Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN CHÂU THÀNH

TỈNH TIỀN GIANG

Bản án số:170/2024/HS-ST

Ngày:20-11-2024.

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CHÂU THÀNH, TỈNH TIỀN GIANG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Hồ Thị Kim Hương

Các Hội thẩm nhân dân:

Ông Phan Văn Tư

Ông Lê Văn Minh

- Thư ký phiên tòa: Bà Bế Thị Huệ – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Châu Thành, tỉnh Tiền Giang.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Châu Thành, tỉnh Tiền Giang tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Ngọc T - Kiểm sát viên.

Ngày 20 tháng 11 năm 2024 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Châu Thành, tỉnh Tiền Giang xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số:150/2024/TLST-HS ngày 04 tháng 10 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số:166/2024/HSST-QĐ ngày 05 tháng 11 năm 2024 đối với bị cáo:

Nguyễn Duy L, sinh ngày 06 tháng 12 năm 1983 tại Tiền Giang; Giới tính: Nam; Nơi cư trú: Ấp T, xã K, huyện C, tỉnh Tiền Giang; Số căn cước công dân [...], cấp ngày 24/6/2022; Nghề nghiệp: Làm thuê; Trình độ học vấn: 9/12; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo:Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Nguyễn Văn Đ (đã chết) và bà Nguyễn Thị A; Vợ Trần Thị Quyền E (đã ly hôn), có 01 con chung; vợ Võ Ngọc T1 (đã ly hôn), có 01 con chung; Tiền án, tiền sự: Không; Bị cáo bị áp dụng biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú.

Bị cáo có mặt tại phiên tòa.

- Người tham gia tố tụng khác:

Người bị hại: Nguyễn Thị Minh T2, sinh năm 1986 (vắng mặt).

Trú tại: Ấp V, xã V, huyện C, tỉnh Tiền Giang.

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

  1. Nguyễn Ngọc T3, sinh năm 1990 (vắng mặt).

Trú tại: Ấp B, xã T, thành phố M, tỉnh Tiền Giang.

  1. Nguyễn Quốc T4, sinh năm 1983 (có mặt).

Trú tại: Ấp C, xã T, thành phố M, tỉnh Tiền Giang.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

* Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Vào ngày 20/4/2024 tại ấp T, xã K, huyện C, tỉnh Tiền Giang, bị cáo Nguyễn Duy L có hành vi mượn 01 xe mô tô hai bánh biển số 60N7-4099 và 01 điện thoại hiệu Samsung Galaxy A14 của chị Nguyễn Thị Minh T2 rồi nảy sinh ý định chiếm đoạt tài sản, bị cáo đã cầm cố xe và điện thoại của chị T2 để lấy tiền tiêu xài cá nhân. Tài sản mà bị cáo chiếm đoạt có tổng giá trị là 5.000.000 đồng.

* Tại Bản kết luận định giá tài sản số 55/KL-HĐĐG ngày 24/5/2024 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự huyện C, tỉnh Tiền Giang, kết luận:

- Giá trị thiệt hại xe mô tô kiểu dáng Wave, màu sơn đen, biển số 60N7-4099, số máy: VDGZS152FMHWT00003739, số khung: RNDWCHOND61V03739 vào ngày 20/4/2024 là 2.500.000 đồng.

- Giá trị thiệt hại điện thoại di động hiệu Sasung Galaxy A14 màu đen, có gắn ốp lưng màu hồng, số Imei1: 357865260144865, số Imei2: 358164360144861 vào ngày 20/4/2024 là 2.500.000 đồng.

* Vật chứng thu giữ, xử lý:

- 01 xe mô tô hai bánh kiểu dáng Wave, màu sơn đen, biển số 60N7-4099, số máy: VDGZS152FMHWT00003739, số khung: RNDWCH0ND61V03739. Qua xác minh xe do Nguyễn Thăng L1, sinh năm 1963, nơi thường trú: Ấp F, xã S, huyện C, tỉnh Đồng Nai đứng tên giấy chứng nhận đăng ký xe. Năm 2014, bà Nguyễn Thị T5, tên thường gọi: Bé Ba, sinh năm 1963, nơi thường trú: ấp L, xã B, huyện C, tỉnh Tiền Giang mua lại xe trên của người khác (không rõ họ tên, địa chỉ), sau đó bà T5 bán lại cho chị T2 nhưng không làm giấy tờ mua bán, không làm thủ tục sang tên, đổi chủ. Hiện L1 không có mặt tại địa phương nên Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện C tiếp tục tạm giữ xe để xác minh, xử lý sau.

- 01 điện thoại di động hiệu Sasung Galaxy A14 màu đen, có gắn ốp lưng màu hồng, số Imeil: 357865260144865, số I: 358164360144861. Đây là tài sản của chị Nguyễn Thị Minh T2 nên Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện C đã giao trả lại cho chị T2.

- 02 biên nhận của cửa hàng “Quốc Thành M”, tên khách hàng: L1, model: SSA14, giá: 1.300.000 đồng, ngày 20/4/2024. Kèm theo hồ sơ vụ án.

* Về trách nhiệm dân sự: Bị hại Nguyễn Thị Minh T2 đã nhận lại tài sản bị chiếm đoạt, anh Nguyễn Quốc T4, Nguyễn Ngọc T3 đã nhận lại số tiền cầm cố điện thoại và xe của Nguyễn Duy L, không yêu cầu bồi thường gì thêm.

* Tại bản cáo trạng số 151/CT-VKSCT ngày 04/10/2024 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Châu Thành, tỉnh Tiền Giang đã truy tố bị cáo Nguyễn Duy L về tội “Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản” theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 175 Bộ luật Hình sự.

* Tại phiên tòa, bị cáo Nguyễn Duy L khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội như nội dung bản cáo trạng mà đại diện Viện kiểm sát công bố.

Trong phần tranh luận, Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Châu Thành, tỉnh Tiền Giang giữ nguyên quyết định truy tố bị cáo Nguyễn Duy L về tội “Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản” theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 175 Bộ luật Hình sự và phân tích tính chất, mức độ của hành vi phạm tội, tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cùng nhân thân bị cáo và đề nghị Hội đồng xét xử:

Tuyên bố bị cáo Nguyễn Duy L phạm tội “Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản”. Áp dụng điểm a khoản 1 Điều 175; Điều 32; Điều 38; Điều 50; Điểm b, i, s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự; Xử phạt bị cáo Nguyễn Duy L từ 06 tháng đến 09 tháng tù.

Bị cáo Nguyễn Duy L nói lời sau cùng: Bị cáo thừa nhận hành vi phạm tội, xin Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo, cho bị cáo được hưởng án treo.

NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ:

  1. [1] Về tố tụng: Hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện C, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Châu Thành, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hay khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện là hợp pháp.
  2. [2] Xét hành vi phạm tội của bị cáo: Tại phiên tòa bị cáo Nguyễn Duy L khai nhận, vào ngày 20/4/2024 tại ấp T, xã K, huyện C, tỉnh Tiền Giang, bị cáo đã có hành vi mượn 01 xe mô tô hai bánh biển số 60N7-4099 và 01 điện thoại hiệu Samsung Galaxy A14 của chị Nguyễn Thị Minh T2 rồi nảy sinh ý định chiếm đoạt, bị cáo đã đem xe và điện thoại đi cầm lấy tiền tiêu xài cá nhân, tổng giá trị tài sản chiếm đoạt theo kết luận định giá là 5.000.000đồng. Lời khai của bị cáo phù hợp với lời khai của người bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan và các chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án. Như vậy đã có đủ cơ sở kết luận bị cáo Nguyễn Duy L phạm tội “Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản” theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 175 Bộ luật Hình sự.
  3. [3] Về tính chất, mức độ của hành vi phạm tội, tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và nhân thân bị cáo:

Xét thấy, hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm đến quyền sở hữu của công dân được pháp luật bảo vệ. Tại thời điểm phạm tội bị cáo là người có đầy đủ khả năng nhận thức và điều khiển hành vi của mình. Bị cáo đã lợi dụng lòng tin của người bị hại để người bị hại giao tài sản cho bị cáo, sau khi nhận được tài sản, bị cáo không trả lại tài sản cho người bị hại như thoả thuận mà nảy sinh ý định chiếm đoạt tài sản, bị cáo đã cầm cố tài sản của bị hại để lấy tiền tiêu xài cá nhân là hành vi vi phạm pháp luật. Tại phiên toà bị cáo cho rằng bị cáo không biết hành vi của mình là vi phạm pháp luật điều này thể hiện bị cáo chưa nhận thức được hành vi sai trái của mình, chưa thể hiện sự ăn năn hối cải nên cần có mức hình phạt nghiêm khắc đối với bị cáo, cách ly bị cáo khỏi xã hội một thời gian để cải tạo, giáo dục bị cáo trở thành công dân có ích cho xã hội và để răn đe phòng ngừa chung. Tuy nhiên, xét thấy sau khi phạm tội bị cáo đã biết ăn năn hối cải, khai báo thành khẩn, bị cáo phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng và có tác động gia đình bồi thường thiệt hại là những tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm b, i, s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự, bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự. Về nhân thân, bị cáo có nhân thân tốt, chưa có tiền án tiền sự. Xét thấy, bị cáo có nhiều tình tiết giảm nhẹ quy định tại khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự nên Hội đồng xét xử căn cứ Điều 54 Bộ luật hình sự, quyết định áp dụng hình phạt dưới mức thấp nhất của khung hình phạt được áp dụng.

  1. [4] Về vật chứng:

Đối với 01 xe mô tô hai bánh kiểu dáng Wave, màu sơn đen, biển số 60N7-4099. Do chưa làm việc được với người đứng tên trên giấy đăng ký xe do người này không có mặt tại địa phương nên cần tiếp tục giao Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện C tạm giữ xe để xác minh, xử lý sau theo quy định pháp luật.

Đối với 01 điện thoại di động hiệu Sasung Galaxy A14 màu đen, có gắn ốp lưng màu hồng. Đây là tài sản của người bị hại chị Nguyễn Thị Minh T2 nên Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện C đã giao trả cho chị T2 là phù hợp.

Đối với 02 biên nhận của cửa hàng “Quốc Thành M” ngày 20/4/2024 là vật chứng được lưu kèm hồ sơ vụ án.

  1. [5] Về trách nhiệm dân sự: Bị hại Nguyễn Thị Minh T2 đã nhận lại tài sản bị chiếm đoạt, anh Nguyễn Quốc T4, Nguyễn Ngọc T3 đã nhận số tiền cầm cố điện thoại và xe, không yêu cầu gì thêm nên Hội đồng xét xử không xem xét.
  2. [6] Về án phí sơ thẩm: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định tại Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự; Điều 23 Nghị quyết về án phí, lệ phí Tòa án.
  3. [7] Xét đề nghị của đại diện Viện kiểm sát là có căn cứ, phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử, tuy nhiên về mức hình phạt có nghiêm khắc nên chấp nhận một phần.
  4. [8] Bị cáo, người bị hại và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan được quyền kháng cáo theo quy định pháp luật.
  5. [9] Đối với Nguyễn Quốc T4, Nguyễn Ngọc T3 có nhận cầm cố xe và điện thoại di động nhưng T4 và T3 không biết đây là tài sản do bị cáo phạm tội mà có nên Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện C, tỉnh Tiền Giang không truy cứu trách nhiệm hình sự về tội “Tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có” nên Hội đồng xét xử không xem xét.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

  1. Tuyên bố bị cáo Nguyễn Duy L phạm tội: “Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản”.

Áp dụng điểm a khoản 1 Điều 175; Điều 38; Điều 50; Điều 54; điểm b, i, s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự.

Xử phạt bị cáo Nguyễn Duy L 03 (ba) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày bị cáo bị bắt để chấp hành án.

  1. Về án phí: Áp dụng Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự; Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về án phí, lệ phí Tòa án.

Bị cáo phải chịu 200.000đồng án phí hình sự sơ thẩm.

  1. Về quyền kháng cáo:

Bị cáo, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có mặt tại phiên toà được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Riêng người bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt tại phiên toà được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết hợp lệ.

Nơi nhận:

  • - TAND tỉnh TG;
  • - VKSND tỉnh TG;
  • - VKSND huyện Châu Thành;
  • - Công an huyện Châu Thành;
  • - CC.THADS huyện Châu Thành;
  • - Những người tham gia tố tụng;
  • - Lưu hồ sơ vụ án.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Hồ Thị Kim Hương

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 170/2024/HS-ST ngày 20/11/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CHÂU THÀNH, TỈNH TIỀN GIANG về lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản

  • Số bản án: 170/2024/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 20/11/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CHÂU THÀNH, TỈNH TIỀN GIANG
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Nguyễn Duy L
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger