Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

TỈNH SƠN LA

Bản án số: 17/2024/HS-PT

Ngày 27 - 5 - 2024

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH SƠN LA

- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

  • Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Đinh Thị Mai Lan.
  • Các Thẩm phán: Bà Tòng Thị Hiền, ông Đỗ Tuấn Long.
  • Thư ký phiên tòa: Bà Đào T Hương - Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Sơn La.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Sơn La tham gia phiên tòa: Bà Hoàng Thị Thủy - Kiểm sát viên.

Ngày 27 tháng 5 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Sơn La xét xử công khai vụ án hình sự phúc thẩm thụ lý số: 20/2024/TLPT-HS ngày 16 tháng 02 năm 2024, đối với bị cáo Nguyễn Thị C và đồng phạm, do có kháng cáo của các bị cáo Nguyễn Thị C và Dương Thị T đối với Bản án hình sự sơ thẩm số: 51/2024/HS-ST ngày 04 tháng 01 năm 2024 của Toà án nhân dân huyện Mộc Châu, tỉnh Sơn La. Theo Quyết đưa vụ án ra xét xử số: 21/2024/QĐXXPT-HS ngày 13/3/2024; Quyết định hoãn phiên tòa số 12/2024/HSPT-QĐ ngày 27 tháng 3 năm 2024; Quyết định hoãn phiên tòa số 13/2024/HSPT-QĐ ngày 23 tháng 4 năm 2024; Thông báo thay đổi ngày xét xử số 966/TB-HS ngày 15 tháng 5 năm 2024.

- Các bị cáo có kháng cáo:

1. Nguyễn Thị C, sinh ngày 15/01/1967 tại huyện KC, tỉnh HY; nơi cư trú: Thôn BS 2, xã TD, huyện KC, tỉnh HY; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hoá: 01/10; dân tộc: Kinh; giới tính: Nữ; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Thế T và bà Phan Thị TH; bị cáo có chồng là Nguyễn Đắc Đ (đã chết) và 03 con (con lớn nhất sinh năm 1990, con nhỏ nhất sinh năm 1996); tiền án, tiền sự: Không;

Nhân thân:

  • + Ngày 18/7/1997, bị Toà án nhân dân huyện KĐ, tỉnh HY xử phạt 12 tháng tù cho hưởng án treo, thời gian thử thách 24 tháng về tội Trộm cắp tài sản (Đã được xoá án tích);
  • + Ngày 14/3/2007, bị Toà án nhân dân thành phố Hà Nội xử phạt 09 tháng tù về tội Trộm cắp tài sản (Đã được xoá án tích);
  • + Ngày 16/6/2009, bị Toà án nhân dân thành phố Hà Nội xử phạt 06 tháng tù cho hưởng án treo, thời gian thử thách 12 tháng về tội Trộm cắp tài sản (Đã được xoá án tích);
  • + Ngày 18/11/2011, bị Công an quận Đống Đa, thành phố Hà Nội xử phạt vi phạm hành chính về hành vi Trộm cắp tài sản (Đã được xoá tiền sự).

Bị cáo bị tạm giam từ ngày 03/9/2023. Có mặt tại phiên toà.

2. Dương Thị T, sinh ngày 12/12/1964 tại huyện Bắc Sơn, tỉnh Lạng Sơn; nơi cư trú: Thôn BS 3, xã TD, huyện KC, tỉnh HY; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hoá: 07/10; dân tộc: Kinh; giới tính: Nữ; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Dương Công T (đã chết) và bà Hoàng Thị M; bị cáo có chồng là Nguyễn Đức T (đã chết) và 03 con (con lớn nhất sinh năm 1983, con nhỏ nhất sinh năm 1989); tiền án, tiền sự: Không;

Nhân thân:

  • + Ngày 15/8/2017, bị Toà án nhân dân huyện BH, tỉnh Lào Cai xử phạt 10 tháng tù cho hưởng án treo, thời gian thử thách 20 tháng về tội Trộm cắp tài sản (Đã được xoá án tích);
  • + Ngày 01/7/2021, bị Công an thành phố TN, tỉnh Thái Nguyên xử phạt vi phạm hành chính về hành vi Trộm cắp tài sản, mức phạt 1.500.000 đồng.

Bị cáo bị tạm giam từ ngày 03/9/2023. Có mặt tại phiên toà.

3. Nguyễn Lê TA, Tòa án không triệu tập.

Ngoài ra còn có các bị hại không có kháng cáo, không bị kháng nghị Toà án không triệu tập.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên toà sơ thẩm, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Nguyễn Thị C, Dương Thị T, Nguyễn Lê TA biết huyện MC tổ chức lễ hội 2/9 tại khu vực trung tâm hai thị trấn tập trung đông người nên chiều ngày 31/8/2023 T gọi điện thoại rủ C lên huyện MC mục đích lợi dụng sơ hở của du khách để trộm cắp điện thoại di động bằng hình thức móc túi. C đồng ý và hẹn T sáng ngày 1/9/2023 gặp nhau ở quận LB, thành phố Hà Nội. Khoảng 05 giờ sáng ngày 1/9/2023 C rủ TA đi lên huyện Mộc Châu, tỉnh Sơn La và gặp T ở quận LB. Sau đó C thuê xe taxi biển kiểm soát 30E-60493 của Cao Quốc Hưng, sinh năm: 1967, trú quán: 77/48/106 phố Lê Lai, phường Lạc Viên, quận Ngô Quyền, thành phố Hải Phòng cùng T và TA đi lên huyện Mộc Châu.

Đến khoảng 11 giờ cùng ngày khi đi đến khu vực cây xăng Tộc tiểu khu 4, thị trấn Mộc Châu. C bảo Hưng dừng xe đợi còn C và T đi đến nơi đang tập trung đông người quanh khu vực chợ trung tâm thị trấn Mộc Châu, TA ngồi uống nước ở trước cửa bưu điện huyện MC đợi C và T đi móc trộm điện thoại mang đến để TA tẩu tán. C đi phía trước để quan sát những ai sơ hở để điện thoại di động trong túi thì trộm cắp bằng hình thức móc túi, còn T đi theo sau để tránh sự

phát hiện, khi C móc trộm được điện thoại của du khách thì đưa cho T để T mang đến cho TA tháo sim điện thoại ra, tắt nguồn để tránh bị phát hiện. Bằng thủ đoạn trên trong khoảng thời gian từ 11 giờ đến 17 giờ 30 phút ngày 01/9/2023 C đã móc được 07 (bảy) chiếc điện thoại của những người phụ nữ đi chơi lễ hội tại khu vực tuyến đường nội thị từ khu vực chợ trung tâm đến cổng trại văn hóa du lịch của thị trấn Mộc Châu, cụ thể như sau:

  • - 01 chiếc Xiaomi Redmi A8 của Vàng Thị m, sinh năm: 2005, trú quán: Bản Pa Cốp, xã Vân Hồ, huyện Vân Hồ, tỉnh Sơn La.
  • - 01 chiếc điện thoại Iphone 14 của Giàng Thị p, sinh năm: 2007, trú quán: Bản Tà Dê, xã Lóng Luông, huyện Vân Hồ, tỉnh Sơn La.
  • - 01 Chiếc điện thoại Redme A9 của Sồng Thị S, sinh năm: 2010, trú quán: Bản Trống Tra, xã Háng Đồng, huyện Bắc Yên, tỉnh Sơn La.
  • - 01 chiếc điện thoại OPPO A55 của Vàng Thị S, sinh năm: 1998, trú quán: Bản Hang Hóc, xã Chiềng Hặc, huyện Yên Châu, tỉnh Sơn La.
  • - 01 chiếc điện thoại Redme 10A của Mùa Y S, sinh năm: 2006, trú quán: Xóm Pa Háng Lớn, xã Pà Cò, huyện Mai Châu, tỉnh Hòa Bình.
  • - 01 chiếc điện thoại Redme 9A của Giàng Thị G, sinh năm: 1984, trú : Bản Ông Lý, xã Chiềng Khừa, huyện Mộc Châu, tỉnh Sơn La.
  • - 01 chiếc điện thoại OPPO A16K của Mùa Y T, sinh năm: 2005, trú quán: Xóm Xà Lính, xã Pà Cò, huyện Mai Châu, tỉnh Hòa Bình.

Sau khi thực hiện trộm cắp điện thoại tại khu vực thị trấn Mộc Châu, C, T, TA bảo Hưng chở đến khu vực hội chợ cạnh khách sạn Mường Thanh thị trấn Nông Trường Mộc Châu. Khi đến khu vực hội chợ vào thời gian từ 19 giờ 30 phút đến 21 giờ 30 phút cùng ngày C và T đi vào khu vực tổ chức hội chợ để trộm cắp, TA đợi ở khu vực cổng phụ khách sạn Mường Thanh. Bằng hình thức trên C và T đã trộm cắp được 04 chiếc điện thoại tại khu vực hội chợ, cụ thể như sau:

  • - 01 chiếc điện thoại OPPO CPH 1803 của Bàn Thị L, sinh năm: 1980, trú quán: Bản Pa Hốc, xã Phiêng Luông, huyện Mộc Châu, tỉnh Sơn La.
  • - 01 chiếc điện thoại Vivo V2026 của Trần Thị Thanh Kim H, sinh năm: 1997, trú quán: Tiểu khu Hoa Ban, thị trấn Nông Trường Mộc Châu, huyện Mộc Châu, tỉnh Sơn La.
  • - 01 chiếc điện thoại OPPO A12 của Lường Thị S, sinh năm: 1967, trú quán: Tiểu khu Chờ Lồng, thị trấn Nông Trường Mộc Châu, huyện Mộc Châu, tỉnh Sơn La.
  • - 1 chiếc điện thoại OPPO F9 của Nguyễn Tuấn Kiên, sinh năm 1990, trú, quán: Tiểu khu Chè Đen, thị trấn Nông Trường Mộc Châu, huyện Mộc Châu, tỉnh Sơn La.

Sau khi bị trộm cắp điện thoại, các bị hại đã đến cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện MC trình báo. Khoảng 22 giờ cùng ngày C, T, TA bảo Hưng lái xe đi về. Khi đi đến khu vực tiểu khu Chiềng Đi, thị trấn Nông Trường MC thì bị tổ công tác Công an huyện MC dừng xe kiểm tra, T giữ số điện thoại di động TA đang cất giấu trong chiếc túi nilon.

Đối với các sim điện thoại Nguyễn Lê TA đã tháo ra, vứt ở khu vực trước cửa bưu điện tại tiểu khu 4, thị trấn MC và khu vực cổng hội chợ tiểu khu Nhà Nghỉ, thị trấn Nông Trường Mộc Châu. Ngày 02/9/2023, cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện MC đã tiến hành truy tìm nhưng không T giữ được.

Ngày 04/9/2023, cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện MC đã ra lệnh và thi hành lệnh khám xét đối với nơi ở của Nguyễn Thị C, Dương Thị T, Nguyễn Lê TA. Kết quả khám xét: Không phát hiện, T giữ gì.

Ngày 02/9/2023 và ngày 20/9/2023, cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện MC đã yêu cầu Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự huyện MC định giá đối với những chiếc điện thoại các bị can trộm cắp. Tại kết luận định giá tài sản số 32/KL-HĐĐGTS ngày 03/9/2023 và số 35/KL-HĐĐGTS ngày 22/9/2023 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự huyện MC kết luận:

  • - 01 điện thoại OPPO A55 của Vàng Thị S, trị giá 1.500.000 đồng.
  • - 01 điện thoại Xiaomi Redmi 9A của Sồng Thị S, trị giá 700.000 đồng.
  • - 01 điện thoại Iphone 14 của Giàng Thị P, trị giá 14.000.000 đồng.
  • - 01 điện thoại OPPO A12 của Lường Thị S, trị giá 500.000 đồng.
  • - 01 điện thoại Xiaomi Redmi A8 của Vàng Thị M trị giá 400.000 đồng.
  • - 01 điện thoại OPPO CPH 1803 của Bàn Thị L, trị giá 280.00 đồng.
  • - 01 điện thoại OPPO A16K của Mùa Y T, trị giá 1.200.000 đồng.
  • - 01 chiếc điện thoại Redme 10A của Mùa Y S trị giá 850.000 đồng.
  • - 01 chiếc điện thoại Redme 9A của Giàng Thị G, trị giá 800.000 đồng.
  • - 01 chiếc điện thoại Vivo của Trần Thị Thanh Kim H, trị giá 1.700.000 đồng.
  • - 01 chiếc điện thoại OPPO F9 của Nguyễn Tuấn K trị giá 1.000.000 đồng.

Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện MC đã quyết định giao trả 11 chiếc điện thoại cho các bị hại. Các bị hại đã nhận lại tài sản và không có yêu cầu gì khác.

Ngày 05/10/2023, cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện MC đã tiến hành xác định hiện trường nơi các bị can thực hiện hành vi phạm tội.

Đối với Cao Quốc Hưng, quá trình điều tra khai nhận: Bản thân làm nghề lái xe taxi, ngày 01/9/2023 được C, T, TA thuê xe ô tô của Hưng đi từ thành phố Hà Nội đến thị trấn Mộc Châu, huyện Mộc Châu, tỉnh Sơn La với giá 3.000.000 đồng. Hưng không biết và không liên quan đến hành vi trộm cắp tài sản. Do đó cơ quan Điều tra không đề cập đến việc xử lý.

Tại Bản án số 51/2024/HS-ST ngày 04/01/2024 của Toà án nhân dân huyện Mộc Châu, tỉnh Sơn La đã Quyết định:

  1. Căn cứ khoản 1 Điều 173, điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 58 Bộ luật Hình sự: Tuyên bố bị cáo Nguyễn Thị C phạm tội “Trộm cắp tài sản”. Xử phạt bị cáo Nguyễn Thị C 18 (mười tám) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày 03/9/2023. Không áp dụng hình phạt bổ sung (phạt tiền) đối với bị cáo.
  2. Căn cứ khoản 1 Điều 173, điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 58 Bộ luật Hình sự: Tuyên bố bị cáo Dương Thị T phạm tội “Trộm cắp tài sản”. Xử phạt bị cáo Dương Thị T 17 (mười bảy) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày 03/9/2023. Không áp dụng hình phạt bổ sung (phạt tiền) đối với bị cáo.
  3. Căn cứ khoản 1 Điều 173, điểm i, s khoản 1 Điều 51, Điều 58, khoản 1, 2 Điều 65 Bộ luật Hình sự, khoản 4 Điều 328 Bộ luật Tố tụng hình sự: Tuyên bố bị cáo Nguyễn Lê TA phạm tội “Trộm cắp tài sản”. Xử phạt bị cáo Nguyễn Lê TA 15 (mười lăm) tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời hạn thử thách 30 (ba mươi) tháng. Thời gian thử thách tính từ ngày 04/01/2024. Không áp dụng hình phạt bổ sung (phạt tiền) đối với bị cáo.

Tuyên trả tự do cho bị cáo Nguyễn Lê TA ngay tại phiên toà nếu bị cáo không bị tạm giam về một tội phạm khác.

Giao bị cáo Nguyễn Lê TA cho Ủy ban nhân dân xã TD, huyện KC, tỉnh HY giám sát, giáo dục. Gia đình bị cáo có trách nhiệm phối hợp với chính quyền địa phương trong việc giám sát, giáo dục bị cáo trong thời gian thử thách. Trường hợp bị cáo Nguyễn Lê TA thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định tại Điều 86, Điều 92 Luật Thi hành án hình sự.

Trong thời gian thử thách, nếu bị cáo Nguyễn Lê TA cố ý vi phạm nghĩa vụ theo quy định của Luật Thi hành án hình sự 02 lần trở lên, thì Tòa án có thể quyết định buộc bị cáo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo. Trường hợp bị cáo thực hiện hành vi phạm tội mới thì Tòa án buộc bị cáo phải chấp hành hình phạt tù của bản án trước và tổng hợp với hình phạt của bản án mới theo quy định của Điều 56 của Bộ luật Hình sự.

Ngoài ra Bản án sơ thẩm còn quyết định về trách nhiệm dân sự, về xử lý vật chứng, án phí và quyền kháng cáo của các bị cáo, bị hại, người đại diện hợp pháp của bị hại.

Sau khi xét xử sơ thẩm, ngày 16/01/2024 các bị cáo Nguyễn Thị C, Dương Thị T có đơn kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt.

Ngày 19/02/2024 bị cáo Nguyễn Lê TA có đơn kháng cáo đề nghị xem xét lại mức hình phạt đối với bị cáo. Kháng cáo quá hạn của bị cáo không được Hội đồng xét kháng cáo quá hạn chấp nhận tại Quyết định số 08/2024/QĐ-TA ngày 24/5/2024 của Toà án nhân dân tỉnh Sơn La.

* Tại phiên toà phúc thẩm:

- Các bị cáo Nguyễn Thị C, Dương Thị T vẫn giữ nguyên nội dung kháng cáo.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Sơn La Đề nghị : Áp dụng Điều 345 Điều 355; Điều 357 Bộ luật Tố tụng hình sự: Sửa bản án sơ thẩm số 51/2024/HS-ST ngày 04/01/2024 của Toà án nhân dân huyện Mộc Châu, tỉnh Sơn La, như sau:

Áp dụng khoản 1 Điều 173, điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 58 Bộ luật Hình sự: Xử phạt bị cáo Nguyễn Thị C 10 (mười) tháng tù. Về tội “Trộm cắp tài sản”. Thời hạn tù tính từ ngày bị cáo bị tạm giam (ngày 03/9/2023).

Áp dụng khoản 1 Điều 173, điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 58 Bộ luật Hình sự: Tuyên bố bị cáo Dương Thị T phạm tội “Trộm cắp tài sản”. Xử phạt bị cáo Dương Thị T 9 tháng 15 ngày tù. Thời hạn tù tính từ ngày bị cáo bị tạm giam (ngày 03/9/2023).

Áp dụng khoản 1 Điều 173, điểm i, s khoản 1 Điều 51, Điều 58, khoản 1, 2 Điều 65 Bộ luật Hình sự, khoản 4 Điều 328 Bộ luật Tố tụng hình sự: Tuyên bố bị cáo Nguyễn Lê TA phạm tội “Trộm cắp tài sản”. Xử phạt bị cáo Nguyễn Lê TA 9 (chín) tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời hạn thử thách 18 (mười tám) tháng. Thời gian thử thách tính từ ngày tuyên án sơ thẩm (ngày 04/01/2024).

Không áp dụng hình phạt bổ sung (phạt tiền) đối với các bị cáo.

Giao bị cáo Nguyễn Lê TA cho Ủy ban nhân dân xã TD, huyện KC, tỉnh HY giám sát, giáo dục.

Về án phí: Giải quyết theo quy định của pháp luật.

Các bị cáo nhất trí với quan điểm đề nghị của đại diện Viện kiểm sát, không có ý kiến tranh luận

NHẬN ĐỊNH CỦA TOÀ ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về thủ tục tố tụng: Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng và người tiến hành tố tụng trong giai đoạn xét xử sơ thẩm đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Các bị cáo, người tham gia tố tụng khác không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng và người tiến hành tố tụng.

Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng và người tiến hành tố tụng đã thực hiện trong giai đoạn xét xử sơ thẩm đều hợp pháp.

[2] Xét đơn kháng cáo của các bị cáo Nguyễn Thị C, Dương Thị T thực hiện trong thời hạn luật định, đảm bảo về hình thức, đúng chủ thể và phạm vi kháng cáo nên được xem xét theo quy định tại Điều 331, 332, 333 Bộ luật Tố tụng hình sự nên vụ án được xem xét theo trình tự phúc thẩm; Đơn bị cáo Nguyễn Lê TA quá hạn không được chấp nhận tại Quyết định số 08/2024/QĐ-TA ngày 24/5/2024 của Toà án nhân dân tỉnh Sơn La.

[3] Về hành vi phạm tội của các bị cáo: Nguyễn Thị C, Dương Thị T, Nguyễn Lê TA tại cấp sơ thẩm, cấp phúc thẩm và các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án, đã thể hiện: tại khu vực tổ chức lễ hội tập trung đông người, Nguyễn Thị C, Dương Thị T, Nguyễn Lê TA đã có hành vi lén lút móc túi của các bị hại để trộm cắp 11 chiếc điện thoại di động với tổng giá trị là 22.930.000 đồng.

Do đó, Toà án nhân dân huyện Mộc Châu, tỉnh Sơn La xét xử các bị cáo Nguyễn Thị C, Dương Thị T, Nguyễn Lê TA về tội “Trộm cắp tài sản” theo khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự là có căn cứ, đúng pháp luật.

[4] Xét kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt của các bị cáo:

Tại Bản án sơ thẩm số 51/2024/HS-ST ngày 04/01/2024, Toà án nhân dân huyện MC đã nhận định, đánh giá đúng tính chất, mức độ hành vi phạm tội, các tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự, tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của các bị cáo như: các bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự, quá trình điều tra và tại phiên toà, các bị cáo Nguyễn Thị C, Dương Thị T, Nguyễn Lê TA đều có thái độ thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, nên được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự; bị cáo Nguyễn Lê TA phạm tội lần đầu thuộc trường hợp ít nghiêm trọng nên được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm i khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự; bị cáo Nguyễn Thị C có bố đẻ được tặng thưởng Huân chương kháng chiến chống Mỹ hạng Nhất nên được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự. Ngoài ra, toàn bộ tài sản các bị cáo trộm cắp đã được T hồi và trả cho chủ sở hữu, đồng thời các bị hại không có yêu cầu gì thêm.

Vụ án đồng phạm giản đơn, bị cáo T khởi xướng cùng bị cáo C, TA là người thực hiện. Tại cấp phúc thẩm, gia đình các bị cáo cung cấp bổ sung tài liệu chứng minh, xác định các bị cáo là lao động chính có xác nhận của chính quyền địa phương nơi cư trú. Bị cáo C, T là phụ nữ có hoàn cảnh khó khăn, chồng chết ở với con, toàn bộ tài sản trộm cắp đã được T hồi và trả lại cho người bị hại, các bị hại không có yêu cầu gì khác. Căn cứ Điều 345, Điều 355, Điều 357 Bộ luật Tố tụng hình sự, đánh giá vai trò, sự liên quan có xem xét đến hình phạt đối với bị cáo Nguyễn Lê TA trong vụ án.

Từ những đánh giá trên, Hội đồng xét xử phúc thẩm xét thấy có căn cứ chấp nhận kháng cáo của các bị cáo Nguyễn Thị C, Dương Thị T; Sửa bản án hình sự sơ thẩm số 51/2024/HS-ST ngày 04/01/2024 của Toà án nhân dân huyện Mộc Châu, tỉnh Sơn La, phù hợp với quan điểm đề nghị của đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Sơn La tại phiên toà.

[5] Về án phí: Các bị cáo Nguyễn Thị C, Dương Thị T không phải chịu án phí hình sự phúc thẩm do kháng cáo của các bị cáo được Hội đồng xét xử chấp nhận.

[6] Các quyết định khác của Bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

  1. Căn cứ điểm b khoản 1 Điều 355; điểm c khoản 1 Điều 357; điều 345 Bộ luật Tố tụng hình sự: Chấp nhận kháng cáo của các bị cáo Nguyễn Thị C, Dương Thị T; Sửa bản án sơ thẩm số 51/2024/HS-ST ngày 04/01/2024 của Toà án nhân dân huyện Mộc Châu, tỉnh Sơn La như sau:
    1. Căn cứ khoản 1 Điều 173, điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 58 Bộ luật Hình sự: Tuyên bố bị cáo Nguyễn Thị C phạm tội “Trộm cắp tài sản”. Xử phạt bị cáo Nguyễn Thị C 10 (mười) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày bị cáo bị tạm giam (ngày 03/9/2023).
    2. Căn cứ khoản 1 Điều 173, điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 58 Bộ luật Hình sự: Tuyên bố bị cáo Dương Thị T phạm tội “Trộm cắp tài sản”. Xử phạt bị cáo Dương Thị T 9 tháng 15 ngày tù. Thời hạn tù tính từ ngày bị cáo bị tạm giam (ngày 03/9/2023).
    3. Căn cứ khoản 1 Điều 173, điểm i, s khoản 1 Điều 51, Điều 58, khoản 1, 2 Điều 65 Bộ luật Hình sự, khoản 4 Điều 328 Bộ luật Tố tụng hình sự: Tuyên bố bị cáo Nguyễn Lê TA phạm tội “Trộm cắp tài sản”. Xử phạt bị cáo Nguyễn Lê TA 9 (chín) tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời hạn thử thách 18 (mười tám) tháng. Thời gian thử thách tính từ ngày tuyên án sơ thẩm (ngày 04/01/2024).

    Không áp dụng hình phạt bổ sung (phạt tiền) đối với các bị cáo.

    Giao bị cáo Nguyễn Lê TA cho Ủy ban nhân dân xã TD, huyện KC, tỉnh HY giám sát, giáo dục. Gia đình bị cáo có trách nhiệm phối hợp với chính quyền địa phương trong việc giám sát, giáo dục bị cáo trong thời gian thử thách. Trường hợp bị cáo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định tại Điều 86, Điều 92 Luật Thi hành án hình sự.

    Trong thời gian thử thách, nếu bị cáo Nguyễn Lê TA cố ý vi phạm nghĩa vụ theo quy định của Luật Thi hành án hình sự 02 lần trở lên, thì Tòa án có thể quyết định buộc bị cáo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo. Trường hợp bị cáo thực hiện hành vi phạm tội mới thì Tòa án buộc bị cáo phải chấp hành hình phạt tù của bản án trước và tổng hợp với hình phạt của bản án mới theo quy định của Điều 56 của Bộ luật Hình sự.

  2. Về án phí: Căn cứ điểm h khoản 2 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội: Các bị cáo Nguyễn Thị C, Dương Thị T không phải chịu án phí hình sự phúc thẩm do kháng cáo của các bị cáo được Hội đồng xét xử chấp nhận.
  3. Các quyết định khác của bản án hình sự sơ thẩm không có kháng cáo, không bị kháng nghị có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.

Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án (ngày 27/5/2024)./.

Nơi nhận:

  • - VKSND tỉnh Sơn La;
  • - TAND huyện Mộc Châu, tỉnh Sơn La;
  • - Chi cục THADS huyện Mộc Châu, tỉnh Sơn La;
  • - Sở tư pháp tỉnh Sơn La;
  • - Các bị cáo;
  • - Phòng KTNV-THA
  • - Lưu VP, HSVA.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM

THẨM PHÁN – CHỦ TOẠ PHIÊN TOÀ

Đinh Thị Mai Lan

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 17/2024/HS-PT ngày 27/05/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH SƠN LA về trộm cắp tài sản

  • Số bản án: 17/2024/HS-PT
  • Quan hệ pháp luật: Trộm cắp tài sản
  • Cấp xét xử: Phúc thẩm
  • Ngày ban hành: 27/05/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH SƠN LA
  • Áp dụng án lệ:
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Nguỹen Thị C, Dương Thị T phạm tội Trộm cắp tài sản theo quy định tịa khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger