|
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TÂN TRỤ TỈNH LONG AN ————— Bản án số: 17/2024/HNGĐ-ST Ngày: 31-5-2024 V/v tranh chấp ly hôn, nuôi con chung |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc ————— |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TÂN TRỤ TỈNH LONG AN
BẢN ÁN SƠ THẨM
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Phạm Văn Thái.
Các Hội thẩm nhân dân:
Ông Đoàn Minh Hùng.
Ông Trần Hữu Đền.
- Thư ký phiên tòa: Bà Võ Thị Thùy – Thẩm tra viên Tòa án nhân dân huyện Tân Trụ, tỉnh Long An.
Ngày 31 tháng 5 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Tân Trụ, xét xử sơ thẩm công khai vụ án hôn nhân và gia đình thụ lý số 10/2024/TLST-HNGĐ ngày 25 tháng 01 năm 2024, về “Tranh chấp ly hôn, nuôi con chung” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 15/2024/QĐXXST-HNGĐ ngày 23 tháng 4 năm 2024 và Quyết định hoãn phiên tòa số 13/2024/QĐST-HNGĐ, ngày 10 tháng 5 năm 2024, giữa:
* Nguyên đơn: Bà Lê Thị Hồng P, sinh năm: 1977; Địa chỉ: B N, Phường C, thành phố T, tỉnh Long An.
* Bị đơn: Ông Phạm Quốc D, sinh năm: 1978; Địa chỉ: 14/13, Ấp D, xã Q, huyện T, tỉnh Long An.
(Bà P có mặt. Ông D vắng mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Tại đơn khởi kiện đề ngày 15 tháng 01 năm 2024 và trong quá trình xét xử, bà Lê Thị Hồng P là nguyên đơn trình bày: Bà và ông Phạm Quốc D được tổ chức lễ cưới, có đăng ký kết hôn tại UBND xã Q, huyện T, tỉnh Long An ngày 03/5/2008. Sau khi cưới vợ chồng chung sống hạnh phúc được một thời gian, đến năm 2022 thì phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân mâu thuẫn là do bất đồng quan điểm không thể hàn gắn lại được, ông D thường xuyên hăm dọa đủ điều làm bà rất lo sợ nên hai người ly thân từ tháng 12 năm 2022 cho đến nay nhưng không hàn gắn được. Nay tình cảm không còn, bà yêu cầu được ly hôn với ông Phạm Quốc D.
Về con chung: Vợ chồng có 02 con chung tên Phạm Lê Khắc D1, sinh ngày 31/8/2008 và Phạm Thị Ngọc M, sinh ngày 23/02/2019, hiện nay con chung đang sống với bà P. Khi ly hôn bà yêu cầu được tiếp tục giữ nuôi con chung tên Phạm Thị Ngọc M; riêng con chung tên Phạm Lê Khắc D1 muốn sống với ông D thì bà đồng ý giao cho ông D nuôi con. Hai bên không phải cấp dưỡng nuôi con cho nhau.
Về tài sản chung: Không có, không yêu cầu giải quyết.
Về nợ chung: Bà cam kết không có nợ chung.
Ông Phạm Quốc D là bị đơn đã được Tòa án tống đạt hợp lệ văn bản tố tụng nhưng ông D vắng mặt nên không có lời trình bày.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
[1] Bà Lê Thị Hồng P xin ly hôn với ông Phạm Quốc D, việc tranh chấp được quy định tại khoản 1 Điều 28, Điều 35 và Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015, nên Tòa án nhân dân huyện Tân Trụ thụ lý giải quyết. Ông Phạm Quốc D đã được Tòa án triệu tập hợp lệ nhiều lần nhưng vắng mặt nên cần áp dụng Điều 227 và Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015, để xét xử vắng mặt đối với ông Phạm Quốc D.
[2] Bà Lê Thị Hồng P và ông Phạm Quốc D được tổ chức lễ cưới vào năm 2008, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã Q, huyện T, tỉnh Long An ngày 03/5/2008, nên pháp luật công nhận là hôn nhân hợp pháp.
[3] Qua lời khai của bà Lê Thị Hồng P, Hội đồng xét xử xét thấy tình cảm vợ chồng giữa bà P và ông D đã phát sinh mâu thuẫn, hai người không còn chung sống với nhau. Bà P xác định tình cảm vợ chồng không còn, mục đích hôn nhân không đạt được nên xin được ly hôn với ông D. Ông D đã được Tòa án triệu tập hợp lệ nhiều lần nhưng vắng mặt, không hợp tác giải quyết việc hôn nhân của các đương sự. Xét thấy giữa hai đương sự đã phát sinh mâu thuẫn, nhưng cả hai không có thiện chí hàn gắn lại, đã vi phạm nghiêm trọng quyền và nghĩa vụ của vợ, chồng làm cho đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được nên cần chấp nhận cho bà Lê Thị Hồng P được ly hôn với ông Phạm Quốc D, theo quy định tại Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014.
[4] Về nuôi con chung: Hai đương sự có với nhau 02 người con chung tên Phạm Lê Khắc D1, sinh ngày 31/8/2008 và Phạm Thị Ngọc M, sinh ngày 23/02/2019, hiện nay đang sống với bà P. Khi ly hôn, bà P yêu cầu được tiếp tục giữ nuôi con chung tên Phạm Thị Ngọc M; riêng con chung tên Phạm Lê Khắc D1 muốn sống với ông D thì bà giao cho ông D nuôi con. Hai bên không phải cấp dưỡng nuôi con cho nhau. Xét thấy yêu cầu của bà P phù hợp với nguyện vọng của con chung tên Phạm Lê Khắc D1, nên chấp nhận. Hai đương sự không phải cấp dưỡng nuôi con chung cho nhau; có quyền thăm nom, chăm sóc con chung không ai được quyền ngăn cản. Cha, mẹ không trực tiếp nuôi con không được lạm dụng việc thăm nom để cản trở hoặc gây ảnh hưởng xấu đến việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con thì người trực tiếp nuôi con có quyền yêu cầu Tòa án hạn chế quyền thăm nom của người đó. Vì lợi ích của con chung các đương sự được quyền xin thay đổi tình trạng nuôi con hoặc việc cấp dưỡng nuôi con, theo quy định tại các Điều 81, 82, 83 và 84 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014.
[5] Về tài sản chung: Bà P khai không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết nên không xem xét giải quyết.
[6] Về nợ chung: Bà P cam kết không có nợ chung, nên không xem xét.
[7] Về án phí: Bà Lê Thị Hồng P phải chịu 300.000 đồng án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm, theo quy định tại Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14, ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án. Ông Phạm Quốc D không phải chịu án phí.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào các Điều 28, 35, 39, 227, 228, 271 và 273 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015.
Căn cứ vào các Điều 56, 81, 82, 83 và 84 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014.
Căn cứ vào Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14, ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội.
Tuyên xử:
- Về hôn nhân: Cho bà Lê Thị Hồng P được ly hôn với ông Phạm Quốc D.
- Về nuôi con chung: Khi ly hôn, bà Lê Thị Hồng P được tiếp tục giữ con chung tên Phạm Thị Ngọc M, sinh ngày 23/02/2019. Ông Phạm Quốc D có trách nhiệm nuôi con tên Phạm Lê Khắc D1, sinh ngày 31/8/2008. Hai đương sự không phải cấp dưỡng nuôi con cho nhau; được quyền đến thăm nom, chăm sóc con chung không ai được quyền ngăn cản. Cha, mẹ không trực tiếp nuôi con lạm dụng việc thăm nom để cản trở hoặc gây ảnh hưởng xấu đến việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con thì người trực tiếp nuôi con có quyền yêu cầu Tòa án hạn chế quyền thăm nom con của người đó. Vì lợi ích của con chung các đương sự được quyền xin thay đổi tình trạng nuôi con hoặc việc cấp dưỡng nuôi con.
- Về án phí: Bà Lê Thị Hồng P phải chịu 300.000 đồng án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm. Cho chuyển số tiền tạm ứng án phí bà P đã nộp là 300.000 đồng sang tiền án phí phải thi hành, theo biên lai thu số 0009311 ngày 25 tháng 01 năm 2024 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Tân Trụ.
- Về quyền kháng cáo: Nguyên đơn có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án; bị đơn có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày được tống đạt hợp lệ bản án, để yêu cầu Tòa án nhân dân tỉnh Long An xét xử phúc thẩm.
- Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 của Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và Điều 9 của Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 của Luật Thi hành án dân sự.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Phạm Văn Thái |
Bản án số 17/2024/HNGĐ-ST ngày 31/05/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TÂN TRỤ TỈNH LONG AN về tranh chấp ly hôn, nuôi con chung
- Số bản án: 17/2024/HNGĐ-ST
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp ly hôn, nuôi con chung
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 31/05/2024
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TÂN TRỤ TỈNH LONG AN
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Lê Thị Hồng P "Ly hôn, tranh chấp nuôi con chung" Phạm Quốc D
