|
TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN 5 CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH |
Độc lập – Tự do – Hạnh phúc |
|
Bản án số: 170/2024/HS-ST Ngày: 27-11-2024 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN 5 - THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán- Chủ tọa phiên tòa: Ông Lâm Thanh Tiền
Các hội thẩm nhân dân:
Bà Trần Nguyệt Mai
Ông Phạm Duy Bảo
Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Đình Tùng Lâm– Thư ký Tòa án nhân dân Quận 5, Thành phố Hồ Chí Minh.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Quận 5, Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Quang Đẩu - Kiểm sát viên.
Ngày 27 tháng 11 năm 2024, tại trụ sở Toà án nhân dân Quận 5, Thành phố Hồ Chí Minh xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 181/2024/TLST-HS ngày 01 tháng 11 năm 2024, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử sơ thẩm số: 189/2024/QĐXXST-HS ngày 14 tháng 11 năm 2024 đối với bị cáo:
Nguyễn Minh Hoàng L
sinh ngày 20 tháng 3 năm 1996 tại: Đắk Lắk; giới tính: NamNơi đăng ký hộ khẩu thường trú: Thôn T, xã E huyện K, tỉnh Đắk Lắk; Chỗ ở: Không nơi ở nhất định Nghề nghiệp: Không; Học vấn: 12/12; dân tộc: Kinh; quốc tịch: Việt Nam; con ông: Nguyễn Minh S; con bà: Bùi Thị M; Chưa có vợ, con; Tiền án, tiền sự: Không.
Bị cáo bị bắt tạm giữ, tạm giam từ ngày 12/4/2024 (có mặt tại phiên tòa).
Bị hại:
Bà Quách Hồng P, sinh năm 2002; Nơi cư trú: A T, phường C, Quận A, Thành phố Hồ Chí Minh (vắng mặt).
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án:
Ông Lê Hoàn N, sinh năm 1994; Nơi cư trú: 2 B, Phường B, quận B, Thành phố Hồ Chí Minh (vắng mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Vào khoảng 13 giờ 00 phút ngày 16/11/2023, Nguyễn Minh Hoàng L đi vào trường Đại học K tự nhiên với mục đích tìm tài sản sơ hở để trộm cắp. Khi đi lên lầu 3 của trường, L phát hiện có 01 balo của chị Quách Hồng P nằm sát cửa sổ trong phòng thí nghiệm, không có ai trông coi nên nảy sinh ý định chiếm đoạt, L đi vào, kiểm tra bên trong balo có 01 máy tính xách tay hiệu A, màu bạc. Sau đó, L lấy 01 máy tính xách tay và bỏ vào balo L đang đeo trên vai, rồi đi vòng ra sau lưng trường để tẩu thoát. Đến 13 giờ 15 phút cùng ngày, chị P quay lại phòng thí nghiệm thì phát hiện máy tính xách tay đã mất nên chị P đến Công an P1, Quận E trình báo. Sau khi chiếm đoạt tài sản của chị P, ngày 19/11/2023, L lên Facebook bán máy tính xách tay cho anh Lê H N với giá 4.200.000 đồng, anh N không biết đây là tài sản do L trộm cắp mà có. Đến khoảng 18 giờ 50 phút ngày 21/11/2023, L bị Công an phường T, Quận G và Công an Q mời về trụ sở làm việc, anh N đã giao nộp lại chiếc máy tính xách tay cho Cơ quan Điều tra. Vụ việc được chuyển đến Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an Q thụ lý giải quyết theo thẩm quyền.
Tại Cơ quan điều tra, Nguyễn Minh Hoàng L đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội như đã nêu trên.
Vật chứng vụ án: 01 (một) áo sơ mi màu vàng; 01 (một) áo khoác màu đen; 01 (một) ba lô màu đen; 01 (một) quần jean màu xanh; 01 (một) đôi dép màu trắng đen; 01 (một) điện thoại di động hiệu Nokia, màu xanh, số Imei: 356005086212932; 01 (một) điện thoại di động hiệu Vsmart màu đen, phía sau có ghi số CK2018112889 (điện thoại bị hư hỏng); 01 (một) máy tính Macbook Pro 13 2020 Touch Bar M1/8GB/256GB SSD màu bạc.
Tại bản kết luận định giá tài sản số: 10/KL-HĐĐGTS ngày 06/02/2024 của Hội đồng định giá tài sản thường xuyên tố tụng hình sự thuộc Ủy ban nhân dân Quận E, kết luận: Máy tình Macbook Pro 13 2020 Touch Bar M1/8GB/256GB SSD màu bạc, đã qua sử dụng, tỷ lệ mới 80% trị giá 15.000.000 đồng (mười lăm triệu đồng).
Về trách nhiệm dân sự: Bà Quách Hồng P đã nhận lại tài sản không yêu cầu bị cáo bồi thường. Ông Lê Hoàn N tự nguyện nộp lại tài sản và không có yêu cầu gì.
Bản cáo trạng số: 175/CT-VKSQ5 ngày 01/11/2024 của Viện kiểm sát nhân dân Quận 5, Thành phố Hồ Chí Minh đã truy tố bị cáo Nguyễn Minh Hoàng L về tội: “Trộm cắp tài sản” theo Khoản 1 Điều 173 Bộ luật hình sự năm 2015 (được sửa đổi, bổ sung năm 2017).
Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân Quận 5 giữ quyền công tố luận tội và tranh luận giữ nguyên quyết định truy tố bị cáo Nguyễn Minh Hoàng L về tội “Trộm cắp tài sản”. Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng Khoản 1 Điều 173; điểm i, s Khoản 1, Khoản 2 Điều 51; Điều 38; Điều 50 Bộ luật hình sự năm 2015 (được sửa đổi, bổ sung năm 2017), xử phạt bị cáo Nguyễn Minh Hoàng L với mức án từ 09 (chín) tháng đến 12 (mười hai) tháng tù; về vật chứng xử lý theo quy định pháp luật.
Bị cáo Nguyễn Minh Hoàng L không có ý kiến bào chữa, không tranh luận và nói lời nói sau cùng xin Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:
- Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an Q, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân Quận 5, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về các hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
- Tại phiên tòa công khai, bị cáo Nguyễn Minh Hoàng L đã thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội, lời khai của bị cáo phù hợp lời khai của bị hại, biên bản nhận dạng, biên bản thực nghiệm điều tra, biên bản đối chất và các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án. Hội đồng xét xử có đủ cơ sở kết luận, bị cáo Nguyễn Minh Hoàng L đã có hành vi lén lút đột nhập vào phòng thí nghiệm của Trường Đại học K để chiếm đoạt 01 (một) máy tính Macbook Pro 13 2020 Touch Bar màu bạc của bà Quách Hồng P trị giá 15.000.000 đồng (mười lăm triệu đồng). Do đó, hành vi của bị cáo L đã đủ yếu tố cấu thành tội “Trộm cắp tài sản”, tội phạm và hình phạt được quy định tại Khoản 1 Điều 173 Bộ luật hình sự năm 2015 (được sửa đổi, bổ sung năm 2017).
- Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo phạm tội không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.
- Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Tại Cơ quan điều tra và tại phiên tòa bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng; tìa sản đã thu hồi trả lại cho bị hại xem như chưa gây thiệt hại; nhân thân chưa có tiền án, tiền sự. Do đó, cần xem xét cho bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm h, i, s Khoản 1, Khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự năm 2015 (được sửa đổi, bổ sung năm 2017).
- Về hình phạt áp dụng đối với bị cáo: Căn cứ Điều 50 Bộ luật hình sự năm 2015 (được sửa đổi, bổ sung năm 2017). Hội đồng xét xử xét thấy cần phải buộc bị cáo chấp hành hình phạt tù một thời gian nhất định, để bị cáo có thể cải tạo thành người có ích cho xã hội.
- Về hình phạt bổ sung: Hội đồng xét xử xét thấy bị cáo có hoàn cảnh kinh tế khó khăn nên không xem xét áp dụng hình phạt bổ sung là hình phạt tiền đối với bị cáo.
- Viện kiểm sát nhân dân Quận 5, Thành phố Hồ Chí Minh truy tố để xét xử và đề nghị mức hình phạt đối với bị cáo là có cơ sở pháp luật, đúng người, đúng tội, không oan sai.
- Đối với Lê Hoàn N không biết bị cáo L trộm cắp mà có nên Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an Q không xem xét xử lý đối với ông Nghĩa L1 có căn cứ.
- Về xử lý vật chứng: 01 (một) áo sơ mi màu vàng; 01 (một) áo khoác màu đen; 01 (một) ba lô màu đen; 01 (một) quần jean màu xanh; 01 (một) đôi dép màu trắng đen là trang phục cá nhân của bị cáo và tại phiên tòa bị cáo không có yêu cầu nhận lại số trang phục nêu trên, Hội đồng xét xử xét thấy số trang phục nêu trên không còn giá trị sử dụng nên tịch thu tiêu hủy.
- Về trách nhiệm dân sự: Bà Quách Hồng P đã nhận lại tài sản không yêu cầu bị cáo bồi thường nên Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.
- Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định Điều 136 Bộ luật tố tụng Hình sự 2015 và Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội.
Xét bị cáo là người có năng lực hành vi, đủ khả năng nhận thức được việc làm của mình, biết được hành vi trộm cắp tài sản là vi phạm pháp luật nhưng bị cáo vẫn cố ý thực hiện hành vi.
Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm đến tài sản hợp pháp của người khác được pháp luật bảo vệ; gây mất trật tự xã hội ở địa phương. Do đó, cần phải có một mức án tương xứng với tính chất, mức độ hành vi phạm tội và nhân thân của bị cáo; nhằm mục đích giáo dục bị cáo, bên cạnh đó có tác dụng răn đe và phòng ngừa chung.
Xét 01 (một) điện thoại di động hiệu Nokia, màu xanh, số Imei: 356005086212932; 01 (một) điện thoại di động hiệu Vsmart màu đen, phía sau có ghi số CK2018112889 (điện thoại bị hư hỏng) là tài sản cá nhân của bị cáo không liên quan đến việc phạm tội nên Hội đồng xét xử trả lại cho bị cáo.
Xét 01 (một) máy tính Macbook Pro 13 2020 Touch Bar M1/8GB/256GB SSD màu bạc, Cơ quan Cảnh sát điều tra đã thu hồi trả lại cho bị hại nên Hội đồng xét xử không xem xét.
Ông Lê Hoàn N tự nguyện nộp lại tài sản và không có yêu cầu gì đối với bị cáo nên Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ Khoản 1 Điều 173; điểm h, i, s Khoản 1, Khoản 2 Điều 51; Điều 38; Điều 50 của Bộ luật Hình sự 2015 (được sửa đổi, bổ sung năm 2017).
Xử phạt bị cáo Nguyễn Minh Hoàng L 10 (mười) tháng tù về tội: “Trộm cắp tài sản”. Thời hạn tù tính từ ngày 12 tháng 4 năm 2024.
Căn cứ điểm c Khoản 2, điểm a Khoản 3 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015.
Tịch thu tiêu hủy:
01 (một) áo sơ mi màu vàng; 01 (một) áo khoác màu đen; 01 (một) ba lô màu đen; 01 (một) quần jean màu xanh; 01 (một) đôi dép màu trắng đen.
Trả lại cho bị cáo Nguyễn Minh Hoàng L:
01 (một) điện thoại di động hiệu Nokia, màu xanh, số Imei: 356005086212932; 01 (một) điện thoại di động hiệu Vsmart màu đen, phía sau có ghi số CK2018112889 (điện thoại bị hư hỏng).
(Theo Biên bản giao nhận vật chứng ngày 21/11/2024 tại Chi cục Thi hành án dân sự Quận 5, Thành phố Hồ Chí Minh).
Căn cứ Điều 136 Bộ luật tố tụng Hình sự 2015; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội; Luật phí và lệ phí.
Bị cáo chịu 200.000 đồng (hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.
Bị cáo được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Bị hại; Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án vắng mặt được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc niêm yết bản án.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Lâm Thanh Tiền |
Bản án số 170/2024/HS-ST ngày 27/11/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN 5 - THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH về trộm cắp tài sản (hình sự)
- Số bản án: 170/2024/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Trộm cắp tài sản (Hình sự)
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 27/11/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN 5 - THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Nguyễn Minh Hoàng L - Trộm cắp tài sản
