Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

TỈNH LONG AN

Bản án số: 170/2025/DS-PT

Ngày: 03-3-2025

V/v tranh chấp hợp đồng vay tài sản.

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH LONG AN

- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Mỹ Hạnh

Các Thẩm phán: Ông Đặng Văn Những

Bà Trịnh Thị Phúc

- Thư ký phiên tòa: Ông Trần Võ Quang Huy - Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Long An.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Long An tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Kim Chung - Kiểm sát viên.

Vào các ngày 24 tháng 02 và ngày 03 tháng 3 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Long An mở phiên tòa xét xử phúc thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số: 713/2024/TLPT-DS ngày 05 tháng 12 năm 2024 về “Tranh chấp hợp đồng vay tài sản”.

Do Bản án dân sự sơ thẩm số: 106/2024/DS-ST ngày 29 tháng 8 năm 2024 của Tòa án nhân dân thành phố Tân An, tỉnh Long An bị kháng cáo.

Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số: 726/2025/QĐ-PT ngày 06 tháng 01 năm 2025, giữa các đương sự:

  1. Nguyên đơn: Bà Võ Thị R, sinh năm 1962.
  2. Địa chỉ: Ấp B, xã T, huyện C, tỉnh Tiền Giang

    Người đại diện hợp pháp theo ủy quyền của nguyên đơn: Ông Đoàn Kim T, sinh năm 1968.

    Địa chỉ: Số C Ấp B, xã B, huyện T, tỉnh Long An. (Theo văn bản ủy quyền ngày 24/4/2023).

  3. Bị đơn: Bà Trần Thị Mộng T1, sinh năm 1977.
  4. Địa chỉ: Số A, đường H N, Phường F, thành phố T, Long An.

    Người đại diện hợp pháp theo ủy quyền của nguyên đơn: Ông Vũ Khắc Đ, sinh năm 1977.

    Địa chỉ: Số C N, Phường C,thành phố T, tỉnh Long An. ( Theo văn bản ủy quyền ngày 13/6/2023).

  5. Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan:
  6. 3.1. Ông Lại Tuấn K, sinh năm 1983.

    Địa chỉ: Ấp D, xã L, huyện C, tỉnh Long An.

    3.2. Ông Võ Ngọc Đ1, sinh năm 1973.

    Địa chỉ: Số A đường H N, Phường F, thành phố T, Long An.

    3.3. Bà Nguyễn Thị Trúc P, sinh năm 1985.

    Địa chỉ: Ấp D, xã L, huyện C, tỉnh Long An.

- Người kháng cáo: Bà Trần Thị Mộng T1

(Ông Từ, ông Đ có mặt;

Các đương sự còn lại vắng mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Trong đơn khởi kiện ngày 05 tháng 5 năm 2023, và các lời khai tiếp theo trong quá trình tố tụng tại Tòa án nguyên đơn bà Võ Thị R do ông Đoàn Kim T đại diện trình bày:

Do có mối quan hệ làm ăn quen biết, bà R có cho bà T1 mượn tiền nhiều lần qua hình thức chuyển khoản. Tổng số tiền bà R chuyển khoản cho bà T1 từ ngày 22/11/2022 đến ngày 15/12/2022 là 10.040.500.000đồng. Sau đó bà T1 đã trả cho bà R số tiền 2.040.500.000 đòng.

Khi mượn tiền hai bên đã thỏa thuận bằng miệng từ một đến hai ngày kể từ ngày bà R chuyển tiền thì bà T1 sẽ trả lại tiền cho bà R.

Do không có tiền trả lại cho bà R đúng hạn nên ngày 18/12/2022 bà T1 viết giấy xác nhận có nợ bà R số tiền 8.000.000.000đ và bà T1 cam kết sẽ trả toàn bộ số tiền này cho bà R trong tháng 12/2022. Đến ngày 11/4/2023 bà R đến nhà bà T1 để yêu cầu bà T1 trả nợ, khi bà R đưa giấy nợ cho ông Võ Ngọc Đ1 (chồng bà T1) xem thì ông Đ1 xé giấy nợ rách làm nhiều mảnh, bà R lấy lại giấy nợ lại và đi ép nhựa. Giấy nợ này trước kia bà R có chụp 01 bản trong điện thoại của bà R và photo giữ lại.

Nay bà R khởi kiện yêu cầu bà T1 trả lại số tiền 8.000.000.000 đồng, không yêu cầu trả lãi.

Đối với 02 giấy nhận nợ số tiền 2.360.000.000 đồng ngày 16/02/2022 và 3.560.000.000 đồng ngày 16/3/2023 do ông Lại Tuấn K và vợ là bà Nguyễn Thị Trúc P xuất trình thì giấy nhận nợ này do ông K và bà P tự viết 02 giấy nhận lãi này, không có sự đồng ý của bà R nên bà R không đồng ý. Việc ông K và bà P ký hợp đồng ủy quyền ngày 13/12/2023 các thửa đất tại xã P, huyện C cho ông K là để đảm bảo 01 khoản vay khác của cá nhân ông K vay bà R. Bà R đã khởi kiện khoản vay này tại Tòa án nhân dân huyện Cần Đước, tỉnh Long An và đã được giải quyết xong bằng quyết định công nhận sự thỏa thuận giữa các đương sự.

Bị đơn bà Trần Thị Mộng T1 do ông Vũ Khắc Đ đại diện trình bày:

Do bà T1 có quen và biết bà Võ Thị R chuyên cho vay tiền làm ăn nên bà T1 có giới thiệu bà R cho ông Lại Tuấn K để vay tiền, phía bà R dự kiến cho ông K vay số tiền 15.000.000.000 đồng. Bà R cho vay tiền với lãi suất 6.000đồng/1.000.000 đồng nợ gốc/1 ngày.

Sau khi thống nhất cho ông K vay tiền thì bà R yêu cầu phía ông K thực hiện việc ủy quyền tài sản cho bà R là quyền sử dụng đất để làm tin trong việc trả nợ gồm các thửa đất số 280, 350, 234, 279, 275, 276, 338, 342, 343, 277, 346, 351, 273, cùng tờ bản đồ số 06, tổng diện tích là 22.643m² vị trí tại xã P, huyện C, tỉnh Long An theo hợp đồng ủy quyền công chứng số 10566, quyển số 12/2022TP/CC-SCC/HĐGD ngày 13/12/2022 tại Văn phòng C.

Sau khi ký xong hợp đồng ủy quyền bà R chuyển khoản cho bà T1 số tiền 8.000.000.000 đồng và buộc bà T1 viết giấy nhận nợ ngày 18/12/2022 (do lúc đó bà R chưa tin tưởng ông K) bà R có hứa trả tiền môi giới cho bà T1 1.000 đồng/1.000.000 đồng nợ gốc/1 ngày. (Số tiền này bà R hứa nhưng bà T1 chưa nhận được) phần tiền bà R chuyển khoản cho bà T1 là 8.000.000.000 đồng bà T1 đã giao đủ cho ông K dưới sự đồng ý của bà R.

Ngày 16/02/2023 đến ngày trả lãi, bà R lấy xe chở bà T1 lên nhà ông K để viết giấy tính lãi lần 1, bằng hình thức “Giấy nhận nợ” với số tiền là 2.360.000.000 đồng (do ông K không có tiền trả lãi) giấy tính lãi này bà R chỉ tính 5.000 đồng/1.000.000 đồng nợ gốc/1 ngày (không có tính 1.000 đồng/1.000.000 đồng tiền môi giới cho bà T1). Ngày 16/3/2023, ông K không có tiền trả lãi cho bà R, bà R lại lấy xe chở bà T1 lên nhà ông K để viết giấy tính lãi lần 2, bằng hình thức “Giấy nhận nợ” với số tiền là 3.560.000.000 đồng (khoản lãi này có cộng dồn của lãi tháng 3 là 1.200.000.000 đồng + giấy tính lãi lần 1 là 2.360.000.000 đồng = 3.560.000.000 đồng), giấy tính lãi này bà R chỉ tính 5.000 đồng/1.000.000 đồng nợ gốc/1 ngày.

Ngày 11/4/2023, bà R đến nhà bà T1 để yêu cầu chồng bà T1 là ông Võ Ngọc Đ1 ký vào giấy nhận nợ ngày 18/12/2022, ông Đ1 không đồng ý và có gọi ông K đến nhà. Sau khi ông K gặp bà R thì ông K nhận đây là khoản nợ của ông K, không liên quan gì đến bà T1 và ông Đ1. Ông K đồng ý viết giấy nhận nợ với bà R là ông K sẽ nhận toàn bộ khoản nợ 8.000.000.000 đồng. Sau khi thỏa thuận xong nên ông Đ1 có xé giấy nợ do bà T1 ký tên ngày 18/12/2022 để tránh phiền phức cho gia đình vợ chồng bà T1 về sau.

Tại nhà bà T1, ông K viết giấy nhận nợ với bà R thì bà R không đồng ý hẹn qua ngày hôm sau sẽ lên nhà ông K lúc đó có vợ ông K cùng ký tên thì bà R mới đồng ý. Bà R tự gom giấy nợ đã xé bỏ vào giỏ xách giữ lấy và ra về.

Việc thỏa thuận làm ăn trên giữa bà T1 với bà R, ông K cả 03 người đều biết và thống nhất. Nay do tình hình kinh tế khó khăn nên có sự chậm trễ trong việc trả nợ gốc và lãi giữa ông K với bà R nên bà R khởi kiện bà T1 bằng giấy nợ đã xé, số tiền bà R chuyển khoản cho bà T1, bà T1 đã đưa hết cho ông K và ông K đã nhận nợ với bà R. Bà T1 chưa nhận được khoản tiền môi giới nào từ bà R. Bà R có thể khởi kiện xử lý tài sản do ông K thế chấp (bằng hình thức ủy quyền toàn phần qua tên bà R) để thu hồi nợ. Nay bà T1 không đồng ý trả số tiền 8.000.000.000₫ theo yêu cầu của bà R.

Trong quá trình tố tụng người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan ông Lại Tuấn K trình bày:

Ông và bà T1 có mối quan hệ làm ăn mua bán bất động sản, trước đó ông không biết bà R. Do cần tiền làm ăn nên bà T1 có giới thiệu bà R để cho ông vay vốn. Bà R do không biết ông nên yêu cầu bà T1 ký giấy mượn tiền vay của bà R số tiền 8.000.000.000 đồng. Sau khi nhận tiền từ bà R, bà T1 đã đưa toàn bộ số tiền vay 8.000.000.000 đồng này cho ông K.

Bà R tính lãi 18%/ tháng. Ngày 16/02/2023 bà R và chị T1 đến nhà ông tính lãi số tiền 2.360.000.000đồng, ông K viết biên nhận nợ số lãi này cho bà R. Đến ngày 16/3/2023 bà R và bà T1 đến nhà ông K tính tiếp số tiền lãi là 3.560.000.000₫ số tiền này là dồn lãi của lần 1 ngày 16/02/2023 và ông K cũng nhận số tiền lãi này bằng giấy nhận nợ. Do không có tiền trả số tiền lãi trên khoản vay 8 tỷ của bà T1 nên ông viết giấy nhận nợ ngày 16/02/2023 và 16/3/2023.

Ngày 11/4/2023 tại nhà bà T1, ông K, bà T1, bà R thống nhất bà T1 mượn nợ dùm ông và ông là người có trách nhiệm trả nợ cho bà R. Bà T1 hẹn đến nhà ông K để vợ chồng ông K viết lại giấy nợ cho bà T1. Sau khi thống nhất thì ông Đ1 (chồng bà T1) xé giấy nợ. Tuy nhiên sau đó bà R không lên nhà ông viết lại giấy nợ mà lấy giấy nợ ngày 18/12/2022 để khởi kiện bà T1.

Trước khi bà T1 ký giấy vay ngày 18/12/2022, ngày 13/12/2022 ông K đã ủy quyền 13 thửa đất ở C của ông cho bà R. Các thửa đất này đang thế chấp ở Ngân hàng Đ2 và bà R cũng biết sự việc này. Nội dung ủy quyền là bà R có trách nhiệm tất toán khoản vay ở Ngân hàng và lấy tất cả giấy đất ra thực hiện theo hợp đồng ủy quyền.

Việc ông K ký hợp đồng ủy quyền các thửa đất ở huyện C với bà R để bà R cho ông K vay số tiền 8.000.000.000 đồng. Ông K thừa nhận có vay tiền bà R thông qua bà T1 và bà T1 là người ký nhận vay số tiền 8.000.000.000 đồng của bà R. Nay ông K xin nhận nghĩa vụ trả số tiền 8.000.000.000 đồng cho bà R thay cho bà T1.

Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan ông Võ Ngọc Đ1 trình bày:

Ông là chồng của bà Trần Thị Mộng T1. Năm 2023 ông có nghe ông Lại Tuấn K nói với bà T1 nhờ bà T1 làm trung gian cho ông K vay bà Võ Thị R số tiền 8.000.000.000 đồng. Ngày 11/4/2023 bà R đến nhà ông để yêu cầu ông ký vào giấy nhận nợ ngày 18/12/2022 ông không đồng ý vì đây là khoản tiền bà R đưa cho bà T1 để bà T1 giao cho ông K. Ông có gọi điện thoại cho ông K đến nhà ông để ba bên gặp mặt, khi ông K gặp bà R thì ông K nhận đây là khoản nợ của ông K mượn thông qua sự giới thiệu đưa tiền của bà T1, không liên quan gì đến vợ chồng ông.

Ông K cùng bà R thống nhất viết giấy nhận nợ giữa ông K với bà R nội dung là ông K sẽ nhận toàn bộ khoản nợ 8.000.000.000 đồng. Tại nhà ông, ông K viết giấy nhận nợ nhưng bà R không đồng ý và hẹn qua ngày hôm sau sẽ lên nhà ông K, lúc đó có vợ ông K cùng ký tên vào giấy nhận nợ thì bà R mới đồng ý. Từ đó đến nay ông không có thông tin gì về việc ông K có viết giấy nợ bà R chưa.

Việc bà R đòi tiền bà T1 không liên quan đến ông, khoản tiền mà bà R cho rằng đã cho bà T1 mượn ông không biết và bà T1 cũng không có đem số tiền này phục vụ chung cho gia đình.

Trong quá trình tố tụng người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan bà Nguyễn Thị Trúc P vắng mặt nên không có lời khai.

Quá trình tố tụng, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan ông Lại Tuấn K, bà Nguyễn Thị Trúc P và ông Võ Ngọc Đ1 đã được Tòa án tống đạt hợp lệ các Thông báo thụ lý, Thông báo về phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận công khai chứng cứ và hòa giải nhưng vắng mặt. Vụ án không tiến hành hòa giải được và được đưa ra xét xử theo thủ tục chung.

Tại Bản án dân sự sơ thẩm số: 106/2024/DS-ST ngày 29 tháng 8 năm 2024 của Tòa án nhân dân thành phố Tân An, tỉnh Long An đã căn cứ Điều 26, Điều 35, Điều 39, Điều 147, Điều 227, Điều 228, Điều 271 và Điều 273 Bộ luật Tố tụng dân sự; Áp dụng các Điều 370, Điều 463, Điều 466, Điều 468 và Điều 470 Bộ luật dân sự năm 2015; Điều 26 Nghị quyết 326/26/UBTVQH14 ngày 30/12/2016;

Tuyên xử:

  1. Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của bà Võ Thị R đối với bà Trần Thị Mộng T1
  2. Buộc bà Trần Thị Mộng T1 có nghĩa vụ trả cho bà Võ Thị R số tiền 8.000.000.000 đồng (tám tỷ đồng).

  3. Về nghĩa vụ chậm thi hành án: Kể từ ngày bản án, quyết định có hiệu lực pháp luật (đối với các trường hợp cơ quan thi hành án có quyền chủ động ra quyết định thi hành án) hoặc kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án (đối với các khoản tiền phải trả cho người được thi hành án) cho đến khi thi hành xong tất cả các khoản tiền, hàng tháng bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại Điều 357, Điều 468 Bộ luật Dân sự năm 2015.
  4. Về án phí: bà Trần Thị Mộng T1 chịu 116.000.000 đồng (một trăm mười sáu triệu đồng) án phí dân sự sơ thẩm.

Ngoài ra, bản án sơ thẩm còn tuyên về quyền kháng cáo, quyền yêu cầu thi hành án, nghĩa vụ thi hành án và thời hiệu thi hành án theo Luật Thi hành án dân sự.

Ngày 11/9/2024, bà Trần Thị Mộng T1 kháng cáo toàn bản án dân sự sơ thẩm, yêu cầu Tòa án cấp phúc thẩm sửa bản án dân sự sơ thẩm theo hướng buộc ông Lại Tuấn K có nghĩa vụ trả cho bà Võ Thị R số tiền 8.000.000.000 đồng.

Tại phiên tòa phúc thẩm,

Nguyên đơn vẫn giữ nguyên yêu cầu khởi kiện, người kháng cáo không rút yêu cầu kháng cáo, các đương sự không thỏa thuận được với nhau về việc giải quyết vụ án, không cung cấp, nộp thêm tài liệu, chứng cứ mới và vẫn giữ nguyên ý kiến như đã trình bày ở cấp sơ thẩm.

Ông Đoàn Kim T trình bày: Bà R cho bà T1 vay số tiền 8.000.000.000 đồng, chuyển khoản cho bà T1, không có việc bà R cho ông K vay số tiền trên mà để bà T1 ký giấy nhận nợ. Số tiền bà R cho ông K vay là khoản tiền khác, bà R đã khởi kiện ông K tại Tòa án nhân dân huyện Cần Đước, tỉnh Long An và giải quyết xong. Do đó, đề nghị Hội đồng xét xử giữ nguyên bản án dân sự sơ thẩm.

Ông Vũ Khắc Đ trình bày: Quá trình làm ăn giữa bà R, bà T1 và ông K rất nhiều lần, cả ba đều biết bà T1 đứng ra để bà R cho ông K vay số tiền 8.000.000.000 đồng, bà T1 có nhận lãi 1.000 đồng/1.000.000 đồng, bà R cho ông K vay nên ông K có ủy quyền cho bà R được quyền định đoạt đối với các tài sản của ông K. Bà T1 không có tài sản gì nên việc bà R cho bà T1 vay số tiền lớn là không phù hợp. Đề nghị chấp nhận kháng cáo của bà T1, buộc ông K phải có nghĩa vụ trả cho bà R số tiền 8.000.000.000 đồng.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Long An tham gia phiên tòa phát biểu:

Ý kiến về việc tuân theo pháp luật tố tụng: Kể từ khi thụ lý vụ án cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử phúc thẩm nghị án, Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa, thành viên Hội đồng xét xử phúc thẩm, Thư ký phiên tòa tuân thủ đúng các quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015. Những người tham gia tố tụng thực hiện đầy đủ các quyền và nghĩa vụ theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015.

- Quan điểm giải quyết vụ án:

Ngày 11/09/2024, bà Trần Thị Mộng T1 kháng cáo Bản án dân sự sơ thẩm số 106/2024/DS-ST ngày 29/08/2024 của Toà án nhân dân thành phố Tân An. yêu cầu Tòa án xét xử theo hướng chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà Võ Thị R buộc ông Lại Tuấn K là người nhận tiền của bà R có nghĩa vụ trả tiền cho bà R.

Bà T1 yêu cầu cấp phúc thẩm xem xét buộc ông K là người nhận tiền của bà R và ông K có nghĩa vụ trả 8.000.000.000 đồng cho bà R. Căn cứ vào tài liệu và lời trình bày các đương sự thể hiện bà T1 có vay của bà R 8.000.000.000 đồng, phía dưới cuối tờ giấy vay có chữ ký và dấu lăn tay của bà T1, bản thân bà T1 thừa nhận có nhận 8.000.000.000 đồng của bà R thông qua chuyển khoản. Nên án sơ thẩm buộc bà T1 trả cho bà R 8.000.000.000 đồng là có căn cứ.

Nay bà T1 cũng như ông K đều thống nhất để ông K trả 8.000.000.000 đồng cho bà R nhưng bà R không đồng ý, bà R chỉ yêu cầu bà T1 trả 8.000.000.000 đồng, còn việc ông K có đồng ý trả thì ông K trả cho bà T1, bà R chỉ biết bà T1 vay của bà, có ký giấy nợ với bà và bà cũng đã chuyển khoản vào tài khoản của bà T1 nên bà không đồng ý việc chuyển giao người trả nợ như ý kiến của bà T1. Thấy rằng chủ nợ là bà R không đồng ý nên kháng cáo của bà T1 không có căn cứ chấp nhận.

Đề nghị Hội đồng xét xử: Căn cứ khoản 1 Điều 308 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015 năm 2015 Giữ nguyên bản án sơ thẩm.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ, vụ án được thẩm tra tại phiên tòa, căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên tòa, ý kiến và quan điểm của Kiểm sát viên, Hội đồng xét xử phúc thẩm xét thấy:

[1] Về thủ tục tố tụng: Đơn kháng cáo của bà Trần Thị Mộng T1 thực hiện đúng về hình thức, nội dung và thời hạn theo quy định tại các Điều 272, 273 của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015 nên vụ án được xem xét giải quyết theo thủ tục phúc thẩm.

[2] Về thủ tục xét xử vắng mặt người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Ông Lại Tuấn K, bà Nguyễn Thị Trúc P đã được Tòa án triệu tập hợp lệ nhưng vắng mặt không có lý do. Ông Võ Ngọc Đ1 đã được Tòa án triệu tập hợp lệ nhưng có đơn xin xét xử vắng mặt. Căn cứ Điều 296 Bộ luật tố tụng dân sự Tòa án tiến hành xét xử vắng mặt những người này.

[3] Xét kháng cáo của bà Trần Thị Mộng T1, thấy rằng:

[3.1] Trong quá trình giải quyết vụ án, bị đơn bà Trần Thị Mộng T1 và người đại diện theo ủy quyền của bị đơn xác định giấy vay tiền ngày 18/12/2022, số tiền 8.000.000.000 đồng do bà Trần Thị Mộng T1 ký tên và lăn tay nhưng trên thực tế ông Lại Tuấn K vay của bà R nên ông K phải có nghĩa vụ trả số nợ trên cho nguyên đơn.

Ông Lại Tuấn K cho rằng thông qua bà Trần Thị Mộng T1, bà T1 có làm trung gian cho ông vay số tiền 8.000.000.000 đồng của bà R. Bà R không biết và không tin tưởng ông K nên yêu cầu bà T1 ký giấy mượn tiền vào ngày 18/12/2022, ông có nhận số tiền 8.000.000.000 đồng do bà T1 giao, nay ông đồng ý trả số tiền 8.000.000.000 đồng theo yêu cầu khởi kiện của bà R đối với bà T1.

Nguyên đơn bà Võ Thị R do ông Đoàn Kim T đại diện yêu cầu bà Trần Thị Mộng T1 có nghĩa vụ trả cho bà R số tiền 8.000.000.000 đồng vì bà T1 là người trực tiếp ký giấy vay tiền và nhận tiền của bà R, bà R hoàn toàn không cho ông Tuấn K vay nên không đồng ý việc bà T1 chuyển giao nghĩa vụ trả nợ cho ông Tuấn K.

[3.2] Xét thấy: Theo giấy mượn tiền ngày ngày 18/12/2022, nội dung thể hiện bà Trần Thị Mộng T1 có vay của bà Võ Thị R số tiền 8.000.000.000 đồng, phía dưới cuối tờ vay có chữ ký và lăn tay của bà Trần Thị Mộng T1. Bà T1 thừa nhận có nhận số tiền 8.000.000.000 đồng của bà R, thông qua hình thức chuyển khoản.

Bà Trần Thị Mộng T1 và ông Lại Tuấn K xác định ông Lại Tuấn K là người vay số tiền 8.000.000.000 đồng của bà Võ Thị R nhưng không xuất trình được tài liệu, chứng cứ chứng minh trong khi bà R xuất trình được chứng cứ là giấy mượn tiền của bà T1 vào ngày 18/12/2022, bà T1 đã thừa nhận chữ ký trong giấy vay là của bà T1.

Ông Vũ Khắc Đ đại diện cho bà T1 cho rằng ngày 11/4/2023 giữa bà R, bà T1 và ông K có sự thỏa thuận về việc ông K là người trực tiếp vay tiền và có nghĩa vụ trả nợ cho bà R, nhưng không cung cấp được tài liệu chứng cứ gì chứng minh, bà R không thừa nhận có sự thỏa thuận này.

Ông K và bà T1 cho rằng ông K là người vay số tiền 8.000.000.000 đồng của bà R, do không trả lãi đúng hạn nên vào ngày 16/02/2023 và ngày 16/3/2023 ông K viết hai giấy nợ lãi bằng hình thức “giấy nhận nợ” số tiền là là 2.360.000.000 đồng và 3.560.000.000 đồng và ngày 13/12/2022 ông K đã ký hợp đồng ủy quyền tài sản là quyền sử dụng đất tại các thửa số 280, 350, 234, 279, 275, 276, 338, 342, 343, 277, 346, 351, 273 tọa lạc tại xã P, huyện C, tỉnh Long An để đảm bảo số nợ vay trên của ông K đối với bà R. Bà R không thừa nhận và cho rằng hợp đồng ủy quyền các thửa đất trên giữa bà R và ông K là để đảm bảo các khoản nợ khác, không có việc ông K vay số tiền 8.000.000.000 đồng của bà R, bà R chỉ giao dịch với bà T1.

Thấy rằng: Nội dung giấy vay ngày 16/02/2022 với số tiền 2.360.000.000 đồng và số tiền 3.560.000.000 đồng vào ngày 16/3/2023 do ông K, bà P viết (không có chữ ký xác nhận của bà R) thể hiện ông K, bà P có nợ tiền bà R, hoàn toàn không thể hiện là số nợ lãi của số tiền vay 8.000.000.000 đồng và hợp đồng ủy quyền ngày 13/12/2022 giữa ông K và bà R là để đảm bảo cho khoản nợ khác của ông K vay của bà R đã được Tòa án nhân dân huyện Cần Đước, tỉnh Long An giải quyết xong bằng quyết định công nhận sự thỏa thuận giữa các đương sự ngày 31/10/2023, theo đó ông K và bà P có nghĩa vụ trả cho ông K số tiền 5.000.000.000 đồng và tiền lãi. Do đó, chứng cứ này không có cơ sở để chứng minh ông K trực tiếp vay số tiền 8.000.000.000 đồng của bà R để buộc ông K thực hiện nghĩa vụ trả nợ đối với bà R.

Tại giấy vay nợ ngày 18/12/2022, không ghi kỳ hạn vay, không ghi lãi nhưng nguyên đơn, bị đơn thừa nhận vay có thỏa thuận kỳ hạn và có lãi bên ngoài nên có cơ sở xác định hợp đồng vay giữa bà R và bà T1 có kỳ hạn và có lãi theo khoản 2 Điều 470 Bộ luật dân sự năm 2015.

Sau khi vay, đến nay bà T1 không thực hiện nghĩa vụ trả nợ theo yêu cầu của bà R mặc dù bà R đã yêu cầu nhiều lần.

Trong quá trình tố tụng, ông K đồng ý thực hiện nghĩa vụ trả số tiền 8.000.000.000 đồng thay cho bà T1 nhưng bà R không đồng ý việc chuyển giao nghĩa vụ trả nợ từ bà R sang cho ông K nên không chấp nhận yêu cầu của bà T1 và ông K theo quy định tại Điều 370 Bộ luật dân sự năm 2015.

Do bà T1 vi phạm nghĩa vụ trả nợ trong hợp đồng vay tài sản nên yêu cầu khởi kiện của bà R là có căn cứ, Tòa án cấp sơ thẩm buộc bà T1 có nghĩa vụ trả cho bà R số nợ vay vay là 8.000.000.000 đồng theo quy định tại các Điều 463, 466 Bộ luật Dân sự năm 2015 là có căn cứ.

[3.3] Quan hệ giao nhận tiền giữa bà Trần Thị Mộng T1 và ông Lại Tuấn K là quan hệ khác. Bà T1 được quyền khởi kiện ông Lại Tuấn K tại Tòa án có thẩm quyền để yêu cầu ông K trả số tiền 8.000.000.000 đồng trong vụ án khác theo quy định pháp luật.

[4] Từ phân tích trên thấy rằng, bà Trần Thị Mộng T1 kháng cáo nhưng không cung cấp được tài liệu, chứng cứ gì mới nên Hội đồng xét xử không chấp nhận kháng cáo của bà T1.

[5] Xét đề nghị của đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Long An phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử nên chấp nhận.

[6] Về án phí dân sự sơ thẩm: Bà T1 chịu 116.000.000 đồng án phí dân sự sơ thẩm theo quy định tại Điều 147 của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015; Điều 26 Nghị quyết 326/26/UBTVQH14 ngày 30/12/2016.

Do bà Võ Thị R là người cao tuổi nên được miễn nộp tạm ứng án phí nên không hoàn tạm ứng án phí cho bà R.

[7] Về án phí dân sự phúc thẩm: Do kháng cáo của bà Trần Thị Mộng T1 không được chấp nhận nên phải chịu án phí dân sự phúc thẩm theo quy định.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ khoản 1 Điều 308 của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015.

Không chấp nhận kháng cáo của bà Trần Thị Mộng T1.

Giữ nguyên Bản án dân sự sơ thẩm số 106/2024/DS-ST ngày 29 tháng 8 năm 2024 của Tòa án nhân dân thành phố Tân An, tỉnh Long An.

Căn cứ Điều 26, Điều 35, Điều 39, Điều 147, Điều 227, Điều 228, Điều 271 và Điều 273 Bộ luật tố tụng dân sự; Các Điều 370, Điều 463, Điều 466, Điều 468 và Điều 470 Bộ luật dân sự năm 2015; Điều 26 Nghị quyết 326/26/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;

Tuyên xử:

  1. Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của bà Võ Thị R đối với bà Trần Thị Mộng T1
  2. Buộc bà Trần Thị Mộng T1 có nghĩa vụ trả cho bà Võ Thị R số tiền 8.000.000.000 đồng (tám tỷ đồng).

  3. Về nghĩa vụ chậm thi hành án: Kể từ ngày bản án, quyết định có hiệu lực pháp luật (đối với các trường hợp cơ quan thi hành án có quyền chủ động ra quyết định thi hành án) hoặc kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án (đối với các khoản tiền phải trả cho người được thi hành án) cho đến khi thi hành xong tất cả các khoản tiền, hàng tháng bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại Điều 357, Điều 468 Bộ luật Dân sự năm 2015.
  4. Về án phí dân sự sơ thẩm: Bà Trần Thị Mộng T1 chịu 116.000.000 đồng (một trăm mười sáu triệu đồng) án phí dân sự sơ thẩm.
  5. Về án phí dân sự phúc thẩm:
  6. Bà Trần Thị Mộng T1 phải chịu án phí dân sự phúc thẩm là 300.000 đồng được khấu trừ số tiền tạm ứng án phí đã nộp 300.000 đồng theo biên lai thu số 0000704 ngày 11/9/2024 của Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Tân An, tỉnh Long An.

  7. Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
  8. Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án./.

Nơi nhận:

  • - TANDCC tại TP. Hồ Chí Minh;
  • - VKSND tỉnh Long An;
  • - TAND thành phố Tân An;
  • - Chi cục THADS thành phố Tân An;
  • - Các đương sự;
  • - Lưu HS; AV./.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Nguyễn Thị Mỹ Hạnh

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 170/2025/DS-PT ngày 03/03/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH LONG AN về tranh chấp hợp đồng vay tài sản

  • Số bản án: 170/2025/DS-PT
  • Quan hệ pháp luật: tranh chấp hợp đồng vay tài sản
  • Cấp xét xử: Phúc thẩm
  • Ngày ban hành: 03/03/2025
  • Loại vụ/việc: Dân sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH LONG AN
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Tranh chấp hợp đồng vay tài sản
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger