TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 3 - HÀ NỘI | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: 170/2025/HS-ST | |
Ngày: 06/11/2025 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 3 - HÀ NỘI
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên tòa: Bà Đỗ Phương Minh
Các Hội thẩm nhân dân:
Bà Trần Thị Kim Dung
Bà Tạ Thị Thà
- Thư ký phiên toà: Bà Nguyễn Thị Minh Ngọc - Thư ký Toà án nhân dân Khu vực 3 - Hà Nội.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Khu vực 3 - Hà Nội tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Ngọc Ánh - Kiểm sát viên.
Ngày 06 tháng 11 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân Khu vực 3 - Hà Nội xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 107/2025/TLST-HS ngày 01/10/2025 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 202/2025/QĐXXST-HS ngày 23/10/2025 đối với bị cáo:
Họ và tên: Lê Hoài N, sinh năm 1993 tại Hà Nội; Nơi thường trú: tập thể cơ khí số G, xã N, thành phố Hà Nội; Nơi ở: Khu B, H, xóm Đ, xã Đ, thành phố Hà Nội; Nghề nghiệp: Tự do; Trình độ văn hóa: 12/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Đảng phái: đã bị đình chỉ sinh hoạt đảng theo Quyết định số 03-QĐ/UBKTĐU ngày 05/9/2025 của Ủy ban kiểm tra Đảng ủy phường C, thành phố Hà Nội; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông: Lê Xuân H (sinh năm 1973) và bà: Hoàng Thị Thu Ả (sinh năm 1975); Có vợ là Lưu Thị Kiều M (sinh năm 1995) và có 01 con (sinh năm 2024); D chỉ bản số 2324, lập ngày 21/8/2025 tại Công an thành phố H; Tiền án, tiền sự: Không.
Bị cáo bị bắt quả tang: ngày 11/8/2025; tạm giữ: từ ngày 12/8/2025; tạm giam: từ ngày 21/8/2025; hiện đang bị tạm giam tại Trại tạm giam số 2 - Công an thành phố H; Có mặt tại phiên tòa.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Hồi 18 giờ 00 phút ngày 11/8/2025, tại trước số C, ngõ F B, phường H, thành phố Hà Nội, tổ công tác công an phường H, thành phố Hà Nội tiến hành kiểm tra Lê Hoài N đang ngồi trên xe máy biển kiểm soát 29Z9-1863 đã phát hiện, thu giữ trong túi quần phía trước bên phải đang mặc của Nam 02 túi nilông nhỏ kích thước (02x02) cm bên trong chứa tinh thể màu trắng. Tại chỗ, N khai nhận là ma túy đá N vừa mua của một người không quen biết với giá 800.000 đồng để sử dụng cho bản thân. Tổ công tác đã lập biên bản bắt người phạm tội quả tang, thu giữ, niêm phong vật chứng và đưa N cùng vật chứng về trụ sở cơ quan công an để điều tra làm rõ. Ngoài ra, cơ quan công an còn thu giữ của N: 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone Xsmax màu trắng, Imei 1: 353096102148500, Imei 2: 353096102105039 đã qua sử dụng; 01 xe máy nhãn hiệu Honda AirBlade, màu đỏ đen, biển kiểm soát 29Z9-1863, số khung: RLHJF 18008Y647802, số máy: JF78E-5250526, đã qua sử dụng.
Tại Kết luận giám định số 5239/KL-KTHS ngày 21/8/2025 của Phòng K Công an thành phố H, kết luận: Tinh thể màu trắng bên trong 02 túi nilông đều là ma túy loại Methamphetamine, tổng khối lượng 0,710 gam.
Tại cơ quan điều tra, Lê Hoài N khai nhận: Khoảng 17 giờ ngày 11/8/2025, N điều khiển xe máy nhãn hiệu Honda AirBlade, biển kiểm soát 29Z9-1863 từ nhà tại địa chỉ xóm Đ, xã Đ, thành phố Hà Nội đi đến đoạn bờ sông gần khu vực chùa B, phường H, thành phố Hà Nội thì thấy một người đàn ông không quen biết. N hỏi chuyện và biết người đàn ông có bán ma túy tổng hợp nên hỏi mua 800.000 đồng ma túy. Người đàn ông đồng ý, nhận tiền của N và hướng dẫn lấy ma túy tại hốc giữa thân cây cách chỗ giao dịch khoảng 50m. N đi ra gốc cây thì thấy ở hốc giữa thân cây có 02 túi nilông, bên trong mỗi túi đều chứa tinh thể màu trắng. N cầm 02 túi nilông có chứa ma túy cho vào túi quần phía trước bên phải rồi điều khiển xe máy đi tìm nơi để sử dụng. Khi N đi đến trước số C, ngõ F B, phường H, thành phố Hà Nội thì bị công an phường H phát hiện, bắt giữ cùng tang vật.
Ngày 11/8/2025 công an phường H tiến hành xét nghiệm tìm chất ma túy đối với Lê Hoài N, kết quả: Dương tính chất ma túy.
Ngày 12/8/2025 cơ quan công an đã dẫn giải Lê Hoài N đi xác định địa điểm mua ma túy, N đã chỉ ra được vị trí mua ma túy nhưng không xác định được người đàn ông đã bán ma túy cho N nên cơ quan điều tra không có căn cứ để xử lý.
Quá trình điều tra xác định N không thuộc các trường hợp quy định tại Điều 256a Bộ luật hình sự. Do đó, không có căn cứ xử lý N về hành vi Sử dụng trái phép chất ma túy.
Đối với chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Iphone Xsmax màu trắng, Imei 1: 353096102148500, Imei 2: 353096102105039 đã qua sử dụng thu giữ của N, qua kiểm tra không có thông tin gì liên quan đến hành vi phạm tội.
Đối với chiếc xe máy nhãn hiệu Honda AirBlade, màu đỏ đen, biển kiểm soát 29Z9-1863, số khung: RLHJF 18008Y647802, số máy: JF78E-5250526 thu giữ của N. Quá trình điều tra, xác định chiếc xe máy trên đứng tên ông Lê Xuân H (sinh năm 1973; Nơi cư trú: tập thể cơ khí số G, xã N, thành phố Hà Nội) là bố đẻ của N. Tại cơ quan điều tra, ông H trình bày: Chiếc xe máy trên là của ông, đăng ký chính chủ mang tên ông, ông cho N mượn để sử dụng đi làm, ông không biết N mượn xe máy để đi mua ma túy, ông đề nghị được nhận lại chiếc xe máy trên. Kết quả tra cứu, xe máy không có trong cơ sở dữ liệu xe máy vật chứng. Ngày 18/9/2025 cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố H đã ra Quyết định xử lý vật chứng số A17887/QĐ-VPCQCSĐT và đã trao trả chiếc xe máy trên cho ông H. Ông H đã nhận lại tài sản và không có yêu cầu đề nghị gì.
Tại Bản cáo trạng số 96/CT-VKS-HS ngày 19/9/2025, Viện kiểm sát nhân dân Khu vực 3 - Hà Nội truy tố Lê Hoài Nam về tội Tàng trữ trái phép chất ma túy, theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2025.
* Tại phiên tòa, bị cáo Lê Hoài N khai nhận đã thực hiện hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy như nội dung cáo trạng đã truy tố, không tranh luận gì với đại diện Viện kiểm sát nhân dân Khu vực 3 - Hà Nội.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Khu vực 3 - Hà Nội tham gia phiên tòa sau khi phân tích nội dung vụ án, đánh giá tính chất, mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội, tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và nhân thân của bị cáo đã giữ nguyên nội dung truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử: áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249, điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 38 của Bộ luật hình sự, xử phạt bị cáo Lê Hoài N với mức hình phạt từ 38 tháng tù đến 42 tháng tù về tội Tàng trữ trái phép chất ma túy; Không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo; Tịch thu tiêu hủy: 01 bao niêm phong bên trong chứa ma túy; Trả lại bị cáo: 01 chiếc điện thoại di động Iphone Xsmax màu trắng.
Lời nói sau cùng của bị cáo: Bị cáo đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo để bị cáo sớm trở về với gia đình và hòa nhập xã hội.
NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan điều tra Công an thành phố H, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân Khu vực 3 - Hà Nội, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
[2] Về hành vi phạm tội của bị cáo: Xét lời khai của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai của bị cáo tại cơ quan điều tra, phù hợp với lời khai của người làm chứng, biên bản bắt người phạm tội quả tang, vật chứng thu giữ, kết luận giám định và các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án, Hội đồng xét xử có đủ cơ sở kết luận:
Hồi 18 giờ 00 phút ngày 11 tháng 8 năm 2025, tại khu vực trước số C, ngõ F B, phường H, thành phố Hà Nội, Lê Hoài N đã có hành vi tàng trữ trái phép 0,710 gam ma túy loại Methamphetamine, mục đích để sử dụng thì bị tổ công tác công an phường H, thành phố Hà Nội phát hiện, bắt quả tang, thu giữ vật chứng.
Hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, có tính chất nghiêm trọng. Hành vi đó không những đã vi phạm chính sách độc quyền của Nhà nước về quản lý các chất ma tuý, mà còn gây ảnh hưởng đến sức khoẻ của con người, là nguyên nhân dẫn đến những hành vi vi phạm pháp luật khác, gây ảnh hưởng xấu tới tình hình trật tự trị an xã hội ở địa phương. Bị cáo là người trưởng thành, nhận thức được tác hại của ma túy và hành vi của mình là vi phạm pháp luật nhưng cố ý thực hiện. Hành vi của bị cáo Lê Hoài N đã đủ yếu tố cấu thành tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”, tội danh và hình phạt được quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2025. Do đó, Viện kiểm sát nhân dân Khu vực 3 - Hà Nội truy tố bị cáo ra trước Tòa án để xét xử theo tội danh và điều luật đã viện dẫn là đúng người, đúng tội, có căn cứ pháp luật.
[3] Về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và nhân thân của bị cáo:
Bị cáo Lê Hoài N không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.
Bị cáo Lê Hoài N có nhân thân tốt, chưa có tiền án, tiền sự. Trong quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình nên được áp dụng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự theo quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật hình sự.
Ngoài ra, bị cáo được Giám đốc Cảnh sát phòng cháy và chữa cháy thành phố Hà Nội tặng danh hiệu Chiến sĩ thi đua cơ sở năm 2015, Giấy khen vì đã có thành tích xuất sắc trong công tác cứu nạn, cứu hộ trong và sau cơn mưa giông ngày 13/6/2015 nên bị cáo được áp dụng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại khoản 2 Điều 51 của Bộ luật hình sự.
[4] Về quyết định hình phạt: Căn cứ vào tính chất, mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội, tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và nhân thân của bị cáo, xét thấy cần phải áp dụng hình phạt tù có thời hạn, cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian mới đủ tác dụng giáo dục, cải tạo bị cáo thành công dân chấp hành pháp luật, đồng thời nhằm răn đe phòng ngừa chung.
[5] Về hình phạt bổ sung: Xét bị cáo Lê Hoài N là lao động tự do, không có nghề nghiệp ổn định nên không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.
[6] Về xử lý vật chứng: Đối với 01 phong bì bên trong chứa chất ma túy Methamphetamine được niêm phong còn nguyên vẹn, tại các mép dán có các chữ ký của giám định viên Nguyễn Thị T, cán bộ công an phường H - Nguyễn Hiền Anh T1, bị cáo Lê Hoài N, người chứng kiến Vũ Minh Đ (theo Biên bản đóng gói, niêm phong và giao nhận lại đối tượng giám định lập ngày 12/8/2025 tại Phòng PC 09 Công an thành phố H; Bản kết luận giám định số 5239/KL-KTHS ngày 21/8/2025 của Phòng K Công an thành phố H). Xét thấy, ma túy là chất cấm lưu hành nên cần tịch thu tiêu hủy.
Đối với 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Iphone XSMax màu trắng, Imei 1: 353096102148500, Imei 2: 353096102105039, đã qua sử dụng thu giữ của bị cáo, quá trình điều tra xác định là tài sản cá nhân của bị cáo, không liên quan đến hành vi phạm tội, nên trả lại cho bị cáo.
[7] Đối với 01 chiếc xe máy nhãn hiệu Honda AirBlade, màu đỏ đen, biển kiểm soát 29Z9-1863, số khung: RLHJF 18008Y647802, số máy: JF78E-5250526 thu giữ của Lê Hoài N. Quá trình điều tra, xác định xe máy đứng tên đăng ký của ông Lê Xuân H, không liên quan đến hành vi phạm tội của N nên ngày 18/9/2025 cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố H đã ra Quyết định xử lý vật chứng số A17887/QĐ-VPCQCSĐT và trao trả chiếc xe máy trên cho ông H, nên Tòa án không xem xét.
[8] Đối với người đàn ông bán ma túy cho Lê Hoài N, quá trình điều tra cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố H không xác định được danh tính nên không có căn cứ để xử lý là đúng.
[9] Quá trình điều tra, cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố H xác định Lê Hoài N không thuộc các trường hợp quy định tại Điều 256a Bộ luật hình sự nên không có căn cứ xử lý N về hành vi Sử dụng trái phép chất ma túy là đúng.
[10] Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
[11] Về quyền kháng cáo: Bị cáo có quyền kháng cáo bản án theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
- Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38; Điều 47 của Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2025;
- Căn cứ các điều 106, 136, 331, 333 của Bộ luật tố tụng hình sự;
- Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
1. Tuyên bố: Bị cáo Lê Hoài N phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
2. Xử phạt: Bị cáo Lê Hoài N 36 (ba mươi sáu) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 11/8/2025.
Không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo Lê Hoài N.
3. Về xử lý vật chứng:
- Tịch thu tiêu hủy: 01 phong bì bên trong chứa chất ma túy Methamphetamine được niêm phong còn nguyên vẹn, tại các mép dán có các chữ ký của giám định viên Nguyễn Thị T, cán bộ công an phường H - Nguyễn Hiền Anh T1, bị cáo Lê Hoài N, người chứng kiến Vũ Minh Đ (theo Biên bản đóng gói, niêm phong và giao nhận lại đối tượng giám định lập ngày 12/8/2025 tại Phòng PC 09 Công an thành phố H; Bản kết luận giám định số 5239/KL-KTHS ngày 21/8/2025 của Phòng K Công an thành phố H).
- Trả lại cho bị cáo Lê Hoài N: 01 điện thoại Iphone XSMax màu trắng, Imei 1: 353096102148500, Imei 2: 353096102105039 (điện thoại cũ đã qua sử dụng, không kiểm tra được chất lượng và tình trạng hoạt động).
Toàn bộ vật chứng nêu trên hiện đang lưu giữ tại Phòng Thi hành án dân sự Khu vực 3 - Hà Nội theo Biên bản về việc giao nhận vật chứng, tài sản số 2025/KV3-062 ngày 24/9/2025 giữa cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố H và Phòng Thi hành án dân sự Khu vực 3 - Hà Nội.
4. Về án phí: Bị cáo Lê Hoài N phải chịu 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.
5. Về quyền kháng cáo: Bị cáo Lê Hoài N có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.
Nơi nhận:
| TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Đỗ Phương Minh |
Bản án số 170/2025/HS-ST ngày 06/11/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 3 - HÀ NỘI về tàng trữ trái phép chất ma túy
- Số bản án: 170/2025/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Tàng trữ trái phép chất ma túy
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 06/11/2025
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 3 - HÀ NỘI
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Dương Quốc T
