TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THUẬN BẮC TỈNH NINH THUẬN Bản án số: 17/2024/HS-ST. Ngày: 28-8-2024. | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
NHÂN DANH NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THUẬN BẮC - TỈNH NINH THUẬN
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Phan Phước Trí.
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Võ Xuân Hiền, ông Đoàn Hữu Hoan .
Thư ký phiên toà: Ông Nông Duy Nạnh – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Thuận Bắc.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Thuận Bắc, tỉnh Ninh Thuận tham gia phiên toà: Ông Nguyễn Duy Luân – Kiểm sát viên.
Ngày 28 tháng 8 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Thuận Bắc, tỉnh Ninh Thuận mở phiên tòa xét xử sơ thẩm, công khai vụ án hình sự thụ lý số 22/2024/TLST-HS ngày 08/8/2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 18/2024/QĐXXST-HS ngày 14/8/2024 đối với bị cáo:
NGUYỄN THỊ MỸ H1, sinh ngày 20/12/1980 tại Khánh Hoà; Nơi cư trú:
thôn S, xã C, thành phố C, tỉnh Khánh Hòa. Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ văn hoá: 8/12; Giới tính: Nữ; Dân tộc: Kinh; Quốc tịch: Việt Nam; Tôn giáo: Công giáo; Cha: Nguyễn S – sinh năm 1951, Mẹ: Đinh Thị L – sinh năm 1958; Chồng: Nguyễn Văn T – sinh năm 1976.
Tiền sự: Không.
Tiền án:
- Ngày 08/02/2007, bị Tòa án thị xã Cam Ranh (nay là thành phố C), tỉnh Khánh Hòa xử phạt 07 năm tù về tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản”. Ngày 06/5/2012 chấp hành xong hình phạt tù.
- Ngày 04/02/2021, bị Tòa án nhân dân huyện Long Thành, tỉnh Đồng Nai xử phạt 01 năm tù về tội “Trộm cắp tài sản”.
- Ngày 07/4/2021, bị Tòa án huyện N, tỉnh Đồng Nai xử phạt 01 năm 06 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”. Tổng hình phạt với bản án của Tòa án nhân dân huyện Long Thành là 02 năm 06 tháng tù. Ngày 12/5/2023 chấp hành xong hình phạt tù.
Nhân thân: Ngày 23/7/2024, bị Toà án nhân dân huyện Cam Lâm, tỉnh Khánh Hòa xử phạt 02 năm 06 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”. Bản án bị kháng cáo theo Thông báo về việc kháng cáo số 13/2024/TB-TA ngày 20/8/2024 của Toà án nhân dân huyện Cam Lâm, tỉnh Khánh Hòa.
Bị cáo đang được tại ngoại tại nơi cư trú (có mặt tại phiên tòa).
Bị hại: Chị Chamaléa Thị H - sinh năm 1990 (xin vắng mặt).
Nơi cư trú: thôn B, xã L, huyện T, tỉnh Ninh Thuận
Người làm chứng:
- Nguyễn Văn T, sinh năm 1997 (vắng mặt).
- Nơi cư trú: thôn S, xã C, thành phố C, tỉnh Khánh Hòa.
- Nguyễn Minh Đ, sinh năm 1998 (vắng mặt).
- Đinh Thị L, sinh năm 1958 (vắng mặt).
Cùng cư trú: thôn T, xã C, thành phố C, tỉnh Khánh Hòa.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 05 giờ ngày 25/3/2024, Nguyễn Thị Mỹ H1 - sinh năm 1980 trú tại thôn S, xã C, thành phố C, tỉnh Khánh Hòa đang điều khiển xe mô tô biển số 79 C1-712.87 chạy trên đường để đến xã C, huyện C, tỉnh Khánh Hòa làm thuê thì nhận được điện thoại của chỗ làm báo nghỉ làm nên H1 điều khiển xe mô tô đi về lại nhà. Trên đường đi, H1 nảy sinh ý định đi tìm kiếm nhà người dân nào sở hở trong việc quản lý tài sản để trộm cắp. Nghĩ đến khu vực huyện T, tỉnh Ninh Thuận có người đồng bào dân tộc sinh sống, dễ lấy tài sản nên H1 điều khiển xe mô tô đi theo đường Q hướng vào huyện T. Khi chạy đến vòng xoay trước cổng chào Trung tâm huyện T, H1 điều khiển xe mô tô rẽ phải rồi chạy thẳng qua đường ray xe lửa và chạy đến thôn B, xã L, huyện T, tỉnh Ninh Thuận. Trong lúc điều khiển xe chạy trên đường nội thôn thuộc thôn B, xã L thì H1 nhìn thấy trong tiệm tạp hóa của chị Chamaléa Thị H - sinh năm 1990 có một mình chị H bán hang hoá nên nảy sinh ý định đi vào để lấy trộm tiền hoặc card điện thoại. H1 dừng xe mô tô ở trước tiệm tạp hóa rồi đi bộ vào bên trong thì nhìn thấy trên giường gỗ có giỏ nhựa đựng đồ, bên trong giỏ có cái bóp da màu đen chứa nhiều tiền nên nảy sinh ý định lấy trộm. Để thực hiện hành vi lấy trộm tiền, H1 đã nói dối với chị H cần mua đồ để cho chị H tập trung đi lấy đồ bán cho H1 và H1 có thời gian tiếp cận giỏ đựng đồ để lấy trộm tiền bên trong bóp da. Trong lúc chị H đang lấy đồ bán cho H1 thì H1 đi đến ngồi trên giường gỗ gần sát với giỏ nhựa có đựng tiền bên trong, rồi dùng tay lấy 01 sấp tiền có cột dây thun ở trong bóp da và để vào bên trong túi áo khoác của H1. Ngay lúc này, chị H lấy đủ đồ và đưa cho H1 thì H1 nói dối với chị H sẽ quay lại lấy sau. Sau đó, H1 đi đến nơi dựng xe mô tô rồi điều khiển chạy ra lại theo hướng lúc đầu đi vào. Sau khi trộm cắp được tiền, H1 điều khiển xe mô tô chạy đến chợ Trung tâm huyện T để mua đồ. H1 lấy 05 tờ tiền mệnh giá 20.000 đồng trong sấp tiền vừa lấy trộm ra mua 01 ký thịt heo giá 95.000 đồng, còn 5.000 đồng, H1 để vào trong túi áo khoác rồi điều khiển xe chạy ra đường Q để về thành phố C, tỉnh Khánh Hòa. Trên đường đi, H1 dừng xe mô tô để đi vệ sinh và lấy số tiền trộm cắp ra đếm được 474.000 đồng và 5.000 đồng tiền mua thịt heo còn dư, rồi H1 tiếp tục điều khiển xe mô tô chạy về nhà ở thành phố C, tỉnh Khánh Hòa. Sau khi về đến nhà, H1 cất giấu số tiền trộm cắp 479.000 đồng cùng với số tiền 150.000 đồng của H1 đi làm thuê có được vào trong tủ kính và sau đó đã tiêu xài cá nhân hết.
Sau khi H1 điều khiển xe chạy đi, chị H đi đến nơi giỏ nhựa đựng tiền để kiểm tra thì phát hiện sấp tiền có buộc sợi dây thun đã bị mất khoảng 8.000.000 đồng nên đã trình báo sự việc đến Công an huyện T. Qua điều tra, Cơ quan điều tra Công an huyện T đã triệu tập H1 đến làm việc và H1 đã khai nhận hành vi trộm cắp của mình, đồng thời tạm giữ số tiền mang theo người của H1 là 8.615.000 đồng.
Qua điều tra, Nguyễn Thị Mỹ H1 khẳng định trộm cắp của bị hại Chamaléa Thị H số tiền 574.000 đồng (Năm trăm bảy mươi bốn ngàn đồng), còn bị hại Chamaléa Thị H khẳng định bị mất trộm số tiền khoảng 8.000.000 đồng (Tám triệu đồng). Do có mâu thuẫn giữa lời khai của bị cáo và bị hại trong việc xác định số tiền mà bị cáo chiếm đoạt nên Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện T đã tiến hành đối chất theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Kết quả bị cáo Nguyễn Thị Mỹ H1 và bị hại Chamaléa Thị H vẫn giữ nguyên số tiền chiếm đoạt như lời khai ban đầu.
Tại bản Cáo trạng số 22/CT-VKSTB, ngày 08/8/2024 của Viện Kiểm sát nhân dân huyện Thuận Bắc, tỉnh Ninh Thuận đã truy tố bị cáo Nguyễn Thị Mỹ H1 về tội “Trộm cắp tài sản” quy định tại điểm b khoản 1 Điều 173 của Bộ luật Hình sự (BLHS).
Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát giữ quyền công tố luận tội và tranh luận: Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm b khoản 1 Điều 173; điểm b, h, s khoản 1 Điều 51 BLHS xử phạt bị cáo Nguyễn Thị Mỹ H1 từ 06 đến 09 tháng tù.
Về trách nhiệm dân sự: Người bị hại đã nhận lại đủ tài sản, không có yêu cầu bồi thường nên không đề nghị xem xét.
Quá trình điều tra bị hại Chamaléa Thị H khẳng định bị mất trộm số tiền khoảng 8.000.000 đồng (Tám triệu đồng). Do có mâu thuẫn giữa lời khai của bị cáo và bị hại trong việc xác định số tiền mà bị cáo chiếm đoạt nên quá trình điều tra đã tiến hành đối chất theo quy định. Kết quả bị cáo Nguyễn Thị Mỹ H1 và bị hại Chamaléa Thị H vẫn giữ nguyên số tiền chiếm đoạt như lời khai ban đầu. Căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án có đủ căn cứ xác định bị cáo Nguyễn Thị Mỹ H1 đã trộm cắp của bị hại Chamaléa Thị H số tiền 574.000đ.
Tại phiên tòa, bị cáo khai nhận đã thực hiện hành vi phạm tội như nội dung Cáo trạng truy tố, không tranh luận với lời luận tội của đại diện Viện kiểm sát.
Bị cáo nói lời nói sau cùng: Xin Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện T, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Thuận Bắc, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo, người bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
[2] Tại phiên tòa, bị cáo Nguyễn Thị Mỹ H1 đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình. Lời khai của bị cáo phù hợp với lời khai của người bị hại, của người làm chứng tại cơ quan điều tra, các chứng cứ khác được thu thập tại hồ sơ vụ án và tại phiên tòa là hoàn toàn phù hợp nên có đủ cơ sở để xác định bị cáo đã thực hiện hành vi cụ thể như sau: Ngày 25/3/2024, bị cáo Nguyễn Thị Mỹ H1 đã lén lút chiếm đoạt số tiền 574.000 đồng của bị hại Chamaléa Thị H tại thôn B, xã L, huyện T, tỉnh Ninh Thuận. Mặc dù số tiền chiếm đoạt dưới 2.000.000 đồng nhưng bị cáo H1 đã bị kết án về các tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” và tội “Trộm cắp tài sản”, chưa được xoá án tích mà còn vi phạm nên phải bị xử lý về tội “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại điểm b khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự. Vì vậy, Viện Kiểm sát nhân dân huyện Thuận Bắc truy tố bị cáo Nguyễn Thị Mỹ H1 về tội “Trộm cắp tài sản” theo tại điểm b khoản 1 Điều 173 của Bộ luật Hình sự là có căn cứ, đúng pháp luật.
[3] Xét thấy hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, không những trực tiếp xâm phạm đến quyền sở hữu tài sản của người khác được pháp luật bảo vệ mà còn gây ảnh hưởng xấu đến tình hình an ninh trật tự ở địa phương. Do đó, cần xử lý nghiêm đối với bị cáo mới có tác dụng nhằm răn đe, giáo dục riêng và phòng ngừa chung.
Xét tính chất, mức độ hành vi phạm tội của bị cáo, mức độ hành vi nguy hiểm cho xã hội, những tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và nhân thân của bị cáo thấy rằng: Bị cáo H1 là người có đầy đủ năng lực trách nhiệm hình sự, có đủ nhận thức về việc chiếm đoạt tài sản của người khác là vi phạm pháp luật, bị cáo là người đã có nhiều tiền án về hành vi chiếm đoạt tài sản của người khác, đã bị xử phạt tù nhiều lần nhưng bị cáo không lấy đó làm bài học tu dưỡng cho bản thân mà còn tiếp tục phạm tội, điều này chứng tỏ bị cáo rất xem thường pháp luật vì vậy phải xử lý thật nghiêm nhằm răn đe, cải tạo bị cáo thành người tốt. Tuy nhiên, quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa, bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, tài sản bị chiếm đoạt có giá trị không lớn và đã được thu hồi, bị cáo đã khắc phục hậu quả. Đây là các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm b, h, s, khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự nên Hội đồng xét xử sẽ xem xét cho bị cáo.
[4] Về trách nhiệm dân sự: Trong quá trình điều tra bị hại đã nhận lại đủ tài sản và không yêu cầu gì thêm nên không đặt ra vấn đề giải quyết.
[5] Về xử lý vật chứng:
Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện T đã tạm giữ và trả các tài sản, đồ vật gồm:
- Xe mô tô biển số 79C1-712.87, số máy E32VE619969, số khung RLCUE3740NY155157. Qua điều tra xác định, đây là tài sản thuộc sở hữu riêng của anh Nguyễn Văn T (chồng bị cáo H1). Việc H1 sử dụng xe mô tô này làm phương tiện để đi lấy trộm tài sản thì anh T hoàn toàn không biết nên Cơ quan điều tra đã trả lại xe mô tô cho anh T là có căn cứ.
- 01 nhẫn tròn bằng kim loại màu vàng, đường kính 17mm, rộng 3,5mm, bên trong có chữ “KIM KH HOA 1C 9999” và số tiền 6.700.000 đồng (Sáu triệu bảy trăm ngàn đồng). Qua điều tra xác định, đây là tài sản của anh Nguyễn Minh Đ (con ruột bị cáo H1) gửi H1 giữ giúp nên Cơ quan điều tra Công an huyện T đã trả lại cho anh Đ là có căn cứ.
- Số tiền 1.915.000đ (Một triệu chín trăm mười lăm ngàn đồng); 01 điện thoại di động nhãn hiệu VSMART, kèm theo sim số 0988.073.653; 01 sợi dây chuyển bằng kim loại màu vàng, dạng mắt xích, dài 50cm, rộng 4mm; 01 nhẫn bằng kim loại màu vàng có đính hạt màu đỏ hình bầu dục, xung quanh hạt màu đỏ có đính hạt màu trắng dạng tròn đường kính 2mm. Qua điều tra xác định, đây là tài sản thuộc sở hữu của bị cáo Nguyễn Thị Mỹ H1 và H1 không sử dụng vào việc phạm tội nên Cơ quan điều tra Công an huyện T đã trả lại cho bị cáo H1 là có căn cứ.
[6] Xét quan điểm của Viện Kiểm sát về việc định tội và định khung hình phạt đối với bị cáo H1, các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và nhân thân của bị cáo là hoàn toàn tương xứng với tính chất, mức độ hành vi nguy hiểm cho xã hội, quan điểm xử lý vật chứng, quan điểm về trách nhiệm dân sự là có căn cứ, đúng pháp luật, phù hợp với nhận định của HĐXX nên được chấp nhận.
[7] Về án phí: Căn cứ vào Điều 136 Bộ luật tố Tụng hình sự; Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định án phí và lệ phí Tòa án. Bị cáo phải chịu 200.000đ án phí hình sự sơ thẩm.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào: Điểm b khoản 1 Điều 173; điểm b, h, s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự và Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định án phí và lệ phí Tòa án.
Tuyên bố: Bị cáo Nguyễn Thị Mỹ H1 phạm tội “Trộm cắp tài sản”.
Xử phạt: Bị cáo Nguyễn Thị Mỹ H1 09 (chín) tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bị bắt thi hành án.
Về án phí: Bị cáo Nguyễn Thị Mỹ H1 phải chịu 200.000đ (hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.
Án xử sơ thẩm, công khai, Bị cáo có mặt tại phiên tòa, có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Bị hại vắng mặt, có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày được tống đạt hợp lệ bản án.
Nơi nhận:
| TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Phan Phước Trí |
Bản án số 17/2024/HS-ST ngày 28/08/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THUẬN BẮC - TỈNH NINH THUẬN về trộm cắp tài sản
- Số bản án: 17/2024/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Trộm cắp tài sản
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 28/08/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THUẬN BẮC - TỈNH NINH THUẬN
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Nguyễn Thị Mỹ H phạm tội trộm cắp tài sản
