Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN QUỲNH LƯU

TỈNH NGHỆ AN

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 169/2023/HS-ST

Ngày: 17-11-2023

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN QUỲNH LƯU, TỈNH NGHỆ AN

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

- Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Lê Thị Hải Yến.

Các Hội thẩm nhân dân:

  1. Ông Hồ Hữu Thỏa.
  2. Ông Đậu Cao Nhu.

- Thư ký phiên tòa: Bà Hoàng Thị Hà - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Quỳnh Lưu, tỉnh Nghệ An.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Quỳnh Lưu tham gia phiên tòa:

Ông Hồ Kim Trình - Kiểm sát viên.

Ngày 17 tháng 11 năm 2023, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Quỳnh Lưu, tỉnh Nghệ An xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 160/2023/TLST-HS ngày 23 tháng 10 năm 2023 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 180/2023/QĐXXST-HS ngày 06 tháng 11 năm 2023, đối với các bị cáo:

  1. H và tên: Nguyễn Công C (tên gọi khác: không); sinh năm: 1983 tại tỉnh Nghệ An; nơi cư trú: xóm H, xã D, huyện D, tỉnh Nghệ An; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ học vấn: lớp 12/12; dân tộc: Kinh; giới tính: nam; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; con ông: Nguyễn Văn H1 và bà: Trần Thị D; vợ: Nguyễn Thị T và 02 con, lớn sinh năm 2008, nhỏ sinh năm 2011; tiền án, tiền sự: không; tạm giữ, tạm giam: từ ngày 16/6/2023 đến nay. Có mặt tại phiên tòa.
  2. Họ và tên: Nguyễn Xuân T1 (tên gọi khác: không); sinh năm: 1981 tại tỉnh Nghệ An; nơi cư trú: xóm T, xã D, huyện D, tỉnh Nghệ An; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ học vấn: lớp 12/12; dân tộc: Kinh; giới tính: nam; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; con ông: Nguyễn Văn B và bà: Nguyễn Thị Q; vợ: Nguyễn Thị Lan H2 và 03 con, lớn nhất sinh năm 2011, nhỏ nhất sinh năm 2016; tiền án, tiền sự: không; nhân thân: ngày 06/11/2008 bị Tòa án nhân dân huyện Diễn Châu, tỉnh Nghệ An xử phạt 06 tháng tù về tội "Đánh bạc" (bản án số 105/2018/HSST), ngày 24/5/2017 bị Tòa án nhân dân huyện Diễn Châu, tỉnh Nghệ An xử phạt 12 tháng tù cho hưởng án treo, thời gian thử thách 24 tháng, về tội "Đánh bạc" (bản án số 60/2017/HSST), ngày 29/6/2023 bị Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện D khởi tố về tội "Vi phạm quy định về bảo vệ động vật nguy cấp, quý, hiếm"; tạm giữ, tạm giam: từ ngày 16/6/2023 đến nay. Có mặt tại phiên tòa.
  3. Họ và tên: Hà Hồng T2 (tên gọi khác: không); sinh ngày: 29/02/2004 tại tỉnh Nghệ An; nơi cư trú: bản C, xã T, huyện Q, tỉnh Nghệ An; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ học vấn: lớp 12/12; dân tộc: Thái; giới tính: nữ; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; con ông: Hà Văn T3 và bà: Hà Thị H3; chồng, con: chưa có; tiền án, tiền sự: không; tạm giữ, tạm giam: từ ngày 16/6/2023 đến nay. Có mặt tại phiên tòa.
  4. H và tên: Nguyễn Văn Q1 (tên gọi khác: không); sinh năm: 1980 tại tỉnh Nghệ An; nơi cư trú: xóm H, xã D, huyện D, tỉnh Nghệ An; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ học vấn: lớp 12/12; dân tộc: Kinh; giới tính: nam; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; con ông: Nguyễn Văn N và bà: Trình Thị N1; vợ: Hồ Thị N2 và 02 con, lớn sinh năm 2016, nhỏ sinh năm 2017; tiền án, tiền sự: không; nhân thân: ngày 27/8/2010 bị Tòa án nhân dân huyện Diễn Châu, tỉnh Nghệ An xử phạt 12 tháng tù cho hưởng án treo, thời gian thử thách 24 tháng, về tội "Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản", ngày 30/7/2019 bị Tòa án nhân dân huyện Diễn Châu, tỉnh Nghệ An xử phạt 15 tháng tù, về tội "Tàng trữ trái phép chất ma túy" (bản án số 103/2019/HSST), đã chấp hành xong hình phạt ngày 22/3/2020 (Giấy chứng nhận số 317); tạm giữ, tạm giam: từ ngày 22/8/2023 đến nay. Có mặt tại phiên tòa.

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án:

  1. Anh Nguyễn Xuân T4, sinh năm 1984. Nơi cư trú: khối B, xã D, huyện D, tỉnh Nghệ An. Vắng mặt.
  2. Anh Trần Văn Đ, sinh năm 1983. Nơi cư trú: xóm H, xã D, huyện D, tỉnh Nghệ An. Vắng mặt.
  3. Chị Lương Thị Hiện N3, sinh ngày 03/6/2005. Nơi cư trú: bản Khe Quỳnh, xã X, huyện T, tỉnh Nghệ An. Vắng mặt.
  4. Chị Lộc Thị Đ1, sinh ngày 23/7/2006. Nơi cư trú: bản Na Lạnh, xã T, huyện Q, tỉnh Nghệ An. Vắng mặt.
  5. Chị Lô Thị C1, sinh năm 1997. Nơi cư trú: bản Mường Phú, xã T, huyện Q, tỉnh Nghệ An. Vắng mặt.
  6. Chị Nguyễn Hà C2, sinh năm 2003. Nơi cư trú: K, xã D, huyện D, tỉnh Nghệ An. Vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 22h ngày 15/6/2023, Nguyễn Công C, Nguyễn Xuân T1, Nguyễn Văn T5, Trần Văn Đ hát karaoke tại phòng Vip 6 quán K - D (khối E, thị trấn C, huyện Q, tỉnh Nghệ An) cùng với Lương Thị Hiện N3, Hà Hồng T2, Lộc Thị Đ1 và Lô Thị C1. Trong quá trình hát, C nói T1 chuyển khoản cho C 3.500.000đ (ba triệu năm trăm nghìn đồng) để mua ma túy sử dụng tại phòng hát. T1 đồng ý và nhờ cháu gái Nguyễn Hà C2 chuyển khoản cho C số tiền 3.500.000đ (ba triệu năm trăm nghìn đồng). Nhận được tiền, C gọi đến zalo của Nguyễn Văn Q1 hỏi Q1 có ma túy kẹo, ma túy ke không, Q1 trả lời có. C chuyển số tiền 5.500.000đ (năm triệu năm trăm nghìn đồng) vào tài khoản của Q1. Q1 rút số tiền 4.000.000đ (bốn triệu đồng) đưa cho P và nhận lại 01 (một) gói nilong chứa ma túy kẹo, ma túy ke rồi đưa đến trước cổng quán karaoke cho C. Sau khi lấy được ma túy, C mở ra và để trên bàn 04 (bốn) viên ma túy tổng hợp, 04 (bốn) gói ma túy ketamine cho mọi người cùng sử dụng. Hà Hồng T2 lấy ma túy tổng hợp bẻ ra chia cho Nay, Đ1, T1, C, mỗi người một mẩu để sử dụng. C bẻ mẫu ma túy tổng hợp T2 đưa thành 2 phần đưa cho Chi 1 phần. T2 đi lấy 01 (một) đĩa sứ, C đưa cho T2 01 (một) tờ tiền mệnh giá 10.000 đồng, T2 cuộn lại để làm ống hút, T2 lấy 02 (hai) gói ketamine đổ vào đĩa và tiếp tục hỏi C có thẻ không. C trả lời “không có”. C và T2 hỏi những người trong phòng có ai có thẻ không, T1 lấy thẻ ATM mang tên “NGUYEN HA CHI” đưa cho T2. T2 dùng thẻ mài mịn ma túy và chia thành 08 (tám) phần trong đó 07 (bảy) phần được kẻ thành các đường thẳng, còn 01 (một) phần chưa được kẻ thành đường. Chuẩn bị xong, T2 mời C, T1 sử dụng rồi đi ra ngoài, còn C2, T5, Đồng tự lấy để sử dụng. Lúc quay lại, T2 thấy số ma túy chia thành 07 (bảy) đường đã được sử dụng hết, nên tiếp tục chia phần còn lại thành 03 (ba) đường, sử dụng 01 (một) đường rồi đưa cho Nay, Đ1, mỗi người sử dụng một đường. Đến khoảng 01h40 phút, ngày 16/6/2023, T2 đổ 02 (hai) gói ketamine còn lại để sử dụng tiếp thì bị tổ công tác Công an huyện Q bắt quả tang, thu giữ 01 (một) đĩa sứ màu trắng, 01 (một) tờ tiền mệnh giá 10.000 đồng, 01 (một) thẻ ATM, 01 (một) túi nilong màu trắng, 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu Vivo Y21. Số ma túy chưa kịp sử dụng trên đĩa bị C đổ nước vào hòa tan chảy xuống nền nhà.

Tiến hành xét nghiệm, kết quả Nguyễn Công C, Nguyễn Xuân T1, Hà Hồng T2, Nguyễn Xuân T4, Trần Văn Đ, Lộc Thị Đ1, Lô Thị C1, Lương Thị Hiện N3 đều dương tính với các nhóm ma túy MOP và THC.

Kết luận giám định số 686/KL-KTHS(DD2-MT) ngày 22/6/2023, phòng K1 Công an tỉnh N kết luận: Trên bề mặt của 01 chiếc đĩa sứ màu trắng; 01 thẻ ATM mang tên "NGUYEN HA CHI"; 01 tờ tiền mệnh giá 10.000 đồng gửi giám định đều có tìm thấy thành phần chất ma túy, loại Ketamine.

Ngày 22/8/2023, Nguyễn Văn Q1 đến Công an huyện Q đầu thú.

Bản cáo trạng số 176/CT-VKS-QL ngày 23/10/2023, Viện kiểm sát nhân dân huyện Quỳnh Lưu truy tố Nguyễn Công C, Nguyễn Xuân T1, Hà Hồng T2 về tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm b, c khoản 2 Điều 255 Bộ luật Hình sự; Nguyễn Văn Q1 về tội "Mua bán trái phép chất ma túy" theo quy định tại khoản 1 Điều 251 Bộ luật Hình sự.

Đại diện Viện kiểm sát giữ quyền công tố tại phiên tòa vẫn giữ nguyên quan điểm truy tố. Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng: điểm b, c khoản 2 Điều 255, điểm s khoản 1, 2 Điều 51, Điều 58, Điều 38 Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo Nguyễn Công C từ 07 năm đến 07 năm 06 tháng tù; điểm b, c khoản 2 Điều 255, điểm s, u khoản 1, 2 Điều 51, khoản 1 Điều 54, Điều 58, Điều 38 Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo Nguyễn Xuân T1 từ 04 năm đến 04 năm 06 tháng tù; điểm b, c khoản 2 Điều 255, điểm s khoản 1, 2 Điều 51, khoản 2 Điều 54, Điều 58, Điều 38 Bộ luật Hình sự xử phạt bị cáo Hà Hồng T2 từ 04 năm đến 04 năm 06 tháng tù; khoản 1 Điều 251, điểm s khoản 1, 2 Điều 51, Điều 58, Điều 38 Bộ luật Hình sự xử phạt bị cáo Nguyễn Văn Q1 từ 30-36 tháng tù.

Hình phạt bổ sung: không áp dụng.

Vật chứng: áp dụng Điều 47 Bộ luật Hình sự, Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự, tịch thu tiêu hủy 01 (một) đĩa sứ màu trắng, 01 (một) túi nilong màu trắng, 01 (một) thẻ ATM mang tên "NGUYEN HA CHI". Tịch thu, sung ngân sách Nhà nước 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu Vivo Y21, 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu OPPO A3S, 01 (một) tờ tiền mệnh giá 10.000 đồng. Truy thu buộc bị cáo Nguyễn Văn Q1 phải nộp lại số tiền thu lợi bất chính 5.500.000 đồng để sung ngân sách nhà nước.

Án phí: buộc các bị cáo Nguyễn Công C, Nguyễn Xuân T1, Nguyễn Văn Q1 phải chịu án phí theo quy định của pháp luật. Miễn án phí cho bị cáo Hà Hồng T2.

Tại phiên tòa, các bị cáo Nguyễn Công C, Nguyễn Xuân T1, Hà Hồng T2 và Nguyễn Văn Q1 khai nhận hành vi phạm tội của mình như đã nêu trên, không tranh luận gì về tội danh. Lời nói sau cùng:

Bị cáo Hà Hồng T2: tuổi đời còn trẻ, do ham chơi, đua đòi, nhận thức pháp luật kém, thấy cái giá phải trả giá quá đắt, bị cáo rất hối hận, xin giảm nhẹ hình phạt.

Bị cáo Nguyễn Công C, Nguyễn Xuân T1, Nguyễn Văn Q1: rất hối hận, xin mức án nhẹ nhất để cải tạo sớm trở về làm người có ích.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện Q, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Q, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan không có ý kiến hay khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã được thực hiện đều hợp pháp.

[2] Tại phiên tòa, các bị cáo Nguyễn Công C, Nguyễn Xuân T1, Hà Hồng T2 và Nguyễn Văn Q1 khai nhận: vào lúc 23h ngày 16/6/2023, T1 góp số tiền 3.500.000 đồng, C góp 2.000.000 đồng mua 04 (bốn) viên ma túy tổng hợp dạng kẹo và 04 (bốn) gói ketamine của Q1, T2 chuẩn bị đĩa, chia ma túy, để sử dụng cùng với Nguyễn Xuân T4, Trần Văn Đ, Lô Thị C1, Lương Thị Hiện N3 và Lộc Thị Đ1 tại phòng Vip 6 quán K - D thuộc khối E, thị trấn C, huyện Q, tỉnh Nghệ An thì bị tổ công tác Công an huyện Q bắt quả tang. Lời khai của các bị cáo phù hợp với nhau, phù hợp với Biên bản bắt người phạm tội quả tang, kết luận giám định, lời khai tại Cơ quan điều tra và các chứng cứ, tài liệu khác có tại hồ sơ vụ án. Các bị cáo nhận thức được hành vi của mình là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm đến chế độ độc quyền, thống nhất quản lý các chất ma túy của Nhà nước, đủ tuổi chịu trách nhiệm hình sự và có năng lực trách nhiệm hình sự. Phạm tội với lỗi cố ý. Bị cáo Q1 mua ma túy của P bán lại cho C kiếm lời, nên phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy” theo quy định tại khoản 1 Điều 251 Bộ luật Hình sự. Bị cáo C, T1 góp tiền mua ma túy, cung cấp ma túy, T2 chuẩn bị công cụ, chia ma túy cho T4, Đ, C1, Nay, Đ1 (16 tuổi 10 tháng 23 ngày) sử dụng, nên phạm tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm b, c khoản 2 Điều 255 Bộ luật Hình sự. Như vậy, cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân huyện Quỳnh Lưu truy tố các bị cáo là có căn cứ, đúng quy định pháp luật.

[3] Vụ án có tính chất nghiêm trọng và rất nghiêm trọng. Đồng phạm giản đơn. Ma túy là một tệ nạn xã hội nguy hiểm, đe dọa nghiêm trọng đến sức khỏe và sự phát triển lành mạnh của nòi giống, làm suy kiệt kinh tế của mỗi gia đình, ảnh hưởng xấu đến nhiều mặt của đời sống xã hội. Nên cần áp dụng hình phạt tù có thời hạn tương xứng với tính chất, mức độ của hành vi phạm tội, cũng như tính tiết tăng nặng, giảm nhẹ của từng người đồng phạm để cá thể hóa hình phạt cho phù hợp, như thế mới có đủ điều kiện để giáo dục, cải tạo các bị cáo, đồng thời răn đe và phòng ngừa chung.

Bị cáo Nguyễn Công C là người khởi xướng, góp tiền và trực tiếp mua ma túy, phạm tội không có tình tiết tăng nặng, có tình tiết giảm nhẹ thành khẩn khai báo, tích cực tham gia hoạt động phòng chống dịch bệnh tại địa phương, ủng hộ cho đồng bào lũ lụt M, ông nội (ông Nguyễn Hữu Đ2) được tặng thưởng Huân chương kháng chiến hạng nhì, Bằng khen. Bị cáo có vai trò chính trong vụ án nên phải chịu hình phạt cao hơn các bị cáo khác.

Bị cáo Nguyễn Xuân T1 phạm tội với vai trò giúp sức góp tiền mua ma túy. Bị cáo phạm tội không có tình tiết tăng nặng, có tình tiết giảm nhẹ thành khẩn khai báo, trong quá trình điều tra đã có công tố giác tội phạm, giúp cơ quan điều tra phát hiện, bắt giữ Nguyễn Văn M và khởi tố vụ án "Mua bán trái phép chất ma túy", ông nội (ông Nguyễn Văn H4) được tặng thưởng Huân chương kháng chiến hạng nhất, Bằng khen. Bị cáo phạm tội có nhiều tình tiết giảm nhẹ quy định tại khoản 1, 2 Điều 51 nên áp dụng khoản 1 Điều 54 Bộ luật Hình sự để xử phạt bị cáo dưới khung hình phạt cũng đủ để giáo dục, cải tạo bị cáo thành công dân có ích cho xã hội.

Bị cáo Hà Hồng T2 là nhân viên quán karaoke phục vụ khách lấy đĩa, chà và chia ma túy thành từng phần cho các bị cáo khác sử dụng. Bị cáo phạm tội không có tình tiết tăng nặng, có tình tiết giảm nhẹ thành khẩn khai báo. Xét thấy bị cáo phạm tội lần đầu, là người giúp sức nhưng có vai trò không đáng kể, lại là người dân tộc thiểu số, nhận thức pháp luật kém, nên áp dụng khoản 2 Điều 54 Bộ luật Hình sự để xử phạt bị cáo dưới khung hình phạt, thể hiện sự khoan hồng của pháp luật.

Bị cáo Nguyễn Văn Q1 phạm tội không có tình tiết tăng nặng, có tình tiết giảm nhẹ thành khẩn khai báo, đầu thú.

Xử phạt các bị cáo với mức hình phạt như đại diện Viện kiểm sát đề nghị là phù hợp.

[4] Hình phạt bổ sung: xét các bị cáo đều là lao động tự do, thu nhập không ổn định, bị xử phạt tù, nên không áp dụng hình phạt bổ sung.

[5] Biện pháp tư pháp: 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu Vivo Y21 của bị cáo Nguyễn Công C, 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu OPPO A3S của bị cáo Nguyễn Văn Q1, 01 (một) tờ tiền mệnh giá 10.000 đồng, các bị cáo sử dụng vào việc phạm tội, nên tịch thu sung vào ngân sách Nhà nước. 01 (một) thẻ ATM mang tên "NGUYEN HA CHI", 01 (một) đĩa sứ màu trắng, 01 (một) túi nilong màu trắng, là dụng cụ các bị cáo sử dụng vào việc phạm tội nên tịch thu, tiêu hủy. Bị cáo Nguyễn Văn Q1 thu lợi bất chính số tiền 5.500.000 đồng từ việc mua bán trái phép chất ma túy, nên tịch thu, sung ngân sách nhà nước.

[6] Những vấn đề khác: cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Q đã ra Quyết định xử phạt vi phạm hành chính Nguyễn Xuân T4, Trần Văn Đ, Lương Thị Hiện N3, Lộc Thị Đ1, Lô Thị C1 về hành vi sử dụng trái phép chất ma túy. Người quản lý quán karaoke Nguyễn Văn Tó không biết các bị cáo sử dụng trái phép chất ma túy, chị Nguyễn Hà C2 chuyển tiền cho bị cáo Nguyễn Xuân T1 nhưng không biết bị cáo sử dụng tiền vào việc phạm tội, nên không bị xử lý. Là đúng quy định pháp luật. Kiến nghị cơ quan điều tra tiếp tục xác minh, làm rõ hành vi của người bán ma túy cho Nguyễn Văn Q1.

[7] Về án phí hình sự: các bị cáo Nguyễn Công C, Nguyễn Xuân T1, Nguyễn Văn Q1 phải chịu án phí theo quy định của pháp luật. Bị cáo Hà Hồng T2 thuộc hộ nghèo, hộ cận nghèo (Giấy chứng nhận hộ nghèo, hộ cận nghèo số 398/GCN.HN.HCN), có đơn xin miễn án phí nên áp dụng điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết 326/2016/NQ-UBTVQH14 miễn nộp án phí hình sự sơ thẩm cho bị cáo.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

1. Căn cứ vào:

Điểm b, c khoản 2 Điều 255; điểm s khoản 1, 2 Điều 51; Điều 58; Điều 38 Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo Nguyễn Công C 07 (bảy) năm tù, về tội "Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy". Thời hạn chấp hành hình phạt tù, tính từ ngày tạm giữ, tạm giam (ngày 16/6/2023).

Điểm b, c khoản 2 Điều 255; điểm s, u khoản 1, 2 Điều 51; khoản 1 Điều 54; Điều 58; Điều 38 Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo Nguyễn Xuân T1 04 (bốn) năm tù, về tội "Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy". Thời hạn chấp hành hình phạt tù, tính từ ngày tạm giữ, tạm giam (ngày 16/6/2023).

Điểm b, c khoản 2 Điều 255; điểm s khoản 1, 2 Điều 51; khoản 2 Điều 54; Điều 58; Điều 38 Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo Hà Hồng T2 04 (bốn) năm tù, về tội "Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy". Thời hạn chấp hành hình phạt tù, tính từ ngày tạm giữ, tạm giam (ngày 16/6/2023).

Khoản 1 Điều 251; điểm s khoản 1, 2 Điều 51; Điều 58; Điều 38 Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo Nguyễn Văn Q1 33 (ba mươi ba) tháng tù, về tội "Mua bán trái phép chất ma túy". Thời hạn chấp hành hình phạt tù, tính từ ngày tạm giữ, tạm giam (ngày 22/8/2023).

2. Biện pháp tư pháp: áp dụng Điều 47 Bộ luật Hình sự, Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự, tịch thu tiêu hủy 01 (một) đĩa sứ màu trắng, 01 (một) túi nilong màu trắng, 01 (một) thẻ ATM mang tên "NGUYEN HA CHI". Tịch thu, sung ngân sách Nhà nước 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu Vivo Y21, 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu OPPO A3S, 01 (một) tờ tiền mệnh giá 10.000 đồng. Tình trạng theo Biên bản giao, nhận vật chứng ngày 23/10/2023 giữa Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Q và Chi cục Thi hành án dân sự huyện Quỳnh Lưu.

Tịch thu, buộc bị cáo Nguyễn Văn Q1 phải nộp số tiền thu lợi bất chính 5.500.000đ (năm triệu năm trăm nghìn đồng) để sung ngân sách nhà nước.

3. Án phí: áp dụng Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự, Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 buộc các bị cáo Nguyễn Công C, Nguyễn Xuân T1, và Nguyễn Văn Q1, mỗi bị cáo phải nộp 200.000đ (hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm. Áp dụng điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 miễn nộp án phí cho bị cáo Hà Hồng T2.

4. Quyền kháng cáo: Bị cáo có mặt, có quyền kháng cáo bản án lên Tòa án nhân dân tỉnh Nghệ An trong hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án vắng mặt, có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được tống đạt hợp lệ.

Nơi nhận:

  • - TAND tỉnh Nghệ An;
  • - VKSND tỉnh Nghệ An;
  • - Trại giam Công an tỉnh Nghệ An;
  • - VKSND huyện Quỳnh Lưu;
  • - CQCSĐT - CA huyện Quỳnh Lưu;
  • - CCTHA Dân sự huyện Quỳnh Lưu;
  • - THA hình sự;
  • - Sở Tư pháp;
  • - UBND xã Diễn Hồng, Tri Lễ (để biết);
  • - Bị cáo;
  • - Lưu hồ sơ + Lưu trữ.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Lê Thị Hải Yến

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 169/2023/HS-ST ngày 17/11/2023 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN QUỲNH LƯU, TỈNH NGHỆ AN về hình sự

  • Số bản án: 169/2023/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Hình sự
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 17/11/2023
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN QUỲNH LƯU, TỈNH NGHỆ AN
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Nguyễn Công C và đồng phạm phạm tội Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger