TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BẮC GIANG | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: 170/2025/HNGĐ-ST Ngày: 23-06-2025 V/v ly hôn, tranh chấp nuôi con |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BẮC GIANG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Trung Thông
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Đặng Thiên Hùng
Bà Nguyễn Thị Bích
- Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Duy Khôi - Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Bắc Giang.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bắc Giang: Bà Hà Thị Hải - Kiểm sát viên.
Ngày 23 tháng 6 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Bắc Giang xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 323/2024/TLST-HNGĐ ngày 29 tháng 11 năm 2024 về việc “Ly hôn, tranh chấp nuôi con”.
Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 94/2025/QĐ-ST ngày 23/4/2025 và Quyết định hoãn phiên tòa số: 94/2025/QĐST-HNGĐ ngày 23/5/2025 giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Anh Nguyễn Văn T, sinh ngày 23/02/1982 (vắng mặt)
Căn cước công dân: [...]xxx
Nơi cư trú: thôn T, xã Q, thị xã C, tỉnh Bắc Giang.
- Bị đơn: Chị Lý Hồng H, sinh ngày 08/02/1984 (vắng mặt)
Chứng minh nhân dân: 381340xxx
Nơi cư trú và địa chỉ cuối cùng ở Việt Nam: thôn T, xã Q, thị xã C, tỉnh Bắc Giang. Hiện đang lao động tại nước ngoài, không rõ địa chỉ.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn khởi kiện về việc xin ly hôn và bản tự khai nguyên đơn anh Nguyễn Văn T trình bày:
Về hôn nhân: Trước khi kết hôn anh, chị H được tự do tìm hiểu và chung sống như vợ chồng tại Hàn Quốc, sau đó một thời gian anh, chị về Việt Nam tổ chức lễ cưới và đăng ký kết hôn ngày 24/8/2011 tại Ủy ban nhân dân xã Q, huyện L (nay là thị xã C), tỉnh Bắc Giang. Sau kết hôn chị H về nhà anh làm dâu, vợ chồng chung sống hòa thuận. Sau một thời gian chung sống chị H tiếp tục quay lại Hàn Quốc làm việc, anh làm thủ tục sang sau. Tuy nhiên, do không làm thủ tục sang Hàn Quốc lao động tiếp nên dần dần tình cảm vợ chồng nguội lạnh, mâu thuẫn ngày càng nhiều nên kể từ năm 2015 anh, chị không còn liên lạc với nhau nữa. Nguyên nhân mâu thuẫn là do bất đồng quan điểm sống. Trong thời gian mâu thuẫn vợ chồng nhiều lần nói chuyện với mong muốn tiếp tục chung sống để chăm sóc con nhưng do bất đồng quan điểm quá lớn nên không có kết quả. Khi hai bên gia đình biết chuyện có gọi điện khuyên bảo vợ chồng về đoàn tụ nhưng không được. Nay anh xác định tình cảm vợ chồng không còn nên đề nghị Tòa án xử cho anh được ly hôn chị Lý Hồng H.
Về con chung: Anh, chị H có 01 con chung là cháu Nguyễn Quang H, sinh ngày 11/11/2010. Cháu H được sinh ra tại Hàn Quốc, sau khi anh, chị về nước làm thủ tục kết hôn mới tiến hành khai sinh cho cháu. Cháu H hiện đang sinh sống cùng anh nên sau khi ly hôn anh đề nghị giao cháu H cho anh là người trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng.
Về cấp dưỡng nuôi con chung: Không yêu cầu Tòa án giải quyết
Về tài sản, công nợ chung: Không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Chị Lý Hồng H là bị đơn không có mặt tại địa phương, không gửi văn bản giấy tờ, tài liệu về cho Tòa án nhân dân tỉnh Bắc Giang.
Tại biên bản làm việc với ông Lý Thanh M là bố đẻ chị Lý Hồng H cung cấp:
Về hôn nhân: Anh, chị được tự do tìm hiểu rồi đi đến hôn nhân và được hai bên gia đình tổ chức lễ cưới, hỏi theo phong tục địa phương. Có đăng ký kết hôn ngày 24/8/2011 tại Ủy ban nhân dân xã Q, huyện L (nay là thị xã C), tỉnh Bắc Giang. Sau khi kết hôn chị H về nhà anh T làm dâu, vợ chồng chung sống hòa thuận. Sau một thời gian chung sống chị H tiếp tục quay lại Hàn Quốc làm việc. Tuy nhiên, do anh T không làm thủ tục sang Hàn Quốc lao động được nên vợ chồng lâu ngày phát sinh nhiều mâu thuẫn và sống ly thân nhau. Khi hai bên gia đình biết chuyện có gọi điện khuyên bảo nhưng không được.
Về con chung: Anh T, chị H có 01 con chung là cháu Nguyễn Quang H, sinh ngày 11/11/2010, hiện nay cháu H đang sinh sống cùng anh T.
Ngoài ra ông, bà cho biết: Trước khi đi lao động tại Hàn Quốc chị H sinh sống cùng gia đình anh T tại thôn T, xã Q, thị xã C, tỉnh Bắc Giang. Sau khi sang Hàn Quốc chị H vẫn thường xuyên liên lạc về gia đình. Gia đình đã thông báo cho chị H biết về việc Tòa án nhân dân tỉnh Bắc Giang đang thụ lý giải quyết vụ án “Ly hôn, tranh chấp nuôi con” giữa anh T và chị H nhưng chị H không phản hồi.
Tại phiên tòa sơ thẩm, nguyên đơn vắng mặt và có đơn đề nghị xét xử vắng mặt, bị đơn chị H đã được Tòa án triệu tập hợp lệ lần thứ hai nhưng vẫn vắng mặt.
Hội đồng xét xử tóm tắt nội dung vụ án, công bố đơn khởi kiện, bản tự khai của anh T; Biên bản lấy lời khai của ông M, cháu H và thông qua các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bắc Giang phát biểu về việc tuân theo pháp luật về tố tụng của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, thư ký Tòa án đã tuân thủ đúng các quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự kể từ khi thụ lý vụ án đến trước thời điểm Hội đồng xét xử vào nghị án.
Về việc chấp hành pháp luật của đương sự: Nguyên đơn có đơn xin xét xử vắng mặt thực hiện đúng quyền và nghĩa vụ tố tụng của mình được quy định trong Bộ luật Tố tụng dân sự, bị đơn không có địa chỉ cụ thể ở nước ngoài, Tòa án đã niêm yết đầy đủ các văn bản tố tụng đối với bị đơn. Căn cứ các quy định của pháp luật, Hội đồng xét xử, xét xử vắng mặt các đương sự là đúng theo quy định của pháp luật.
Về nội dung: Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng các Điều 51, 53, 56, 81, 82, 83, khoản 2 Điều 123 và Điều 127 Luật hôn nhân và gia đình; khoản 1 điều 28, khoản 3 Điều 35, điểm c khoản 1 Điều 37, khoản 4 Điều 147, Điều 227, Điều 228, Điều 238, Điều 271; Điều 273, khoản 2 Điều 479 Bộ luật Tố tụng dân sự; điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTBVQH14 ngày 30/12/2016 Nghị quyết của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án. Chấp nhận cầu khởi kiện của anh Nguyễn Văn T; xử:
Về hôn nhân: anh Nguyễn Văn T được ly hôn chị Lý Hồng H.
Về con chung: Giao cháu Nguyễn Quang H cho anh Nguyễn Văn T là người trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng cho đến khi đủ 18 tuổi hoặc đến khi có sự thay đổi khác theo quy định của pháp luật.
Về cấp dưỡng nuôi con chung, tài sản, công nợ chung: Do anh T không yêu cầu nên không đặt ra xem xét giải quyết.
Anh Nguyễn Văn T phải chịu 300.000 đồng án phí ly hôn sơ thẩm.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được công bố tại phiên toà, ý kiến của đại diện Viện kiểm sát. Hội đồng xét xử nhận định:
[1]. Về quan hệ tranh chấp: Anh T khởi kiện xin ly hôn chị H và yêu cầu giải quyết nuôi con chung. Vì vậy, đây là vụ án “ly hôn, tranh chấp về nuôi con” theo khoản 1 Điều 28 của Bộ luật Tố tụng dân sự.
[2]. Về thẩm quyền giải quyết vụ án: Theo Công văn số 238/QLXNC ngày 22/01/2025 của Phòng Quản lý xuất nhập cảnh – Công an tỉnh Bắc Giang cung cấp, chị Lý Hồng H đã xuất cảnh ngày 15/4/2012, hiện chưa có thông tin nhập cảnh. Do đó, chị H được xác định là đang ở nước ngoài. Mặt khác, chị H là bị đơn có nơi thường trú tại tỉnh Bắc Giang. Do vụ án có một bên đương sự đang ở nước ngoài nên thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân tỉnh Bắc Giang theo quy định tại khoản 1 Điều 28, khoản 3 Điều 35, điểm c khoản 1 Điều 37 của Bộ luật Tố tụng dân sự.
[3]. Về việc vắng mặt đương sự:
Đối với nguyên đơn vắng mặt và có đơn xin xét xử vắng mặt, nên Hội đồng xét xử căn cứ khoản 1 Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự xét xử vắng mặt anh T.
Đối với bị đơn chị Lý Hồng H: Căn cứ lời khai của nguyên đơn và ông M (bố chị H) Tòa án xác định được nơi cư trú cuối cùng trước khi xuất cảnh của chị H ở Việt Nam là: thôn T, xã Q, thị xã C, tỉnh Bắc Giang. Tòa án đã tiến hành giao thông báo thụ lý vụ án cho chị H thông qua gia đình và đề nghị gia đình thông báo cho chị H biết việc Tòa án nhân dân tỉnh Bắc Giang đang thụ lý giải quyết vụ án “Ly hôn, tranh chấp nuôi con” giữa anh Nguyễn Văn T và chị Lý Hồng H. Gia đình chị H cho biết chị H vẫn thường xuyên liên lạc về gia đình, nhưng chị H không cung cấp cho gia đình, Tòa án địa chỉ cụ thể của chị H tại Hàn Quốc. Nhận thấy, đây là trường hợp bị đơn cố tình giấu địa chỉ, từ chối khai báo, từ chối cung cấp những tài liệu cần thiết. Do đó, Tòa án đã tiến hành niêm yết các văn bản tố tụng cần tống đạt cho bị đơn và xử vắng mặt bị đơn theo Điều 10 Nghị quyết 01/2024/NQ-HĐTP ngày 16/5/2024 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao và khoản 2 Điều 227 của Bộ luật Tố tụng dân sự.
[4]. Về hôn nhân: Anh Nguyễn Văn T và chị Lý Hồng H kết hôn trên cơ sở hoàn toàn tự nguyện và có đăng ký kết hôn ngày 24/08/2011 tại Ủy ban nhân dân xã Q, huyện L (nay là thị xã C), tỉnh Bắc Giang. Do đó, đây là hôn nhân hợp pháp được pháp luật bảo vệ. Quá trình chung sống anh vợ chồng phát sinh mâu thuẫn và sống ly thân nhau đã lâu. Nay, anh T xác định tình cảm vợ chồng không còn, nên anh đề nghị Tòa án giải quyết cho anh được ly hôn chị Lý Hồng H.
Xét yêu cầu khởi kiện xin ly hôn của anh T với chị H, Hội đồng xét xử thấy: Sau khi kết hôn anh T và chị H chung sống hòa thuận, sau đó chị H tiếp tục đi lao động tại Hàn Quốc, anh T ở Việt Nam làm thủ tục sang sau nhưng anh T không làm thủ tục sang Hàn Quốc được nên vợ chồng không đoàn tụ được, lâu ngày vợ chồng phát sinh nhiều mâu thuẫn nên từ năm 2015 đến nay không còn liên lạc hỏi thăm nhau. Do đó, Hội đồng xét xử xác định chị H, anh T không còn yêu thương, quan tâm, chăm sóc, giúp đỡ nhau làm cho hôn nhân lâm vào tình trạng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích của hôn nhân không đạt được. Vì vậy, Hội đồng xét xử có căn chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của anh T với chị H là phù hợp với tình trạng hôn nhân thực tế, phù hợp quy định của pháp luật cũng như đề nghị của Kiểm sát viên tại phiên tòa.
[5]. Về nuôi con chung: Anh T và chị H có 01 con chung là cháu Nguyễn Quang H, sinh ngày 11/11/2010. Hiện nay cháu H đang sinh sống cùng anh T. Sau ly hôn anh T đề nghị giao con chung cho anh T là người trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục.
Xét yêu cầu giao nuôi con chung của anh T sau ly hôn, Hội đồng xét xử thấy: chị H hiện đang lao động ở nước ngoài nên không đảm bảo việc trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con chung. Cháu H từ khi chị H đi nước ngoài lao động đến nay vẫn sinh sống cùng anh T, cháu phát triển ổn định cả về thể chất lẫn tinh thần. Ngoài ra, cháu H trên 07 tuổi có nguyện vọng được sinh sống cùng bố nếu bố mẹ ly hôn. Do đó, Hội đồng xét xử có căn cứ chấp nhận yêu cầu giao anh T nuôi con chung sau ly hôn là phù hợp tình hình thực tế, phù hợp các quy định của pháp luật cũng như đề nghị của Kiểm sát viên tại phiên tòa.
Sau khi ly hôn chị Lý Hồng H có quyền thăm nom con chung mà không ai được cản trở.
Trường hợp chị Lý Hồng H có nguyện vọng thay đổi người trực tiếp nuôi con chung hoặc vì quyền lợi chính đáng của con chung, các đương sự có quyền khởi kiện yêu cầu thay đổi người trực tiếp nuôi con sau ly hôn bằng vụ án khác theo quy định tại Điều 84 Luật hôn nhân gia đình.
[6]. Về cấp dưỡng nuôi con chung: Do anh T không yêu cầu Tòa án giải quyết nên không đặt ra xem xét, giải quyết.
[7]. Về tài sản, công nợ chung: Do anh T không yêu cầu nên Hội đồng xét xử không xem xét, giải quyết.
[8]. Về án phí: Theo quy định tại khoản 4 Điều 147 của Bộ luật Tố tụng dân sự; điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Toà án. Anh Nguyễn Văn T phải chịu 300.000 đồng án phí Hôn nhân gia đình sơ thẩm nhưng được khấu trừ vào số tiền 300.000 đồng đã nộp tạm ứng án phí tại Cục Thi hành án dân sự tỉnh Bắc Giang.
[9]. Về quyền kháng cáo:
Theo Điều 271; khoản 1 Điều 273 Bộ luật Tố tụng dân sự, anh T vắng mặt tại phiên tòa nhưng có mặt tại Việt Nam có thời hạn kháng cáo bản án là 15 ngày, kể từ ngày bản án được tống đạt hợp lệ hoặc kể từ ngày bản án được niêm yết hợp lệ theo quy định của pháp luật.
Theo Điều 271, khoản 2 Điều 479 Bộ luật Tố tụng dân sự, chị H đang lao động tại nước ngoài không có mặt tại phiên tòa có thời hạn kháng cáo bản án là 01 tháng, kể từ ngày bản án được tống đạt hợp lệ hoặc kể từ ngày bản án được niêm yết hợp lệ theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào khoản 1 Điều 51, khoản 1 Điều 53, khoản 1 Điều 56, Điều 81, Điều 82, Điều 83, khoản 2 Điều 123, Điều 127 Luật Hôn nhân và gia đình; khoản 1 Điều 28, khoản 3 Điều 35, điểm c khoản 1 Điều 37, khoản 1, 4 Điều 147, Điều 227, Điều 228, Điều 238, Điều 271, Điều 273, khoản 2 Điều 479 Bộ Luật Tố tụng dân sự; điểm a khoản 5, điểm a khoản 6 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Toà án; xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của anh Nguyễn Văn T.
- Về hôn nhân: Anh Nguyễn Văn T được ly hôn chị Lý Hồng H.
- Về nuôi con chung: Giao cháu Nguyễn Quang H, sinh ngày 11/11/2010 cho anh Nguyễn Văn T là người trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục cho đến khi đủ 18 tuổi hoặc đến khi có sự thay đổi khác theo quy định của pháp luật.
Sau khi ly hôn, chị Lý Hồng H không trực tiếp nuôi con có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở.
- Về án phí: Anh Nguyễn Văn T phải chịu 300.000₫ (Ba trăm nghìn đồng) án phí sơ thẩm, nhưng được trừ vào số tiền 300.000đ (Ba trăm nghìn đồng) tạm ứng án phí đã nộp theo biên lai số 0000219 ngày 29/11/2024 của Cục Thi hành án dân sự tỉnh Bắc Giang. Xác nhận anh Nguyễn Văn T đã nộp đủ án phí sơ thẩm.
- Về quyền kháng cáo bản án:
Anh Nguyễn Văn T có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày bản án được tống đạt hợp lệ hoặc kể từ ngày bản án được niêm yết hợp lệ theo quy định của pháp luật.
Chị Lý Hồng H có quyền kháng cáo trong thời hạn 01 tháng, kể từ ngày bản án được tống đạt hợp lệ hoặc kể từ ngày bản án được niêm yết hợp lệ theo quy định của pháp luật.
Nơi nhận:
| TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN-CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Trung Thông |
Bản án số 170/2025/HNGĐ-ST ngày 23/06/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BẮC GIANG về ly hôn, tranh chấp nuôi con
- Số bản án: 170/2025/HNGĐ-ST
- Quan hệ pháp luật: Ly hôn, tranh chấp nuôi con
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 23/06/2025
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BẮC GIANG
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Ban an HNGD giua anh Nguyen Van T va chi Ly Hong H
