|
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH AN GIANG |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: 170/2024/HS-PT
Ngày 08 tháng 11 năm 2024
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH AN GIANG
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Huỳnh Thanh Tâm.
Các Thẩm phán: Bà Nguyễn Ngọc Giao và ông Nguyễn Phước Hưng.
- Thư ký phiên tòa: Bà Huỳnh Ngọc Loan, Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh An Giang.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh An Giang tham gia phiên tòa: Bà Lê Mai Huyền, Kiểm sát viên.
Ngày 08 tháng 11 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh An Giang xét xử phúc thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 286/2024/TLPT-HS ngày 17 tháng 10 năm 2024, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 260/2024/QĐXXPT-HS ngày 24 tháng 10 năm 2024, đối với bị cáo Lê Hoàng T (Ba Gạo), do có kháng cáo của bị cáo đối với Bản án hình sự sơ thẩm số 57/2024/HS-ST ngày 06 tháng 9 năm 2024 của Tòa án nhân dân huyện Châu Thành, tỉnh An Giang.
Bị cáo có kháng cáo:
Lê Hoàng T (B), sinh ngày 08/3/2005, tại tỉnh An Giang; nơi đăng ký thường trú và chỗ ở hiện nay: khóm H, thị trấn A, huyện C, tỉnh An Giang; nghề nghiệp: Sinh viên; trình độ văn hóa: 12/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Lê Minh N và bà Phan Như Bích N1; tiền án, tiền sự: Không; bị cáo được tại ngoại, có mặt tại phiên tòa.
Trong vụ án còn có các bị cáo: Trần Quốc H (H chó), sinh ngày 05/5/2007; Dưỡng Đường T, sinh ngày 03/5/2007; Huỳnh Quốc B (Bình bú), sinh ngày 21/10/2007; bị hại Nguyễn Thành S, sinh ngày 20/10/2008 và những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan. Do không có kháng cáo và không liên quan đến kháng cáo nên Tòa án không triệu tập.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Do có mâu thuẫn trên mạng xã hội Facebook với Hồ Ngọc K, khoảng 19 giờ ngày 22/10/2023, Trần Văn L điện thoại cho Huỳnh Quốc B là bạn của L để kể cho B nghe và kêu B cho L mượn 04 cây dao tự chế để L đến xã A, huyện C, tỉnh An Giang tìm nhóm Hồ Ngọc K chém trả thù. B đồng ý và kêu L đến cổng trước Khu Công nghiệp (thuộc xã B, huyện C, tỉnh An Giang) gặp B nhận hung khí. Sau đó, L tiếp tục điện thoại kể việc mâu thuẫn giữa L với nhóm của Hồ Ngọc K cho nhóm bạn của L gồm: Đỗ Anh K1, Nguyễn Trung T1, Lê Hoàng T (B), Trần Quốc H, Dưỡng Đường T, Nguyễn Minh T2, Lê Ngọc H1. L rủ cả nhóm cùng với L tìm chém nhóm Hồ Ngọc K, thì được cả nhóm đồng ý và cùng nhau tập trung tại nhà H (thuộc khóm H, thị trấn A, huyện C, tỉnh An Giang). Lúc này B điện thoại cho người thanh niên tên Lửa (không rõ họ tên, địa chỉ cụ thể) là bạn của B để mượn 04 cây dao tự chế để mang về cho nhóm L mượn, thì được L1 đồng ý và hẹn gặp ở khu vực ấp B, xã M, thành phố L, tỉnh An Giang. Sau đó, B điện thoại, mượn xe mô tô của B1 rồi điều khiển xe đến địa điểm đã hẹn, gặp L1 và nhận 04 cây dao tự chế đem về cổng trước Khu Công nghiệp và điện thoại kêu L lên lấy. L kêu T1 và K đến cổng trước khu Công nghiệp gặp B để lấy 04 cây dao tự chế rồi đem về nhà H. L kêu T1 phân phát hung khí cho T, K và H mỗi người 01 cây còn L lấy 01 cây; L phân công người cầm dao khi được L ra tính hiệu “nó kìa nó kìa” và cầm dao chỉ về nhóm nào thì chém nhóm đó cho L, ai không có hung khí thì có nhiệm vụ điều khiển xe chở người cầm hung khí, chém xong chở nhóm tẩu thoát và tất cả đồng ý.
Cả nhóm đi trên 04 xe mô tô, trong đó: T1 điều khiển xe mô tô biển số: 67D2 - 162.03 chở K; Đ điều khiển xe mô tô biển số: 67B1 - 958.59 chở L; T2 điều khiển xe mô tô biển số: 67H2 - 9754 chở H và H1 điều khiển xe mô tô biển số: 59L2 - 251.52 chở T; cả nhóm chạy trên quốc lộ I hướng L - C, phát hiện Hồ Ngọc K, Nguyễn Thành S và Nguyễn Danh L2 đang ngồi nói chuyện cặp quốc lộ I cách nhà Nguyễn Văn L3 (ông ngoại S) khoảng 05 mét (thuộc ấp B, xã A, huyện C, tỉnh An Giang), L la lên “nó kìa, nó kìa” và L cầm dao tự chế chỉ về hướng S, L2 và K đang ngồi. L, K, T và H xuống xe mỗi người cầm 01 cây dao tự chế rượt chém S, K và L2. K và L2 chạy thoát còn S bị L cầm dao tự chế chém 02 nhát trúng vào tay trái và chân phải gây thương tích, K cầm dao tự chế chém 02 nhát trúng vào tay phải của S gây thương tích, T cầm dao tự chế chém 03 nhát trúng vào trên gối chân phải, cổ chân trái và cổ chân phải của S gây thương tích. Sau khi gây thương tích cho S thì cả nhóm lên xe chạy tẩu thoát về nhà của H, tại đây T1 gom 04 cây dao tự chế đem cất giấu. Sau đó, B điều khiển xe mô tô biển số: 67B2 - 009.78 đến gặp T1 để lấy lại 04 cây dao tự chế và đem đến khu vực ấp B, xã M, thành phố L, tỉnh An Giang để trả lại cho L1. S được người nhà đưa đến Bệnh viện để điều trị thương tích.
Vật chứng thu giữ: Không.
Căn cứ kết luận giám định tổn thương cơ thể trên người sống số 847/23/KLTTCT-TTPY 28/12/2023 của Trung tâm pháp y – Sở Y tế tỉnh A, kết luận: Nguyễn Thành S, sinh năm: 2008, địa chỉ: ấp B, xã A, huyện C, tỉnh An Giang; kết luận:
1. Các kết quả chính:
- Sẹo mặt sau ngoài 1/3 dưới cánh tay phải, nằm xiên kích thước (3.5 x 0.5)cm, gây đứt bán phần gân cơ nhị đầu, bán phần gân cơ tam đầu cánh tay phải, tỷ lệ là 05% (không năm phần trăm). Gây mẻ 1/3 dưới xương cánh tay phải, tỷ lệ là 03% (không ba phần trăm). Tỷ lệ là 08% (không tám phần trăm).
- Sẹo mặt sau trong 1/3 trên cẳng tay phải, nằm xiên kích thước (7.5 x 0.6) cm, là sẹo có kích thước lớn tỷ lệ là 03% (không ba phần trăm).
- Sẹo mặt sau 1/3 trên đến 1/3 giữa cẳng tay trái, nằm xiên kích thước (10 x 0.7) cm, là sẹo có kích thước lớn tỷ lệ là 03% (không ba phần trăm).
- Sẹo mặt trước ngoài 1/3 dưới đùi phải đến mặt trước trong gối phải, nằm xiên kích thước (11 x 0.8) cm, là sẹo có kích thước lớn tỷ lệ là 03% (không ba phần trăm).
- Sẹo mặt trước ngoài gối phải, nằm xiên kích thước (6.5 x 0.6) cm, là sẹo có kích thước lớn tỷ lệ là 03% (không ba phần trăm).
- Sẹo mặt trước trong 1/3 giữa cẳng chân phải, nằm xiên kích thước (09 x 0.4) cm, là sẹo có kích thước trung bình tỷ lệ 02% (không hai phần trăm).
- Sẹo mặt trước trong 1/3 dưới cẳng chân trái, nằm ngang kích thước (07 x 0.3) cm, là sẹo có kích thước trung bình tỷ lệ là 02% (không hai phần trăm). Gây:
- + Đứt nhánh tĩnh mạch hiển lớn, đã khâu cột tĩnh mạch. Tỷ lệ là 3.5% (ba chấm năm phần trăm).
- + Gãy dạng đứt 1/3 dưới xương chày trái. Tỷ lệ là 03% (không ba phần trăm).
Tỷ lệ là 08% (không tám phần trăm).
- 2. Kết luận: Căn cứ Thông tư số 22/2019/TT-BYT ngày 28 tháng 8 năm 2019 của Bộ Y quy định tỷ lệ phần trăm tổn thương cơ thể sử dụng trong giám định pháp y, pháp y tâm thần.
Xác định tỷ lệ phần trăm tổn thương cơ thể do tất cả thương tích gây nên của Nguyễn Thành S, áp dụng phương pháp cộng theo thông tư tại thời điểm giám định là: 27% (hai mươi bảy phần trăm). Tất cả các thương tích trên do vật sắc gây nên.
Tại Bản án số 57/2024/HS-ST ngày 06 tháng 9 năm 2024 của Tòa án nhân dân huyện Châu Thành đã căn cứ điểm đ khoản 2 Điều 134, điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 17, Điều 38, Điều 58 Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo Lê Hoàng T 02 (hai) năm 06 (sáu) tháng tù; thời hạn tù được tính từ ngày bắt bị cáo chấp hành án.
Trong vụ án, Tòa án cấp sơ thẩm còn tuyên phạt bị cáo Huỳnh Quốc B 01 (một) năm 10 (mười) tháng tù; bị cáo D (một) năm 06 (sáu) tháng tù; bị cáo Trần Quốc H 01 (một) năm 06 (sáu) tháng tù, tổng hợp hình phạt 01 năm 10 tháng tù của Bản án hình sự sơ thẩm số 42/2024/HS-ST ngày 16/7/2024 của Tòa án nhân dân huyện Châu Thành, tỉnh An Giang, buộc bị cáo Trần Quốc H chấp hành hình phạt chung là 03 (ba) năm 04 (bốn) tháng tù về tội “Cố ý gây thương tích” theo điểm đ khoản 2 Điều 134 Bộ luật Hình sự;
Ngoài ra, bản án sơ thẩm còn tuyên về án phí hình sự sơ thẩm và quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.
Ngày 12/9/2024, bị cáo Lê Hoàng T có đơn kháng cáo xin được hưởng án treo.
Tại phiên tòa phúc thẩm, bị cáo T thay đổi yêu cầu kháng cáo, xin được giảm nhẹ hình phạt. Bị cáo trình bày hoàn cảnh bản thân đang là sinh viên trường đại học, nguyên nhân phạm tội do nghe lời rủ rê, lôi kéo của bạn bè cũ nên thiếu suy nghĩ tham gia chém gây thương tích cho bị hại.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh An Giang phát biểu quan điểm:
+ Về tính hợp pháp của đơn kháng cáo: Các bị cáo kháng cáo bản án hình sự sơ thẩm trong hạn luật định, về hình thức và nội dung kháng cáo phù hợp quy định pháp luật nên đề nghị Hội đồng xét xử phúc thẩm chấp nhận việc kháng cáo để xem xét, giải quyết theo trình tự phúc thẩm.
+ Về nội dung: Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm b khoản 1 Điều 355, Điều 357 Bộ luật Tố tụng hình sự; chấp nhận kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt của bị cáo; sửa bản án sơ thẩm, giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo từ 03 tháng đến 06 tháng; tuyên phạt bị cáo T từ 02 năm đến 02 năm 03 tháng tù về tội “Cố ý gây thương tích” theo điểm đ khoản 2 Điều 134 Bộ luật Hình sự.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về thủ tục tố tụng: các bị cáo Lê Hoàng T kháng cáo bản án hình sự sơ thẩm trong hạn luật định, về hình thức và nội dung kháng cáo phù hợp quy định tại các Điều 331, 332 và 333 Bộ luật Tố tụng hình sự nên được chấp nhận xem xét, giải quyết theo trình tự phúc thẩm.
[2] Về hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng: Quá trình điều tra, truy tố, xét xử sơ thẩm đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa sơ thẩm và phúc thẩm, bị cáo và người tham gia tố tụng không có ý kiến hoặc khiếu nại. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
[3] Về Nội dung:
Lời khai của bị cáo T tại phiên tòa phúc thẩm thừa nhận vào khoảng 19 giờ ngày 22/10/2023, bị cáo cùng với L, K, H đã sử dụng dao tự chế do B chuẩn bị chém gây thương tích cho bị hại Nguyễn Thành S tại khu vực ấp A, xã A, huyện C, tỉnh An Giang. Hậu quả là bị hại S bị thương tích nhiều nơi trên tay, chân.
Lời khai nhận tội của bị cáo T phù hợp với nội dung bản án sơ thẩm, phù hợp với kết quả điều tra thể hiện qua lời khai của các bị cáo Trần Quốc H, Dưỡng Đường T, Huỳnh Quốc B trong quá trình điều tra và tại cấp sơ thẩm, phù hợp với lời khai của bị hại, những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan, người làm chứng, kết quả giám định, khám nghiệm hiện trường và các tài liệu chứng cứ khác đã được thẩm tra tại phiên tòa. Từ đó, đủ căn cứ xác định, bị cáo Lê Hoàng T đã cùng với Trần Văn L, Đỗ Anh K1 dùng hung khí nguy hiểm là dao tự chế do L mượn của bị cáo Huỳnh Quốc B thực hiện hành vi chém ý gây thương tích cho bị hại Nguyễn Thành S (người dưới 16 tuổi) với tỷ lệ tổn thương cơ thể là 27%. Hành vi của bị cáo đã đủ yếu tố cấu thành tội “Cố ý gây thương tích" theo quy định tại điểm đ khoản 2 Điều 134 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017. Tòa án cấp sơ thẩm đã xét xử bị cáo T cùng các bị cáo H, Thanh Đ và B theo tội danh và khung hình phạt trên là có căn cứ.
Hành vi phạm tội của các bị cáo là nghiêm trọng, dùng hung khí nguy hiểm chém gây thương tích cho bị hại là người dưới 16 tuổi. Các bị cáo có sự chuẩn bị trước, do L là người khởi xướng, rủ rê các bị cáo tham gia thực hiện. Bị cáo T cùng với Đỗ Anh K1, Trần Văn L trực tiếp gây thương tích cho bị hại, chỉ vì mâu thuẫn nhỏ trên mạng xã hội. Hành vi phạm tội của các bị cáo có tính chất côn đồ, xem thường pháp luật. Tòa án cấp sơ thẩm đã xem xét nhân thân, áp dụng các tình tiết giảm nhẹ cho bị cáo T là thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, tác động gia đình bồi thường khắc phục hậu quả cho bị hại, được bị hại xin giảm nhẹ hình phạt, theo các điểm b, s khoản 1 Điều 51, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự. Mức hình phạt áp dụng đối với bị cáo T 02 năm 6 tháng tù là ở mức thấp của khung hình phạt. Sau khi xét xử sơ thẩm, bị cáo T kháng cáo xin được hưởng án treo, tuy nhiên, tại phiên tòa bị cáo thay đổi yêu cầu kháng cáo, xin giảm nhẹ hình phạt.
[4] Xét kháng cáo của bị cáo T thấy rằng, trước khi phạm tội, bị cáo đang là sinh viên; bị cáo cung cấp đơn xin cứu xét được Ủy ban nhân dân thị trấn A, huyện C xác nhận về nhân thân chấp hành tốt chủ trương của địa phương. Nhận thấy bị cáo có nhiều tình tiết giảm nhẹ, có nhân thân tốt, sau khi phạm tội đã thể hiện thái độ thật sự ăn năn, hối cải, để tạo điều kiện cho bị cáo cải tạo, sửa chữa sai lầm trở thành người tốt, xét chấp nhận kháng cáo của bị cáo về việc xin giảm nhẹ hình phạt như quan điểm của đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh, sửa bản án sơ thẩm về hình phạt.
[5] Về án phí hình sự phúc thẩm, do yêu cầu kháng cáo được chấp nhận nên bị cáo không phải chịu án phí hình sự phúc thẩm.
Các phần quyết định khác của bản án hình sự sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị đã có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ điểm b khoản 1 Điều 355; điểm c khoản 1 Điều 357 của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015;
- - Chấp nhận kháng cáo của bị cáo Lê Hoàng T (B); sửa bản án hình sự sơ thẩm số 57/2024/HSST ngày 06/9/2024 của Tòa án nhân dân huyện Châu Thành, tỉnh An Giang;
- Tuyên bố bị cáo Lê Hoàng T (B) phạm tội “Cố ý gây thương tích”;
- Căn cứ vào điểm đ khoản 2 Điều 134; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; các Điều 17, 38, 58 Bộ luật Hình sự năm 2015 được sửa đổi, bổ sung năm 2017;
- Xử phạt bị cáo Lê Hoàng T (B) 02 (hai) năm tù; thời hạn chấp hành hình phạt được tính từ ngày bắt bị cáo chấp hành án.
- Căn cứ Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về án phí, lệ phí Tòa án;
- Bị cáo Lê Hoàng T không phải chịu án phí hình sự phúc thẩm.
- Các phần quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị đã có hiệu lực pháp luật, kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
- Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Huỳnh Thanh Tâm |
Bản án số 170/2024/HS-PT ngày 08/11/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH AN GIANG về hình sự (cố ý gây thương tích)
- Số bản án: 170/2024/HS-PT
- Quan hệ pháp luật: Hình sự (Cố ý gây thương tích)
- Cấp xét xử: Phúc thẩm
- Ngày ban hành: 08/11/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH AN GIANG
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: bị cáo cùng đồng phạm gây thương tích
