Hội đồng xét xử có căn cứ chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn, buộc chị Lâm Thị Kim C trả cho chị Nguyễn Bích T số tiền vay gốc là 84.000.000 đồng.
[3.3] Về tiền lãi: Chị Nguyễn Bích T yêu cầu chị Lâm Thị Kim C trả số tiền vốn là 84.000.000 đồng, không yêu cầu tính lãi, đây là sự tự nguyện của đương sự nên Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét giải quyết.
[4] Về chi phí giám định: Việc giám định chữ ký, chữ viết đã được kết luận là chữ ký, chữ viết của bị đơn Lâm Thị Kim C nên bị đơn có nghĩa vụ phải chịu chi phí giám định. Nguyên đơn chị Nguyễn Bích T đã tạm ứng tiền và chi hết cho việc giám định, nên buộc bị đơn phải hoàn trả lại cho nguyên đơn số tiền 5.062.000 đồng
[5] Về án phí: Chị Lâm Thị Kim C có nghĩa vụ trả cho chị Nguyễn Bích T tổng số tiền là 84.000.000 đồng đồng nên phải nộp án phí dân sự sơ thẩm có giá ngạch là: 84.000.000 X 5% = 4.200.000 đồng.
Nguyên đơn chị Nguyễn Bích T được chấp nhận yêu cầu nên không phải chịu án phí, chị T đã nộp 2.100.000 đồng tạm ứng án phí theo biên lai thu tiền số 0002616 ngày 26/4/2024, được hoàn lại toàn bộ.
Từ những nhận định trên, Hội đồng xét xử có căn cứ chấp nhận toàn bộ đề nghị của Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Bạc Liêu, tỉnh Bạc Liêu.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào:
- - Điều 5; Khoản 3 Điều 26; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39; Điều 147, Điều 227, Điều 228, Điều 273 của Bộ luật Tố tụng Dân sự năm 2015.
- - Điều 357, 463, 466, 468 của Bộ luật dân sự năm 2015;
- - Khoản 2 Điều 26 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Tuyên xử:
1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Nguyễn Bích T.
Buộc chị Lâm Thị Kim C có trách nhiệm hoàn trả cho chị Nguyễn Bích T số tiền nợ là 84.000.000 đồng (Tám mươi bốn triệu đồng).
2. Về chi phí giám định: Buộc chị Lâm Thị Kim C phải hoàn trả lại cho chị Nguyễn Bích T số tiền 5.062.000 đồng (Năm triệu không trăm sáu mươi hai ngàn đồng)
Kể từ ngày có đơn thi hành án đến khi thi hành án xong khoản tiền nêu trên, hàng tháng người phải thi hành án còn phải chịu thêm số tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo lãi suất chậm trả tương ứng với thời gian chưa thi hành án theo quy định tại khỏan 2 Điều 357 và khoản 2 Điều 468 Bộ luật dân sự.
4. Về án phí: Buộc chị Lâm Thị Kim C phải chịu án phí dân sự sơ thẩm có giá ngạch là 4.200.000 đồng (Bốn triệu hai trăm ngàn đồng) và nộp tại cơ quan thi hành án có thẩm quyền.
Chị Nguyễn Bích T không phải chịu án phí, đã nộp 2.100.000 đồng (Hai triệu một trăm ngàn đồng) tiền tạm ứng án phí theo biên lai thu tiền số 0002616 ngày 26/4/2024, chị T được hoàn lại toàn bộ.
Trường hợp Bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án Dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và Điều 9 của Luật Thi hành án Dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 của Luật Thi hành án Dân sự.
5. Án sơ thẩm xử công khai, đương sự có mặt có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án, đương sự vắng mặt được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết công khai.
|
Nơi nhận: - TAND tỉnh Bạc Liêu; - VKSND thành Tp. Bạc Liêu; - CCTHADS Tp. Bạc Liêu; - Đương sự; - Lưu HS. |
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Phạm Thị Chi |
Bản án số 170/2024/DS-ST ngày 30/09/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BẠC LIÊU, TỈNH BẠC LIÊU về tranh chấp hợp đồng vay tài sản
- Số bản án: 170/2024/DS-ST
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hợp đồng vay tài sản
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 30/09/2024
- Loại vụ/việc: Dân sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BẠC LIÊU, TỈNH BẠC LIÊU
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: 1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Nguyễn Bích Thủy. Buộc chị Lâm Thị Kim Chúc có trách nhiệm hoàn trả cho chị Nguyễn Bích Thủy số tiền nợ là 84.000.000 đồng (Tám mươi bốn triệu đồng).
