Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN 5

THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN 5 - THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Huỳnh Trần Thục Oanh

Các Hội thẩm nhân dân:

  1. Ông Đoàn Hồng Hải
  2. Ông Phạm Duy Bảo

Thư ký phiên toà: Bà Nguyễn Thị Thu Phương – Thư ký Toà án nhân dân Quận 5, Thành phố Hồ Chí Minh.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Quận 5 tham gia phiên tòa : Ông Nguyễn Phạm Tuân .

Ngày 31 tháng 7 năm 2024 tại Tòa án nhân dân Quận 5, Thành phố Hồ Chí Minh xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số 107/2020/TLST-DS ngày 03 tháng 8 năm 2020, về việc: “Tranh chấp hợp đồng tín dụng” theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số 67/2024/QĐXXST-DS ngày 02 tháng 5 năm 2024, quyết định hoãn phiên tòa số 66/2024/QĐST-DS ngày 31 tháng 5 năm 2024 và quyết định tạm ngưng phiên tòa số 15/2024/QĐST-DS ngày 30 tháng 6 năm 2024 giữa các đương sự:

Nguyên đơn: Ngân hàng Thương mại Cổ phần S

Trụ sở: 266 – B N, Phường H, Quận C, Thành Phố Hồ Chí Minh

Người đại diện theo pháp luật: Bà Nguyễn Đức Thạch D– Tổng Giám đốc

Đại diện theo ủy quyền:

  1. Lần 1: Ông Nguyễn Thanh T - theo giấy ủy quyền số 667/2020/GUQ-CNBT ngày 31/12/2020.
  2. Lần 2: Ông Dương Tấn T1- theo giấy ủy quyền số 1307/2024/UQ-TGĐ ngày 20/06/2022.
  3. Lần 3: Ông Phạm Trường T2- theo giấy ủy quyền số 1307/2024/UQ-TGĐ ngày 24/2/2024.
  4. Lần 4: Ông Nguyễn Thành N- theo giấy ủy quyền số 2712/2024/UQ-TGĐ ngày 12/4/2024.

Bị đơn: Bà Trần Mỹ L, Sinh năm: 1979

Địa chỉ: A T, Phường A, Quận E, Thành phố Hồ Chí Minh.

(Nguyên đơn có đơn xin xét xử vắng mặt, bị đơn vắng mặt không có lý do)

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Trong đơn khởi kiện và quá trình tố tụng, người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn là các ông Nguyễn Thanh T, Dương Tấn T1, Phạm Trường T2, Nguyễn Thành N trình bày :

Ngày 20/09/2016, bà Trần Mỹ L (gọi tắt là bà L) có ký với Ngân hàng TMCP S (gọi tắt là Ngân hàng H1)) hợp đồng sử dụng thẻ tín dụng (bao gồm giấy đề nghị cấp thẻ tín dụng kiêm hợp đồng và bản điều khoản và điều kiện phát hành và sử dụng thẻ tín dụng của Ngân hàng - các tài liệu này được gọi chung là hợp đồng), hạn mức tín dụng là 80.000.000 vnđ với mục đích tiêu dùng cá nhân, lãi suất là 2.4% / tháng (lãi suất trong hạn). Sau khi được cấp thẻ tín dụng, bà L đã thực hiện các giao dịch với tổng số tiền là 140.449.630 đồng.

Trong quá trình sử dụng thẻ, từ ngày kích hoạt thẻ đến nay bà L đã thanh toán cho Ngân hàng số tiền 109.309.585 đồng (chi tiết các lần thanh toán trong bảng sao kê tóm tắt đính kèm). Tổng số tiền trên được thanh toán áp dụng theo điều 20 của bản điều khoản và điều kiện phát hành và sử dụng thẻ tín dụng của Ngân hàng.

Qua nhiều lần làm việc, nhắc nhở nhưng bà L vẫn không có thiện chí trả nợ. Do bà L vi phạm nghĩa vụ thanh toán (Điều 2 của bản iều khoản và điều kiện phát hành sử dụng thẻ tín dụng của Ngân hàng), ngày 01/09/2019 Ngân hàng đã chấm dứt quyền sử dụng thẻ và chuyển toàn bộ dư nợ bà L còn thiếu tại thời điểm này là 75.307.613 đồng sang nợ quá hạn (Điều 23 của Bản Điều khoản và điều kiện phát hành sử dụng thẻ tín dụng của Ngân hàng) và áp dụng lãi suất là 2.4% / tháng trên số tiền nợ quá hạn này nhân 150%.

Do bà Trần Mỹ L vi phạm hợp đồng đã ký. Trong quá trình thu hồi nợ bà L không có thiện chí thanh toán nợ vay quá hạn nên Ngân hàng đã khởi kiện để cùng nhau hợp tác và giải quyết theo đúng pháp luật hiện hành.

Tính đến ngày 31/07/2024, bà L còn nợ các khoản sau (chi tiết lãi quá hạn, dư nợ trong sao kê tóm tắt đính kèm):

  • Nợ gốc : 75.307.613 đồng
  • Lãi quá hạn : 162.302.724 đồng
  • Tổng cộng : 237.610.337 đồng (Bằng chữ: Hai trăm ba mươi bảy triệu, sáu trăm mười nghìn, ba trăm ba mươi bảy đồng).

Số tiền lãi quá hạn được tính trên số tiền nợ gốc 75.307.613 đồng với lãi suất quá hạn là 3.6% / tháng (2.4% * 150%) từ ngày ngân hàng chấm dứt quyền sử dụng thẻ và chuyển toàn bộ dư nợ còn thiếu sang nợ quá hạn cho đến hiện tại.

Mặc dù Ngân hàng đã thường xuyên đôn đốc, nhiều lần làm việc trực tiếp với bà L, yêu cầu có trách nhiệm thanh toán ngay khoản nợ quá hạn, đồng thời Ngân hàng cũng tạo điều kiện về mặt thời gian để trả nợ, tuy nhiên bà L vẫn chưa thanh toán khoản nợ vay quá hạn cho Ngân hàng, vi phạm các điều khoản đã quy định tại Hợp đồng đa kỵ. Để bảo vệ quyền lợi hợp pháp của Ngân hàng H1 yêu cầu Toà án buộc bà Trần Mỹ L phải trả ngay một lần cho Ngân hàng tổng số tiền tạm tính đến ngày 31 tháng 7 năm 2024 là 237.610.337 đồng (Hai trăm ba mươi bảy triệu, sáu trăm mười nghìn, ba trăm ba mươi bảy đồng) trong đó: Nợ gốc: 75.307.613 đồng, lãi quá hạn: 162.302.724 đồng. Và tiếp tục thanh toán khoản lãi phát sinh từ ngày 01 tháng 8 năm 2024 cho đến khi trả dứt nợ vay theo lãi suất quy định tại hợp đồng.

Trong quá trình giải quyết vụ án, Tòa án đã tiến hành tống đạt, niêm yết thông báo thụ lý và triệu tập hợp lệ bị đơn đến Tòa án để tham gia phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải, tuy nhiên bà Trần Mỹ L không đến Tòa án làm việc, vì vậy Tòa án không ghi nhận được ý kiến của bị đơn và không tiến hành hòa giải được.

Sau khi xem xét tài liệu chứng cứ tại hồ sơ vụ án:

Nguyên đơn xin xét xử vắng mặt nhưng vẫn bảo lưu ý kiến đã trình bày đề nghị bị đơn thanh toán số tiền nợ tạm tính đến ngày 31 tháng 7 năm 2024 của thẻ tín dụng số 436438-5190 ngày 20 tháng 9 năm 2016 có Nợ gốc: 75.307.613 đồng, nợ lãi quá hạn: 162.302.724 đồng. Tổng cộng: 237.610.337 đồng (Hai trăm ba mươi bảy triệu, sáu trăm mười nghìn, ba trăm ba mươi bảy đồng). Trả một lần ngay sau khi bản án, quyết định có hiệu lực pháp luật, cùng tiền lãi chậm trả phát sinh cho đến khi bà L trả dứt nợ.

Bị đơn vắng mặt tại phiên tòa nên không rõ ý kiến.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Quận 5 phát biểu :

Về việc chấp hành pháp luật tố tụng : Trong quá trình giải quyết vụ án kể từ khi thụ lý vụ án và tại phiên tòa hôm nay, Thẩm phán, Hội đồng xét xử đã tuân thủ đúng quy trình tố tụng giải quyết vụ án.

Nguyên đơn chấp hành đúng quy định pháp luật.

Về nội dung vụ án : Căn cứ vào chứng cứ có trong hồ sơ vụ án nhận thấy yêu cầu của nguyên đơn là có cơ sở chấp nhận.

Căn cứ vào Điều 5; Điều 26; Điều 35; Điều 39; Điều 70; khoản 3 Điều 144, Điều 147; điểm b khoản 2 Điều 227; Điều 266; Điều 271; khoản 1, Điều 273 của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015.

Căn cứ vào Điều 463; Điều 466; Điều 468 của Bộ luật dân sự năm 2015

Căn cứ Điều 91 Luật tổ chức tín dụng năm 2010.

Căn cứ Luật Thi hành án dân sự;

Nghị quyết số 05/2012 /NQ-HĐTP ngày 03/12/2012;

Căn cứ Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016;

Đề nghị :

Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn: Buộc bà Trần Mỹ L phải thanh toán cho Ngân hàng Thương mại Cổ phần S số tiền nợ tạm tính đến ngày 31 tháng 7 năm 2024 của thẻ tín dụng số 436438-5190 ngày 20 tháng 9 năm 2016 có Nợ gốc: 75.307.613 đồng, nợ lãi quá hạn: 162.302.724 đồng. Tổng cộng: 237.610.337 đồng( Hai trăm ba mươi bảy triệu, sáu trăm mười nghìn, ba trăm ba mươi bảy đồng), ngay sau khi bản án có hiệu lực pháp luật.

Án phí dân sự sơ thẩm do bị đơn chịu.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN :

Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án được xem xét tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

[1] Về quan hệ tranh chấp, thẩm quyền và xét xử vắng mặt bị đơn đối với vụ án:

Xét yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn cùng các tài liệu, chứng cứ trong hồ sơ, có đủ cơ sở xác định đây là vụ án dân sự về việc : “Tranh chấp hợp đồng tín dụng” giữa tổ chức và cá nhân có hợp đồng tín dụng số 436438-5190 ngày 20 tháng 9 năm 2016.

Theo xác minh của Công an P, Quận E cho biết đương sự Trần Mỹ L sinh năm 1979 có đăng ký hộ khẩu thường trú tại số A đường T, Phường A, Quận E, Thành phố Hồ Chí Minh (nay là Phường A, Quận E), hiện không thực tế cư trú tại địa phương, tháng 6/2018 chuyển về cư trú tại A H, phường P, quận T, Thành phố Hồ Chí Minh. Và theo kết quả xác minh của Công an phường P, quận T, Thành phố Hồ Chí Minh cho biết không có người nào tên Trần Mỹ L cư trú tại địa chỉ A H, phường P, quận T, Thành phố Hồ Chí Minh. Cũng như trong đơn trình bày của đại diện Ngân hàng ngày 15 tháng 4 năm 2024 nguyên đơn không biết địa chỉ nào khác của bị đơn ngoài địa chỉ bà L ghi trong hợp đồng tín dụng. Tuy nhiên trong phần thông tin cá nhân do chính bà L viết và ký tên mục: Đ/c ở hiện tại: bà L ghi: A đường T, Phường A, Quận E, Thành phố Hồ Chí Minh. Căn cứ vào Khoản 3, Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm e, Khoản 1, Điều 192 Bộ luật tố tụng dân sự và Khoản 2, Điều 6 NQ 04/2017 ngày 05/5/2017 của Hội đồng thẩm phán TANDTC: Đối với các trường hợp này là bị đơn cố tình giấu địa chỉ và Toà án phải thụ lý giải quyết không được yêu cầu nguyên đơn bổ sung văn bản xác minh nơi cư trú của bị đơn……….” vì vậy vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân Quận 5, theo quy định Pháp luật.

Toà án nhân dân Quận 5 đã tiến hành tống đạt, niêm yết thông báo thụ lý vụ án, thông báo phiên họp kiểm tra giao nộp tiếp cận công khai chứng cứ và hòa giải cũng như quyết định xét xử, quyết định hoãn cũng như tạm ngừng phiên tòa cho bị đơn nhằm bảo vệ quyền lợi của mình đối với yêu cầu của nguyên đơn, nhưng bà Trần Mỹ L vắng mặt không rõ lý do nên Hội đồng xét xử quyết định xét xử vắng mặt bị đơn theo các Điều 227, 228 Bộ luật tố tụng dân sự và Nghị quyết số 05/2012 /NQ-HĐTP ngày 03 tháng 12 năm 2012.

[2] Về nội dung yêu cầu khởi kiện:

Xét việc Ngân hàng Thương mại Cổ phần S yêu cầu bà Trần Mỹ L phải thanh toán khoản nợ tạm tính đến ngày 31 tháng 7 năm 2024 đối với hợp đồng tín dụng số 436438-5190 ngày 20 tháng 9 năm 2016, có nợ gốc: 75.307.613 đồng, nợ lãi quá hạn: 162.302.724 đồng. Tổng cộng : 237.610.337 đồng (Hai trăm ba mươi bảy triệu, sáu trăm mười nghìn, ba trăm ba mươi bảy đồng) được thể hiện ở các tài liệu trong quá trình thực hiện hợp đồng tín dụng trên, bà L đã vi phạm các thỏa thuận đã ký kết với Ngân hàng, như vậy bà L là bên vi phạm không trả lãi và nợ gốc đúng hạn quy định trong hợp đồng nên việc H1 yêu cầu bà L thanh toán số nợ gốc và lãi còn thiếu là phù hợp với Điều 91 Luật các tổ chức tín dụng năm 2011 là có căn cứ chấp nhận.

[3] Về trả lãi và thời hạn thanh toán:

Tại khoản 27, Điều 1, bản điều khoản và điều kiện phát hành và sử dụng thẻ tín dụng của nguyên đơn quy định: “Lãi suất: lãi là lãi suất cho vay mà H1 áp dụng đối với các khoản vay thông qua phát hành thẻ, bao gồm lãi suất trong hạn, và lãi suất quá hạn. Lãi suất trong hạn là lãi suất được tính theo biểu phí lãi suất được tính theo biểu phí lãi suất do H1 công bố theo từng thời kỳ. Lãi suất quá hạn là mức lãi suất tối đa bằng 150% lãi suất trong hạn”.

Nguyên đơn đã áp dụng lãi suất là 2.4% / tháng, lãi suất nợ quá hạn đối với phần nợ gốc quá hạn mà bên vay không trả đúng bằng 150% và H1 đã chuyển toàn bộ dư nợ của bà L còn thiếu là: 75.307.613 đồng sang nợ quá hạn và áp dụng lãi suất là 2.4%/tháng trên số tiền nợ quá hạn này nhân 150%. - là phù hợp với Khoản 2, Điều 91 Luật các tổ chức tính dụng (do các bên thỏa thuận theo hợp đồng).

Căn cứ các tài liệu chứng cứ trong hồ sơ và các thông báo về việc thay đổi lãi suất và phí của H1 tại các thời kỳ xác định bị đơn trong quá sử dụng thẻ đã vi phạm nghĩa vụ thanh toán đối với nguyên đơn. Vì vậy việc H1 yêu cầu bà L phải trả tiền nợ và lãi của thẻ tín dụng số 436438-5190 ngày 20 tháng 9 năm 2016 có dư Nợ gốc: 75.307.613 đồng và nợ lãi quá hạn: 162.302.724 đồng. Tổng cộng: 237.610.337 đồng (Hai trăm ba mươi bảy triệu, sáu trăm mười nghìn, ba trăm ba mươi bảy đồng) tạm tính đến ngày 31 tháng 7 năm 2024 là có cơ sở.

Do bà L đã vi phạm nghĩa vụ thanh toán do vậy Ngân hàng yêu cầu bà L thanh toán số tiền nợ còn thiếu và tiếp tục trả lãi phát sinh theo mức lãi suất chậm thanh toán ngay khi bản án, quyết định có hiệu lực là phù hợp theo quy định của pháp luật dân sự nên Hội đồng xét xử chấp nhận.

Xét đại diện Viện kiểm sát nhân dân Quận 5 đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận toàn bộ yêu cầu của nguyên đơn là phù hợp với nhận định nêu trên nên chấp nhận.

[4] Về án phí : Do chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn nên bị đơn phải chịu án phí dân sự sơ thẩm. Trả lại cho nguyên đơn số tiền tạm ứng án phí đã nộp.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH :

  • Căn cứ khoản 3 Điều 26 và điểm a khoản 1 Điều 35; các Điều 147, 177, 227, điểm b khoản 2 Điều 235, Điều 266, Điều 271, khoản 1 Điều 273, của Bộ luật tố tụng dân sự;
  • Căn cứ các Điều 296, 476, Điều 302, Điều 305, 422, 471, 474, 476 Bộ luật dân sự năm 2005
  • Căn cứ các Điều 280, 351, 468 Bộ luật dân sự 2015 ;
  • Căn cứ Điều 91 của Luật các tổ chức tín dụng năm 2011;
  • Căn cứ Luật phí và lệ phí năm 2015 ;
  • Căn cứ Luật thi hành án dân sự năm 2008 đã được sửa đổi, bổ sung năm 2014.
  • Căn cứ Nghị quyết 05/2012/NQ-HĐTP ngày 03 tháng 12 năm 2012 của Hội đồng thẩm phán tối cao quy định về thủ tục giải quyết vụ án tại Tòa án cấp sơ thẩm;
  • Căn cứ Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của UBTV QH 14 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án ;

Tuyên xử:

  1. Chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn
  2. Buộc bà Trần Mỹ L phải thanh toán cho Ngân hàng Thương mại Cổ phần S số nợ còn thiếu tạm tính đến ngày 31 tháng 7 năm 2024 của thẻ tín dụng số 436438-5190 ngày 20 tháng 9 năm 2016 có dư nợ gốc: 75.307.613 đồng, nợ lãi quá hạn: 162.302.724 đồng. Tổng cộng: 237.610.337 đồng (Hai trăm ba mươi bảy triệu, sáu trăm mười nghìn, ba trăm ba mươi bảy đồng).
  3. Ngoài ra bà L còn phải tiếp tục trả lãi phát sinh theo mức lãi suất nợ quá hạn do các bên thỏa thuận trong hợp đồng tín dụng nêu trên, cho đến khi thanh toán xong toàn bộ khoản nợ cho Ngân hàng Thương mại Cổ phần S.
  4. Việc thanh toán tiền được thực hiện tại cơ quan thi hành án dân sự có thẩm quyền một lần ngay sau khi bản án có hiệu lực pháp luật.
  5. Về án phí : Án phí dân sự sơ thẩm là 11.880.517 đồng (mười một triệu, tám trăm tám mươi nghìn, năm trăm mười bảy đồng) do bà Trần Mỹ L chịu. H lại cho Ngân hàng Thương mại Cổ phần S số tiền tạm ứng án phí đã nộp là 2.330.017 đồng, theo biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số AA/2018/003604 ngày 03/8/2020 của Chi cục Thi hành án dân sự Quận 5, Thành phố Hồ Chí Minh.
  6. Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo qui định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo qui định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
  7. Các đương sự có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc kể từ ngày bản án được niêm yết.

Nơi nhận:

  • - VKSND Quận 5;
  • - TAND TP. HCM;
  • - THADS Quận 5;
  • - Các đương sự;
  • - Lưu HS + VP

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TOÀ

Huỳnh Trần Thục Oanh

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 107/2020/TLST-DS ngày 31/07/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN 5 - THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH về tranh chấp hợp đồng tín dụng

  • Số bản án: 107/2020/TLST-DS
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hợp đồng tín dụng
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 31/07/2024
  • Loại vụ/việc: Dân sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN 5 - THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Ngân hàng Thương mại Cổ phần S yêu cầu bà Trần Mỹ L phải thanh toán khoản nợ tạm tính đến ngày 31 tháng 7 năm 2024 đối với hợp đồng tín dụng số 436438-5190 ngày 20 tháng 9 năm 2016, có nợ gốc: 75.307.613 đồng, nợ lãi quá hạn: 162.302.724 đồng. Tổng cộng : 237.610.337 đồng
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger