|
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN GIO LINH TỈNH QUẢNG TRỊ Bản án số: 17/2024/HS-ST Ngày 29/5/2024 |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN GIO LINH, TỈNH QUẢNG TRỊ
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Tạ Thanh Tuấn.
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Cổ Thế Chung và bà Trần Thị Cúc.
Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Thanh Tùng - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Gio Linh.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Gio Linh tham gia phiên tòa: Bà Phan Thị Thanh Hiền - Kiểm sát viên.
Ngày 29 tháng 5 năm 2024, tại Tòa án nhân dân huyện Gio Linh, xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 14/2024/HSST ngày 01 tháng 4 năm 2024, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 17/2024/QĐXXST-HS ngày 16 tháng 5 năm 2024, đối với các bị cáo:
Trần Thị C (tên gọi khác: không có), sinh ngày: 16/6/1998, tại tỉnh Quảng Trị; nơi ĐKNKTT: thôn L, xã P, huyện G, tỉnh Quảng Trị; chỗ ở: Khu phố E, thị trấn G, huyện G, tỉnh Quảng Trị; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hóa: 4/12; dân tộc: Kinh; giới tính: nữ; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Trần H và bà Nguyễn Thị T (đã chết); chồng: Lê Văn Đ, sinh năm 1975, trú tại khu phố E, thị trấn G, huyện G, tỉnh Quảng Trị; con: 01 con, sinh năm 2019; tiền án, tiền sự: không. Bị cáo tại ngoại; có mặt.
Trần H (tên gọi khác: không có), sinh ngày: 10/11/1965, tại tỉnh Quảng Trị; nơi ĐKNKTT và chỗ ở: thôn L, xã P, huyện G, tỉnh Quảng Trị; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hóa: 6/12; dân tộc: Kinh; giới tính: nam; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Trần Văn T1 và bà Nguyễn Thị T2 (đều đã chết); vợ: Nguyễn Thị T (đã chết); có 02 con, lớn sinh năm 1993, nhỏ sinh năm 1998; tiền án, tiền sự: không. Bị cáo tại ngoại; có mặt.
- Người bị hại: ông Lê Minh C1, sinh năm: 1949 (đã chết).
Người đại diện hợp pháp của người bị hại:
- + Ông Lê Văn M, sinh năm 1975, vắng mặt;
- + Bà Trần Thị X; sinh năm 1949;
- + Bà Lê Thị L, sinh năm 1974;
- + Ông Lê Văn H1, sinh năm 1971;
- Cùng trú tại: thôn T, xã G, huyện G, tỉnh Quảng Trịng Trị
- + Ông Lê Văn S, sinh năm 1967; trú tại: thôn Q, xã N, huyện Đ, tỉnh Đắk Nông;
- + Bà Lê Thị Tuyết T3, sinh năm 1978; trú tại: thôn G, xã N, huyện Đ, tỉnh Đắk Nông.
- + Ông Lê Tuấn T4, sinh năm 1985; trú tại: Sông X, xã L, huyện C, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu.
Người đại diện theo ủy quyền của người đại diện hợp pháp của bị hại (các ông bà Trần Thị X, Lê Thị L, Lê Văn S, Lê Thị Tuyết T3, Lê Văn H1, Lê Tuấn T4): ông Lê Văn M, trú tại: thôn T, xã G, huyện G, tỉnh Quảng Trịng Trị (Văn bản ủy quyền ngày 18/12/2023, văn bản ủy quyền ngày 07/3/2024), vắng mặt.
- Người bào chữa cho các bị cáo Trần Thị C và Trần H: bà Lê Đỗ Diệu H2 – Trợ giúp viên pháp lý Trung tâm Trợ giúp pháp lý Nhà nước tỉnh Q, có mặt.
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: ông Lê Văn Đ, sinh năm: 1975; trú tại: Khu phố E, thị trấn G, huyện G, vắng mặt.
- Người làm chứng: ông Nguyễn Thanh T5, sinh năm 1982; trú tại: Khu phố F, thị trấn H, huyện V, tỉnh Quảng Trịng Trị, vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 11 giờ 00 phút, ngày 27/10/2023, Trần Thị C không có Giấy phép lái xe theo quy định, nhưng tự ý lấy xe mô tô biển kiểm soát (BKS) 74C1- 184.57 của ông Lê Văn Đ (sinh năm 1975, trú tại khu phố E, thị trấn G, huyện G, chồng của C) đi nhặt ve chai. Khoảng 13 giờ 00 phút cùng ngày, khi đang lưu thông trên Quốc lộ A (trước Nghĩa trang L1 huyện G), theo hướng xã P đi thị trấn G thì thấy bố mình là Trần H đang vác 01 khung kim loại (dạng hình thang, dài 5,63m) đi bộ ở mép đường. Thấy vậy, C dừng xe lại, H choàng thang vào cổ vác trên vai ở vị trí giữa thang dọc về phía bên phải theo chiều hướng xe đang lưu thông, 01 đầu thang chếch vào lề đường, 01 đầu còn lại hướng ra ngoài làn đường xe cơ giới rồi ngồi lên phía sau xe. C điều khiển xe lưu thông trên Quốc lộ A hướng vào chợ C2 để bán cái thang trên. Khi đến Km 743+430m, Quốc lộ A thuộc thị trấn G, huyện G, C điều kiển xe lưu thông trên làn đường dành cho xe thô sơ, do chiếc thang nặng, bị gió làm rung lắc mạnh nên một đầu chiếc thang mà H đang vác lấn sang làn đường dành cho xe cơ giới thứ nhất va chạm vào ông Lê Minh C1 (sinh năm 1949, trú tại thôn T, xã G, huyện G) đang điều khiển xe mô tô BKS 74F1-6207 lưu thông phía sau cùng chiều khiến ông C1 cùng xe mô tô ngã xuống đường. Hậu quả, ông C1 bị thương được đưa đi cấp cứu tại Bệnh viện Đa khoa tỉnh Q sau đó tử vong, H bị thương, xe mô tô BKS 74F1-6207 hư hỏng.
Tại Bản kết luận giám định số 1094/KL-KTHS ngày 08/11/2023 của Phòng K (KTHS) Công an tỉnh Q có nội dung: “Nguyên nhân chết của ông Lê Minh C1 do đa chấn thương”.
Tại Bản kết luận giám định số 1159/KL-KTHS ngày 24/11/2023 của Phòng KTHS Công an tỉnh Q có nội dung: “1. Không tìm thấy dấu vết va chạm giữa xe mô tô BKS 74C1-184.57 và xe mô tô BKS 74F1-6207 tại thời điểm xảy ra tai nạn.
2. Không tìm thấy dấu vết va chạm giữa cơ thể nạn nhân Lê Minh C1 và xe mô tô BKS 74C1-184.57 tại thời điểm xảy ra tai nạn.
3. Có sự va chạm phù hợp giữa phần ống kim loại ở đầu mút trên của khung kim loại (dạng thang) thu tại vị trí số 01 trên hiện trường với phần trước bên phải tại các bộ phận: Tay, vai, cổ của cơ thể nạn nhân và áo của nạn nhân Lê Minh C1 mặc tại thời điểm xảy ra tai nạn theo chiều hướng từ trước ra sau.
Vị trí va chạm phù hợp đầu tiên trên hiện trường giữa K1 (hình thang) thu tại vị trí số 01 với cơ thể nạn nhân Lê Minh C1 là: Khu vực phía trước điểm đầu dấu vết được đánh số 04 (ghi nhận và mô tả trong hồ sơ khám nghiệm) trên Quốc lộ A thuộc phần đường dành cho xe cơ giới có hướng từ V đi Đ.
4. Không có cơ sở xác định tốc độ của xe mô tô BKS 74C1-184.57 và xe mô tô BKS 74F1-6207 liền trước thời điểm xảy ra tai nạn”.
Tại Bản kết luận giám định số 2519/KL-KTHS ngày 14/12/2023 của Phân viện khoa học hình sự tại thành phố Đà Nẵng có nội dung: “Trong mẫu máu ghi thu của Lê Minh C1 gửi giám định không tìm thấy các chất ma túy và sản phẩm chuyển hóa của các chất ma túy".
Tại Bản kết luận giám định số 14-24/KLTTCT-GĐPY ngày 08/01/2024 của Trung tâm giám định y khoa pháp y - Sở Y tế tỉnh T kết luận: “Tỷ lệ phần trăm tổn thương cơ thể của Trần H tại thời điểm giám định là 03%”.
Tại Bản kết luận giám định số 220/KLGĐ ngày 01/02/2024 của Trung tâm pháp y tâm thần khu vực miền T tại tỉnh Thừa Thiên Huế kết luận bị cáo Trần Thị C:
“+ Trước thời điểm gây án:
a. Kết luận về y học: Chậm phát triển tâm thần mức độ nhẹ (F70).
b. Về khả năng nhận thức và khả năng điều khiển hành vi: Hạn chế khả năng nhận thức và khả năng điều khiển hành vi.
+ Tại thời điểm gây án:
a. Kết luận về y học: Chậm phát triển tâm thần mức độ nhẹ (F70).
b. Về khả năng nhận thức và khả năng điều khiển hành vi: Hạn chế khả năng nhận thức và khả năng điều khiển hành vi.
+ Sau thời điểm gây án:
a. Kết luận về y học: Chậm phát triển tâm thần mức độ nhẹ (F70).
b. Về khả năng nhận thức và khả năng điều khiển hành vi: Hạn chế khả năng nhận thức và khả năng điều khiển hành vi”.
Ngày 04/12/2023, Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự huyện G ban hành Bản kết luận định giá số 37/KL-ĐGTS kết luận: "Trị giá thay thế, sửa chữa các bộ phận hư hỏng của xe mô tô BKS 74F1-6207 tại thời điểm ngày 27/10/2023 là 350.000 đồng".
Kết quả đo nồng độ cồn của bị cáo Chung là 0.000mg/1.
Ngày 24/11/2023, Sở Giao thông vận tải tỉnh Q ban hành Công văn số 2603/SGTVT-QLVTPTNL có nội dung: “Sở Giao thông vận tải tỉnh Q chưa cấp Giấy phép lái xe cho bà Trần Thị C, sinh ngày 16/6/1998, số CCCD 04519802122, cư trú tại thôn L, xã P, huyện G, tỉnh Quảng Trị”.
Cáo trạng số 14/CT-VKS-GL ngày 29/3/2024 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Gio Linh truy tố bị cáo Trần Thị C về tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ” quy định tại điểm a khoản 2 Điều 260 Bộ luật Hình sự và truy tố bị cáo Trần H về tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ” quy định tại điểm a khoản 1 Điều 260 Bộ luật Hình sự.
Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Gio Linh giữ nguyên Quyết định truy tố bị cáo Trần Thị C và Trần H về tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ” và đề nghị Hội đồng xét xử:
Áp dụng điểm a khoản 2 Điều 260; các điểm b, s, q khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 54; Điều 65 Bộ luật hình sự, xử phạt bị cáo Trần Thị C từ 27 đến 30 tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách 54 tháng đến 60 tháng tính từ ngày tuyên án sơ thẩm.
Áp dụng điểm a khoản 1 Điều 260; các điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 65 Bộ luật hình sự, xử phạt bị cáo Trần H từ 15 đến 18 tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách 30 tháng đến 36 tháng tính từ ngày tuyên án sơ thẩm.
Về trách nhiệm dân sự: Các bị cáo thoả thuận với ông Lê Văn M là đại diện hợp pháp của bị hại bồi thường số tiền 10.000.000 đồng (mỗi bị cáo 5.000.000 đồng), gồm chi phí mai táng và thiệt hại đối với xe mô tô BKS 74F1- 6207. Ngoài ra, các bên không yêu cầu bồi thường gì thêm nên không đề nghị xem xét.
Đề nghị HĐXX miễn án phí hình sự sơ thẩm cho các bị cáo theo quy định.
Về vật chứng: Quá trình điều tra, Cơ quan điều tra tạm giữ các đồ vật, tài liệu gồm xe mô tô BKS 74C1-184.57 kèm Giấy chứng nhận đăng ký xe của ông Lê Văn Đ. Xe mô tô BKS 74F1-6207 kèm Giấy chứng nhận đăng ký xe và Giấy chứng nhận bảo hiểm bắt buộc trách nhiệm dân sự chủ xe mô tô của ông Lê Văn M. 01 Giấy phép lái xe hạng A1, 01 quần vải, 01 áo sơ mi của bị hại. Xét thấy không ảnh hưởng đến quá trình giải quyết vụ án nên đã trả lại cho các chủ sở hữu nên không đề nghị.
Riêng thang kim loại của bị cáo H, tại phiên tòa bị cáo không có nguyện vọng nhận lại đề nghị HĐXX tịch thu tiêu hủy.
Tại phiên tòa người bào chữa cho cáo bị cáo Trần Thị C và Trần H bà Lê Đỗ Diệu H2 thống nhất với đề nghị của Viện kiểm sát về tội danh và các tình tiết giảm nhẹ đối với 02 bị cáo. Riêng bị cáo Trần Thị C người bào chữa đề nghị áp dụng thêm tình tiết giảm nhẹ “Người phạm tội là người khuyết tật nặng” được quy định tại điểm p khoản 1 Điều 51 Bộ Luật hình sự. Về mức hình phạt Người bào chữa thống nhất với mức hình phạt mà Kiểm sát viên đưa đề nghị, và đề nghị Hội đồng xét xử xử phạt bị cáo Trần Thị C từ 27 đến 30 tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách 54 tháng đến 60 tháng tính từ ngày tuyên án sơ thẩm và Trần H từ 15 đến 18 tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách 30 tháng đến 36 tháng tính từ ngày tuyên án sơ thẩm.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về tính hợp pháp của hành vi tố tụng, quyết định tố tụng: Đối với hành vi, quyết định của Cơ quan điều tra Công an huyện G, Điều tra viên; Viện kiểm sát nhân dân huyện G, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra, truy tố cũng như tại phiên tòa bị cáo, người đại diện hợp pháp của bị hại không có ý kiến gì hoặc có khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng nên Hội đồng xét xử không xem xét.
[2] Về tội danh:
Khoảng 11 giờ 00 phút ngày 27/10/2023, tại Km 743+430m Quốc lộ A thuộc khu phố A, thị trấn G, huyện G, tỉnh Quảng Trị, Trần Thị C không có Giấy phép lái xe theo quy định nhưng điều khiển xe mô tô BKS 74C1-184.57 lưu thông về phía bên phải theo hướng Bắc – Nam trên làn đường dành cho xe thô sơ, chở phía sau bị cáo Trần H vác 01 thang kim loại (là vật cồng kềnh, dài 5.63m, dạng hình thang), do bị gió làm rung lắc mạnh, tay H giữ không chặt dẫn đến đầu mút thang phía sau lấn sang làn đường dành cho xe cơ giới thứ nhất va chạm với ông Lê Minh C1 đang điều khiển xe mô tô BKS 74F1-6207 lưu thông phía sau cùng chiều gây tại nạn. Hậu quả làm ông C1 chết, bị cáo H bị thương và xe mô tô BKS 74F1-6207 hư hỏng.
Hành vi của bị cáo Trần Thị C đã vi phạm các khoản 9, 23 Điều 8 Luật Giao thông đường bộ.
Khoản 9, khoản 23 Điều 8 Luật Giao thông đường bộ quy định “Điều 8: Các hành vi bị nghiêm cấm
9)Điều khiển xe cơ giới không có giấy phép lái xe theo quy định ........
23)Hành vi vi phạm quy tắc giao thông đường bộ, hành vi khác gây nguy hiểm cho người và phương tiện tham gia giao thông đường bộ.”
Khoản 23 Điều 8 Luật Giao thông đường bộ được hướng dẫn tại điểm k khoản 3 Điều 6 Nghị định số 100/NĐ-CP ngày 30/12/2019 của Chính phủ: “Người đang điều khiển xe hoặc chở người ngồi trên xe mang vác vật cồng kềnh”. Hành vi của bị cáo đủ yếu tố cấu thành tội: “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”, theo quy định tại điểm a khoản 2 Điều 260 của Bộ luật hình sự.
Hành vi ngồi trên xe mô tô mang vác thang kim loại cồng kềnh lấn sang làn đường dành cho xe cơ giới gây tai nạn dẫn đến ông C1 chết của bị cáo Trần H vi phạm điểm a khoản 4 Điều 30 Luật Giao thông đường bộ “4. Người ngồi trên xe mô tô hai bánh, xe mô tô ba bánh, xe gắn máy khi tham gia giao thông không được thực hiện các hành vi sau đây: a) Mang, vác vật cồng kềnh....”. Hành vi của bị cáo đủ yếu tố cấu thành tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”, theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 260 của Bộ luật hình sự.
Như vậy, bản Cáo trạng số 14/CT-VKS-GL ngày 29 tháng 03 năm 2024 truy tố bị cáo Trần Thị C về tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ” theo điểm a khoản 2 Điều 260 Bộ luật hình sự và bị cáo Trần H về tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ” theo điểm a khoản 1 Điều 260 Bộ luật hình sự là có cơ sở, đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.
Hành vi của các bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, không những xâm phạm trực tiếp đến tính mạng, tài sản của người khác mà còn làm cho tình hình trật tự, trị an của địa phương kém ổn định, nhân dân lo lắng thiếu an tâm khi tham gia giao thông. Do vậy, Hội đồng xét xử thấy cần áp dụng mức án tương xứng với hành vi của các bị cáo mới có tác dụng cải tạo, giáo dục trực tiếp đối với các bị cáo đồng thời răn đe, phòng ngừa chung trong xã hội.
[3] Về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:
Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: các bị cáo không có tình tiết tăng nặng.
Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Trong quá trình điều tra, truy tố và xét xử, các bị cáo đã thành khẩn khai báo ăn năn hối cải đối với hành vi phạm tội của mình; các bị cáo đã tự nguyện bồi thường đầy đủ thiệt hại cho bị hại; các bị cáo thuộc diện hộ nghèo, người đại diện hợp pháp của bị hại có đơn xin giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho các bị cáo. Vì vậy, các bị cáo được hưởng các tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự. Riêng bị cáo Chung trước, trong và sau khi phạm tội là người có bệnh bị hạn chế khả năng nhận thức hoặc khả năng điều khiển hành vi của mình nên được áp dụng thêm điểm q khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự.
Đối với ý kiến của Người bào chữa cho bị cáo Trần Thị C đề nghị áp dụng thêm tình tiết giảm nhẹ “Người phạm tội là người khuyết tật nặng” được quy định tại điểm p khoản 1 Điều 51 Bộ Luật hình sự. Hội đồng xét xử thấy rằng bị cáo Trần Thị C có giấy xác nhận khuyết tật và thuộc dạng khuyết tật thiểu năng trí tuệ mức độ nặng. Trong quá trình điều tra đã tiến hành giám định pháp y tâm thần và lấy lời khai của của những người sống, tiếp xúc thường xuyên với bị cáo Chung đủ cơ sở xác định dạng khuyết tật thiểu năng trí tuệ của bị cáo là nguyên nhân dẫn đến bệnh hạn chế khả năng nhận thức và điều khiển hành vi của Trần Thị C nên bị cáo chỉ được hưởng một tình tiết giảm nhẹ “Người phạm tội là người có bệnh bị hạn chế khả năng nhận thức hoặc khả năng điều khiển hành vi của mình” được quy định tại điểm q khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự. Vì vậy, không chấp nhận ý kiến này của Người bào chữa.
[4] Về hình phạt:
Hội đồng xét xử thấy rằng:
Đối với bị cáo Trần Thị C có tập trung 03 tình tiết giảm nhẹ ở khoản 1 và khoản 2 Điều 51 BLHS, bị cáo có nhân thân tốt, chưa có tiền án, tiền sự; có nơi cư trú ổn định, rõ ràng; bị cáo là người khuyết tật nặng về thiểu năng trí tuệ dẫn đến chậm phát triển tâm thần mức độ nhẹ, hạn chế khả năng nhận thức và khả năng điều khiển hành vi; trước lần phạm tội này, luôn chấp hành tốt đường lối, chủ trương của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước nên áp dụng khoản 1 Điều 54 Bộ luật hình sự xử phạt bị cáo dưới thấp nhất của khung hình phạt, không cần thiết phải cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội mà áp dụng khoản 1, khoản 2 Điều 65 Bộ luật hình sự cho bị cáo hưởng án treo, ấn định thời gian thử thách, giao bị cáo cho chính quyền địa phương phối hợp với gia đình giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách án treo là đủ tác dụng cải tạo, giáo dục bị cáo trở thành công dân có ích cho xã hội, qua đó thể hiện chính sách nhân đạo, khoan hồng của pháp luật.
Đối với bị cáo Trần H có tập trung 02 tình tiết giảm nhẹ ở khoản 1 và khoản 2 Điều 51 BLHS lại có nhân thân tốt, chưa có tiền án, tiền sự; có nơi cư trú ổn định, rõ ràng; trước lần phạm tội này, luôn chấp hành tốt đường lối, chủ trương của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước nên không cần thiết phải cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội mà áp dụng khoản 1, khoản 2 Điều 65 Bộ luật hình sự cho bị cáo hưởng án treo, ấn định thời gian thử thách, giao bị cáo cho chính quyền địa phương phối hợp với gia đình giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách án treo là đủ tác dụng cải tạo, giáo dục bị cáo trở thành công dân có ích cho xã hội, qua đó thể hiện chính sách nhân đạo, khoan hồng của pháp luật.
Về hình phạt bổ sung: Theo quy định tại khoản 5 Điều 260 BLHS về hình phạt bổ sung thì thấy rằng: Các bị cáo thuộc diện hộ nghèo không có nghề nghiệp và thu nhập ổn định nên không áp dụng hình phạt bổ sung đối với các bị cáo.
[5] Về trách nhiệm dân sự: Trong quá trình điều tra các bị cáo thoả thuận với ông Lê Văn M là đại diện hợp pháp của bị hại bồi thường số tiền 10.000.000 đồng (mỗi bị cáo 5.000.000 đồng), gồm chi phí mai táng và thiệt hại đối với xe mô tô BKS 74F1- 6207. Các bị cáo đã bồi thường đủ và các bên không yêu cầu bồi thường gì thêm, nên Hội đồng xét xử không xem xét.
[6] Xử lý vật chứng và đồ vật liên quan:
- Quá trình điều tra, Cơ quan điều tra tạm giữ các đồ vật, tài liệu gồm xe mô tô BKS 74C1-184.57 kèm Giấy chứng nhận đăng ký xe của ông Lê Văn Đ. Xe mô tô BKS 74F1-6207 kèm Giấy chứng nhận đăng ký xe và Giấy chứng nhận bảo hiểm bắt buộc trách nhiệm dân sự chủ xe mô tô của ông Lê Văn M; 01 Giấy phép lái xe hạng A1, 01 quần vải, 01 áo sơ mi của bị hại. Xét thấy không ảnh hưởng đến quá trình giải quyết vụ án nên đã trả lại cho các chủ sở hữu là có căn cứ, nên Hội đồng xét xử không xem xét.
- Đối với thang kim loại của bị cáo H, tại phiên tòa bị cáo cho rằng thang kim loại này đã rĩ rét và không còn giá trị sử dụng nên không yêu cầu được nhận lại. Thấy rằng, đây là vật chứng không có giá trị sử dụng cần tịch thu tiêu hủy.
[7] Về áp dụng biện pháp ngăn chặn: các bị cáo được Tòa án xử phạt tù cho hưởng án treo nên cần hủy bỏ các lệnh cấm đi khỏi nơi cư trú số 11, 12/2024/HSST-LCĐKNCT ngày 01/4/2024 của Tòa án nhân dân huyện Gio Linh đối với các bị cáo.
[8] Về án phí: Các bị cáo Trần Thị C và Trần H thuộc diện hộ nghèo và có đơn xin miễn án phí, Hội đồng xét xử quyết định miễn án phí hình sự sơ thẩm cho các bị cáo.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH
Tuyên bố các bị cáo Trần Thị C và Trần H phạm tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”.
- Áp dụng điểm a khoản 2 Điều 260; các điểm b, s, q khoản 1, khoản 2 Điều 51; khoản 1 Điều 54 và khoản 1, khoản 2 Điều 65 Bộ luật Hình sự, xử phạt: bị cáo Trần Thị C 27(Hai bảy) tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách là 54(Năm tư) tháng, tính từ ngày tuyên án sơ thẩm (29/5/2024).
- Áp dụng điểm a khoản 1 Điều 260; các điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; khoản 1, khoản 2 Điều 65 Bộ luật Hình sự, xử phạt: bị cáo Trần H 15(Mười lăm) tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách là 30 (Ba mươi) tháng, tính từ ngày tuyên án sơ thẩm (29/5/2024).
Giao bị cáo Trần Thị C và bị cáo Trần H cho UBND xã P, huyện G, tỉnh Quảng Trị giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách án treo. Gia đình bị cáo có trách nhiệm phối hợp với chính quyền trong việc giám sát, giáo dục bị cáo. Trường hợp bị cáo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định tại khoản 3 Điều 92 của Luật thi hành án hình sự.
Trong thời gian thử thách, người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ 02 lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc người được hưởng án treo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo.
Về xử lý vật chứng: Căn cứ khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự, tịch thu tiêu hủy 01 cái thang hình khung kim loại, dài 5,63m.
Vật chứng trên có tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Gio Linh, tỉnh Quảng Trị theo biên bản giao, nhận đồ vật, tài liệu, vật chứng ngày 02/4/2024, giữa Cơ quan điều tra và Chi cục Thi hành án dân sự huyện Gio Linh.
Về án phí: Căn cứ điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH114 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về án phí, lệ phí Tòa án, xử: các bị cáo Trần Thị C và Trần H được miễn án phí hình sự sơ thẩm.
Về quyền kháng cáo đối với bản án: các bị cáo có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án (29/5/2024); người đại diện hợp pháp của bị hại, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết; riêng người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan chỉ được quyền kháng cáo về những vấn đề trực tiếp liên quan đến quyền lợi và nghĩa vụ của mình.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa Tạ Thanh Tuấn |
Bản án số 17/2024/HS-ST ngày 29/05/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN GIO LINH, TỈNH QUẢNG TRỊ về vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ
- Số bản án: 17/2024/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 29/05/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN GIO LINH, TỈNH QUẢNG TRỊ
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Nguyễn Thị C
