Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN ĐOAN HÙNG

TỈNH PHÚ THỌ

Bản án số: 17/2024/HS-ST

Ngày 27/5/2024

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐOAN HÙNG, TỈNH PHÚ THỌ

- Thành phần Hội đồng xét xử gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Tạ Hồng Tuấn

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Ngọc Quang và bà Lê Thị Việt Hà

- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Mai Lan - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Đoan Hùng, tỉnh Phú Thọ.

- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân huyện Đoan Hùng tham gia phiên tòa: Bà Trần Thị Minh Huệ - Kiểm sát viên.

Trong ngày 27 tháng 5 năm 2024, tại điểm cầu trung tâm là Trụ sở Tòa án nhân dân huyện Đoan Hùng, tỉnh Phú Thọ và địa điểm thành phần thuộc Trại tạm giam Công an tỉnh P xét xử sơ thẩm công khai, hình thức trực tuyến vụ án hình sự thụ lý số 17/2024/TLST-HS, ngày 14 tháng 5 năm 2024, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 18/2024/QĐXXST-HS ngày 15 tháng 5 năm 2024 đối với các bị cáo;

1. Họ và tên: Nguyễn Văn B - Sinh ngày 22 tháng 11 năm 1973

Tên gọi khác: Không

Nơi sinh: Huyện S, tỉnh Vĩnh Phúc

Nơi cư trú: Thôn Đ, xã H, huyện S, tỉnh Vĩnh Phúc

Nghề nghiệp: Lao động tự do. Trình độ học vấn: Lớp 7/12

Dân tộc: Kinh. Giới tính: N1. Tôn giáo: Không. Quốc tịch: Việt Nam

Con ông Nguyễn Văn L và bà Lưu Thị C (đều đã chết)

Có vợ là Đỗ Thị N2. Có 02 con; lớn sinh năm 1995 và nhỏ sinh năm 1998

Tiền án, tiền sự: Không.

Nhân thân:

- Bản án số 48 ngày 20/10/1998, Tòa án nhân dân huyện Lập Thạch, tỉnh Vĩnh Phúc xử phạt 06 năm tù về tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy”, phạt quản chế 02 năm kể từ khi chấp hành xong hình phạt tù, phạt bổ sung 20.000.000.₫ sung quỹ Nhà nước và 50.000.đ tiền án phí (Nguyễn Văn B kháng cáo);

- Bản án số 93/PTHS ngày 07/12/1998, Tòa án nhân dân tỉnh Vĩnh Phúc xét xử phúc thẩm và y toàn bộ Bản án sơ thẩm số 48 ngày 20/10/1998 của Tòa án nhân dân huyện Lập Thạch.

- Bản án số 97/ST ngày 16/7/1999, Tòa án nhân dân tỉnh Tuyên Quang xử phạt 01 năm tù về tội “Đe dọa giết người” và 08 năm tù về tội “Trộm cắp tài sản công dân”, tổng hợp hình phạt của cả 02 tội là 09 năm tù. Tổng hợp với Bản án số 93 ngày 07/12/1998 của Tòa án nhân dân tỉnh Vĩnh Phúc, Nguyễn Văn B phải chấp hành hình phạt chung của cả 02 Bản án là 15 năm tù (Nguyễn Văn B kháng cáo);

- Bản án Phúc thẩm số 2350 ngày 24/11/1999, Tòa án nhân dân tối cao xét xử phúc thẩm giữ nguyên Bản án sơ thẩm số 97 ngày 16/7/1999 của Tòa án nhân dân tỉnh Tuyên Quang. Bị cáo đã chấp hành xong hình phạt tù ngày 04/02/2010. Được miễn giảm và đình chỉ thi hành án khoản tiền phạt bổ sung, tiền án phí.

Bị cáo bị bắt tạm giam từ ngày 21/02/2024 cho đến nay. Hiện đang tạm giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh P. Bị cáo có mặt tại phiên tòa.

2. Họ và tên: Phạm Văn S - Sinh ngày 10 tháng 5 năm 1976

Tên gọi khác: Không

Nơi sinh: Huyện P, tỉnh Phú Thọ

Nơi cư trú: Khu F, xã P, huyện P, tỉnh Phú Thọ

Nghề nghiệp: Lao động tự do. Trình độ học vấn: Lớp 2/12

Dân tộc: Kinh. Giới tính: N2. Tôn giáo: Không. Quốc tịch: Việt Nam

Con ông Phạm Văn D và bà Nguyễn Thị C1 (đã chết)

Có vợ là Nguyễn Thị V. Có 02 con; lớn sinh năm 1998 và nhỏ sinh năm 2010

Tiền án, tiền sự: Không.

Bị cáo bị tạm giữ từ ngày 19/02/2024 đến ngày 22/02/2024. Bị tạm giam từ ngày 22/02/2024 cho đến nay. Hiện đang tạm giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh P. Bị cáo có mặt tại phiên tòa.

* Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

  1. Anh Nguyễn Minh T; sinh năm 1996 (vắng mặt)
  2. Nơi cư trú: Khu 4, xã Vụ Quang, huyện Đoan Hùng, tỉnh Phú Thọ

  3. Anh Nguyễn Văn N3; sinh năm 1976 (vắng mặt)
  4. Nơi cư: Khu Đ, thị trấn Đ, huyện Đ, tỉnh Phú Thọ.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Vào hồi 16 giờ 30 phút ngày 19/02/2024, tại khu P, xã C, huyện Đ, tổ công tác phòng chống ma túy của Công an huyện Đ phát hiện, lập biên bản bắt người phạm tội quả tang đối với Phạm Văn S ở khu F, xã P, huyện P, tỉnh Phú Thọ có hành vi tàng trữ chất ma túy để bán cho người khác. Thu giữ của S gồm: 01 gói giấy có đặc điểm được gói ngoài là mảnh giấy hai mặt đều màu trắng có chữ in màu đen, bên trong chứa chất bột, cục màu trắng; 01 điện thoại di dộng nhãn hiệu Sam Sung Galaxy J6+ lắp hai sim số: 0971.339.693 và 0367.638.276; 01 xe môtô nhãn hiệu Honda, biển số 19AD - 037.81.

Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Đ đã tiến hành niêm phong gói chứa chất bột, cục màu trắng thu giữ của Phạm Văn S và gửi đi giám định. Tại Bản Kết luận giám định số 270/KL-KTHS ngày 21/02/2024 của Phòng Kĩ thuật hình sự Công an tỉnh P kết luận: “Chất bột, cục màu trắng bên trong 01 gói giấy gửi đến giám định có khối lượng là: 0,194 gam (không phảy một chín bốn gam); là ma túy; loại Heroine (H), có tên khoa học là: Diacetylmorphine, được quy định tại Bộ luật hình sự 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) và Nghị định 57/2022/NĐ-CP ngày 25/8/2022 của Chính phủ quy định các danh mục chất ma túy và tiền chất.”

Về nguồn gốc ma túy bị thu giữ, Phạm Văn S khai mua của Nguyễn Văn B ở thôn Đ, xã H, huyện S, tỉnh Vĩnh Phúc cũng vào ngày 19/02/2024. Ngoài ra, S còn tự khai ngày 14/02/2024 và ngày 19/02/2024, S đã 02 lần bán ma tuý cho Nguyễn Văn N3 ở khu Đ, thị trấn Đ, huyện Đ. Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Đ đã triệu tập Nguyễn Văn B và Nguyễn Văn N3 làm việc. Tại Cơ quan điều tra, Bộ thừa nhận đã bán ma túy cho S ngày 19/02/2024, ngoài ra Bộ còn tự khai đã bán ma túy cho S vào ngày 13/02/2024. Nguyễn Văn N3 cũng thừa nhận đã mua ma tuý của S đúng như S đã khai.

Cơ quan điều tra đã tiến hành khám xét khẩn cấp chỗ ở của Nguyễn Văn B và chỗ ở của Phạm Văn S nhưng không thu giữ đồ vật, tài liệu nào liên quan đến vụ án. Quá trình điều tra đã làm rõ hành vi mua bán trái phép ma túy của các bị cáo như sau:

- Đối với Nguyễn Văn B đã có 02 lần bán trái phép chất ma tuý cho Phạm Văn S cụ thể:

Lần 1: Vào khoảng 19 giờ ngày 13/02/2024, do có nhu cầu sử dụng ma tuý nên Phạm Văn S sử dụng điện thoại lắp sim số 0367.638.xxx gọi đến số điện thoại 0963.916.xxx của Nguyễn Văn B hỏi mua 500.000.đ ma túy H, B đồng ý và hẹn S đến đoạn đường đê thuộc thôn Đ, xã H, huyện S, tỉnh Vĩnh Phúc để giao nhận tiền. Sau đó, S điều khiển xe môtô biển số 19AD-037.81 đi đến điểm hẹn gặp Bộ. Tại đây, S đưa cho Bộ 500.000.đ, B cầm tiền và bảo S đứng đợi rồi mượn xe môtô của S đi đến khu vực chọi trâu thuộc xã H, huyện S, tỉnh Vĩnh Phúc gặp một người nam giới tên L1, (B không biết đầy đủ họ tên, tuổi, địa chỉ cụ thể) mua của người này 01 gói ma túy Heroine có đặc điểm gói ngoài là mảnh giấy màu trắng bạc với giá 500.000.đ. Khoảng 15 phút sau, Bộ quay lại vị trí S đứng đợi, trả xe môtô cho S và lấy gói ma túy Heroin Bộ vừa mua xẻ một phần Heroin cho vào một mảnh giấy khác, gói lại cất vào người rồi gói số Heroine còn lại như cũ đưa cho S, S cầm gói ma túy Bộ đưa, điều khiển xe môtô đến khu vực vắng người ở xã V, huyện Đ một mình sử dụng hết, còn Bộ mang gói ma túy cất trong người về nhà sử dụng hết cho bản thân.

Lần 2: Vào khoảng 14 giờ ngày 19/02/2024, S sử dụng điện thoại lắp sim số 0367.638.xxx gọi đến số 0963.916.729 của B hỏi mua 800.000.₫ ma túy H, B đồng ý và hẹn S đến đoạn đường đê thuộc thôn Đ, xã H, huyện S, tỉnh Vĩnh Phúc (gần nhà B) để giao nhận tiền. Sau đó S điều khiển xe môtô biển số 19AD-037.81 đi đến điểm hẹn và đưa cho Bộ 800.000.₫, B cầm tiền và bảo S đứng đợi rồi mượn xe môtô của S một mình đi đến khu vực chọi trâu thuộc xã H, gặp người nam giới tên L1 lần trước, mua của người này 800.000.đ được 02 gói ma túy Heroin, trong đó 01 gói được gói ngoài bằng mảnh giấy màu trắng bạc; 01 gói được gói ngoài bằng mảnh giấy hai mặt đều màu trắng có in chữ màu đen. Khoảng 15 phút sau, Bộ quay lại chỗ S đứng đợi, xẻ lấy một phần Heroin trong gói ma túy gói ngoài bằng mảnh giấy màu trắng bạc cất đi, phần còn lại Bộ gói vào mảnh giấy cũ và đưa cho S cùng với gói ma túy gói ngoài bằng mảnh giấy hai mặt đều màu trắng có in chữ màu đen, S cầm 02 gói ma túy Bộ đưa rồi đi về, còn Bộ mang gói ma túy mà Bộ xẻ để lại về nhà sử dụng hết cho bản thân.

- Đối với Phạm Văn S đã có 02 lần bán trái phép ma tuý cho Nguyễn Văn N3, cụ thể:

Lần 1: Vào khoảng 16 giờ ngày 14/02/2024, Nguyễn Văn N3 dùng điện thoại di động lắp sim số 0325.556.803 gọi đến số điện thoại 0367.638.xxx của S hỏi mua 200.000.đ ma túy H, S đồng ý và hẹn N3 đến đoạn đường đê sông L thuộc khu G, xã T, huyện P, tỉnh Phú Thọ để giao nhận tiền. Sau đó N3 điều khiển xe ôtô nhãn hiệu Toyota Hilux biển số 19C-108.65 đi đến điểm hẹn và đưa S 200.000.đ, S cầm tiền rồi một mình điều khiển xe môtô biển số 19AD-037.81 đến xã H, huyện S, tỉnh Vĩnh Phúc mua của một người đàn ông không quen biết 01 gói ma túy Heroin có đặc điểm được gói ngoài bằng mảnh giấy hai mặt đều màu trắng với giá 200.000.đ. Khoảng 30 phút sau, S quay lại gặp N3. Trên đường về, S dừng lại ở đoạn đường vắng, lấy một phần Heroin vừa mua được gói vào một mảnh giấy khác, phần còn lại S gói lại vào mảnh giấy cũ đưa cho N3. N3 cầm gói ma túy S đưa rồi đi về đến đoạn đường đê sông L thuộc xã V, huyện Đ, N3 đã sử dụng hết gói ma túy này. Còn S mang gói ma túy đã bớt lại đến đoạn đường vắng thuộc xã V, một mình sử dụng hết.

Lần 2: Vào khoảng 13 giờ ngày 19/02/2024, Nguyễn Văn N3 tiếp tục dùng điện thoại di động lắp sim số 0325.556.803 gọi đến số điện thoại 0367.638.xxx của S hỏi mua 300.000.₫ ma túy H, S đồng ý và hẹn N3 đến đoạn đường đê sông L thuộc khu G, xã T, huyện P, tỉnh Phú Thọ để giao nhận tiền. Khoảng 14 giờ cùng ngày, N3 điều khiển xe ôtô biển số 19C-108.65 đi đến điểm hẹn gặp S và đưa cho S 300.000.đ, S cầm tiền rồi đi đến thôn Đ, xã H, huyện S, tỉnh Vĩnh Phúc mua của Nguyễn Văn B 800.000.đ được 02 gói ma túy Heroine, sau đó S quay lại điểm hẹn gặp N3. Tại đây, S lấy gói Heroine gói bằng mảnh giấy màu trắng bạc, xẻ một phần Heroine cất vào người, số H1 còn lại Sơn gói lại như cũ đưa cho N3. Sau khi mua được H1, trên đường đi về đến xã V, huyện Đ, N3 đã sử dụng hết số Heroine vùa mua. Còn S cũng một mình điều khiển xe môtô biển số 19AD-037.81 đi đến xã V, huyện Đ, lấy gói Heroine đã bớt lại và sử dụng cho bản thân. Số ma túy H1 còn lại S cất trong người mục đích để tiếp tục bán nhưng khi đi đến khu P, xã C, huyện Đ thì bị Công an huyện Đ kiểm tra phát hiện và thu giữ gói Heroine như đã nêu trên.

Vật chứng hiện đang tạm giữ gồm: 01 điện thoại di động nhãn hiệu Samsung Galaxy J6+ lắp 02 sim số là 0971.339.693 và 0367.638.276 của Phạm Văn S; 01 điện thoại di động nhãn hiệu Nokia 105 lắp sim số 0963.916.729 của Nguyễn Văn B; 01 điện thoại di động không rõ nhãn hiệu lắp sim số 0325.556.803 của Nguyễn Văn N3 và 01 bì niêm phong mã số PS3A 068942 của Phòng Kĩ thuật hình sự Công an tỉnh P bên trong có 0,125 gam ma túy Heroine còn lại sau giám định.

Đối với chiếc xe môtô nhãn hiệu Honda biển số 19AD-037.81 mà S sử dụng để đi mua ma túy và bán ma túy cho N3. Cơ quan điều tra xác định là tài sản của anh Nguyễn Minh T ở khu D, xã V, huyện Đ, anh T cho anh Lê Xuân T1 ở khu F, xã P, huyện P mượn để làm phương tiện đi lại. Sau đó anh T1 cho Phạm Văn S mượn do vậy Cơ quan điều tra đã trả lại cho anh T chiếc xe môtô trên.

Bản Cáo trạng số 18/CT-VKS.ĐH ngày 13/5/2024, Viện Kiểm sát nhân dân huyện Đoan Hùng truy tố bị cáo Nguyễn Văn B và bị cáo Phạm Văn S về tội “Mua bán trái phép chất ma túy” quy định tại điểm b khoản 2 Điều 251 của Bộ luật Hình sự. Tại phiên tòa, đại diện Viện Kiểm sát vẫn giữ nguyên quyết định truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử như sau:

- Áp dụng điểm b khoản 2 Điều 251, điểm r, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 và Điều 38 của Bộ luật Hình sự: Đề nghị phạt bị cáo Nguyễn Văn B từ 07 năm 03 tháng đến 07 năm 09 tháng tù. Miễn hình phạt bổ sung cho bị cáo.

- Áp dụng điểm b khoản 2 Điều 251, điểm r, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 54 và Điều 38 của Bộ luật Hình sự: Đề nghị phạt bị cáo Phạm Văn S từ 04 năm 06 tháng đến 05 năm tù. Miễn hình phạt bổ sung cho bị cáo.

Về vật chứng, Kiểm sát viên đề nghị tịch thu sung quỹ Nhà nước gồm: Tịch thu của bị cáo Nguyễn Văn B số tiền bán ma túy mà có là 1.300.000.đ và 01 chiếc điện thoại di động N4 105 để sung quỹ Nhà nước; tịch thu của bị cáo Phạm Văn S số tiền bán ma túy ma túy mà có là 500.000.đ và 01 điện thoại di động Samsung Galaxy J6 để sung quỹ Nhà nước; tịch thu của Nguyễn Văn N3 01 điện thoại di động không rõ nhãn hiệu để sung quỹ Nhà nước. Tịch thu tiêu hủy 01 túi niêm phong bên trong có chứa 0,125 gam ma túy Heroine do Phòng Kĩ thuật hình sự Công an tỉnh P hoàn trả sau khi giám định.

Đề nghị tịch thu 01 thẻ sim số thuê bao 0367.638.276 lắp trong chiếc điện thoại di động Samsung Galaxy J6 của Phạm Văn S, 01 thẻ sim số thuê bao 0963.916.729 lắp trong chiếc điện thoại di động N4 105 của Nguyễn Văn B và 01 thẻ sim số thuê bao 0325.556.803 lắp trong chiếc điện thoại di động không rõ nhãn hiệu của Nguyễn Văn N3 đã sử dụng liên lạc mua bán ma túy để tiêu hủy;

Xác nhận việc Cơ quan điều tra đã trả lại cho anh Nguyễn Minh T chiếc xe môtô biển số 19AD - 037.81 là đúng pháp luật.

Sau khi nghe Kiểm sát viên trình bày luận tội, các bị cáo đều thừa nhận hành vi phạm tội của mình, không oan. Các bị cáo không tự bào chữa, không tranh luận mà chỉ đề nghị Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1]. Tại phiên tòa, các bị cáo Nguyễn Văn B và Phạm Văn S đều thừa nhận đã có hành vi mua bán chất ma túy Heroine đúng như nội dung mà Cáo trạng của Viện Kiểm sát đã truy tố. Ngoài lời khai nhận của các bị cáo, thì hành vi phạm tội còn được chứng minh bằng các tài liệu chứng cứ khác gồm: Biên bản bắt người phạm tội quả tang cùng với gói chất bộ màu trắng thu giữ khi lập biên bản phạm tội quả tang đã được giám định kết luận là chất ma túy Heroine; bản Kết luận giám định chất ma túy của Phòng K Công an tỉnh P; Biên bản đối chất giữa các bị cáo với nhau và với Nguyễn Văn Nghĩa 1 đối tượng đã mua ma túy của bị cáo để sử dụng; các vật chứng khác là những đồ vật, tài sản đã thu giữ cùng với lời khai của chính các bị cáo tại Cơ quan điều tra, lời khai đối tượng đã mua ma túy của bị cáo, lời khai người làm chứng...Các tài liệu, chứng cứ và vật chứng đều hoàn toàn phù hợp với nhau, phù hợp với thời gian, địa điểm thực hiện hành vi phạm tội, phù hợp với các tình tiết sự kiện khác của vụ án và đều được thu thập, kiểm tra đánh giá đầy đủ, toàn diện khách quan đúng quy định của pháp luật. Như vậy, có đủ cơ sở để xác định bị cáo Nguyễn Văn B và bị cáo Phạm Văn S đã có hành vi phạm tội như sau:

- Đối với Nguyễn Văn B đã 02 lần bán ma túy Heroine cho Phạm Văn S cụ thể: Tối ngày 13/02/2024, tại khu vực đê thuộc thôn Đ, xã H, huyện S, tỉnh Vĩnh Phúc, Nguyễn văn B1 bán cho Phạm Văn S 01 gói ma túy loại Heroine với số tiền 500.000.đ và chiều ngày 19/02/2024, cũng tại đoạn đường đê thuộc thôn Đ, xã H, huyện S, Nguyễn Văn B lại tiếp tục bán cho S 02 gói ma túy Heroine với số tiền 800.000.đ. Tổng số tiền Nguyễn Văn B thu được của 02 lần bán ma túy là 1.300.000.₫đ.

- Đối với Phạm Văn S đã 02 lần bán ma túy cho Nguyễn Văn N3, cụ thể: Chiều ngày 14/02/2024, tại đoạn đê sông L thuộc khu G, xã T, huyện P, tỉnh Phú Thọ, S đã bán cho Nguyễn Văn N3 01 gói ma túy Heroine với số tiền 200.000.đ và chiều ngày 19/02/2024, cũng tại đoạn đê thuộc khu G, xã T, huyện P, S tiếp tục bán cho Nguyễn Văn N3 01 gói ma túy Heroine với số tiền 300.000.₫, (số ma túy này là S mới mua được của Nguyễn Văn B), 01 gói ma túy còn lại S cất giấu trong người có khối lượng 0,194 gam ma túy Heroine mục đích để tiếp tục bán thì bị Cơ quan Công an phát hiện thu giữ. Tổng số tiền Phạm Văn S thu được của 02 lần bán ma túy cho Nguyễn Văn Nghĩa 1 500.000.đ.

Như vậy, bị cáo Nguyễn Văn B và bị cáo Phạm Văn S mỗi bị cáo đều đã 02 lần bán trái phép ma túy. Đối chiếu với quy định của pháp luật hình sự thì hành vi của các bị cáo đã cấu thành tội “Mua bán trái phép chất ma túy” và phải chịu tình tiết định khung tăng nặng là “Phạm tội 02 lần trở lên” do vậy việc truy tố, xét xử các bị cáo theo quy định tại điểm b khoản 2 Điều 251 của Bộ luật Hình sự là hoàn toàn có căn cứ, đúng pháp luật.

Điều luật quy định: “1. Người nào mua bán trái phép chất ma túy, thì bị phạt tù từ 02 năm đến 07 năm.

2. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 07 năm đến 15 năm: ...

b) Phạm tội 02 lần trở lên”.

[2]. Tính chất vụ án và tội phạm mà các bị cáo đã thực hiện là rất nghiêm trọng, trực tiếp xâm phạm đến chính sách độc quyền quản lý các chất ma túy của Nhà nước, gây mất an ninh, an toàn xã hội. Mặc dù các bị cáo hoàn toàn nhận thức được tác hại nguy hiểm của ma túy đối với con người và xã hội, ma túy cũng là một trong những nguyên nhân gây ra các loại tội phạm khác nhưng vì ham lợi bất chính và cũng là để thỏa mãn cơn nghiện của bản thân nên vẫn cố ý phạm tội do vậy cần thiết phải xử phạt nghiêm khắc, tương xứng với tính chất hành vi phạm tội đủ để giáo dục cải tạo bị cáo và răn đe đối với những kẻ khác.

[3]. Về nhân thân, các tình tiết giảm nhẹ, tăng nặng trách nhiệm hình sự của các bị cáo, Hội đồng xét xử thấy rằng:

- Đối với bị cáo Nguyễn Văn B: Mặc dù nhân thân hiện không có tiền án, tiền sự nhưng đã từng 02 lần phạm tội và bị kết án tù trong đó có 01 lần phạm tội về ma túy nhưng bị cáo vẫn không lấy đó làm bài học để quyết tâm từ bỏ ma túy, sống có ích cho gia đình và xã hội mà lại tiếp tục phạm tội rất nghiêm trọng do cố ý nên lần phạm tội này cần xử phạt nghiêm. Tuy nhiên quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo đã thành khẩn và hối hận về hành vi phạm tội của mình, tự giác khai nhận lần bán trái phép ma túy trước đó khi chưa bị phát hiện, có anh trai là Liệt sĩ do vậy được giảm nhẹ trách nhiệm hình sự theo quy định tại điểm r, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự mà không phải chịu tình tiết tăng nặng nào.

- Đối với bị cáo Phạm Văn S: Trước khi phạm tội bị cáo có nhân thân tốt, chưa từng có tiền án tiền sự, quá trình điều tra và tại phiên tòa đã thực sự thành khẩn và hối hận về hành vi phạm tội của mình, tự giác khai nhận những lần bán trái phép ma túy khi chưa bị phát hiện, mẹ vợ bị cáo là người có công được Nhà nước tặng thưởng Huy chương kháng chiến; bố đẻ, ông bà nội đều tham gia kháng chiến vì vậy được giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm r, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự và cũng không phải chịu tình tiết tăng nặng nào.

Căn cứ tính chất, mức độ hành vi phạm tội, nhân thân và các tình tiết giảm nhẹ của các bị cáo như đã nêu trên, thì hành vi phạm tội của các bị cáo cần thiết phải bị xử phạt tù, cách ly ra khỏi đời sống xã hội một thời gian nhất định đủ để giáp dục, cải tạo và giúp cho các bị cáo từ bỏ ma túy, sau khi chấp hành xong hình phạt tù trở về với xã hội sẽ là những công dân tốt. Riêng đối với bị cáo Phạm Văn S thì áp dụng Điều 54 của Bộ luật Hình sự để cho bị cáo hưởng hình phạt dưới mức thấp nhất của khung hình phạt là phù hợp.

[4]. Ngoài hình phạt chính thì theo quy định tại khoản 5 Điều 251 của Bộ luật Hình sự, các bị cáo còn có thể bị phạt một khoản tiền, tịch thu một phần tài sản để nộp ngân sách Nhà nước, bị cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định nhưng do các bị cáo không có tài sản riêng, không có nghề nghiệp nên không áp dụng hình phạt bổ sung.

[5]. Về hành vi sử dụng trái phép chất ma túy của bị cáo Phạm Văn S và đối tượng Nguyễn Văn N3, Công an huyện Đ đã quyết định xử phạt hành chính theo quy định của pháp luật nên trong vụ án này không xem xét xử lý.

[6]. Về vật chứng của vụ án:

- Đối với 01 túi niêm phong, mã số PS3A 068942, bên trong có chứa 0,125 gam ma túy Heroine do Phòng Kĩ thuật hình sự Công an tỉnh P hoàn trả sau khi giám định phải tịch thu tiêu hủy;

- Đối với 01 thẻ sim có số thuê bao 0367.638.276 lắp trong chiếc điện thoại di động Samsung Galaxy J6 của Phạm Văn S, 01 thẻ sim có số thuê bao 0963.916.729 lắp trong chiếc điện thoại di động N4 105 của Nguyễn Văn B và 01 thẻ sim có số thuê bao 0325.556.803 lắp trong chiếc điện thoại di động không rõ nhãn hiệu của Nguyễn Văn N3. Các sim số điện thoại này đã sử dụng liên lạc mua bán ma túy nên tịch thu tiêu hủy;

- Đối với 01 chiếc điện thoại di động của Nguyễn Văn B, 01 chiếc điện thoại di động của Phạm Văn S và 01 chiếc điện thoại di động của Nguyễn Văn N3 đều đã sử dụng để liên lạc mua, bán trái phép chất ma túy nên tịch thu để bán nộp ngân sách Nhà nước;

- Đối với số tiền mà bị cáo B thu được từ hành vi bán trái phép ma túy là 1.300.000.đ và bị cáo S thu được là 500.000.đ phải tịch thu để nộp ngân sách Nhà nước;

- Đối với 01 sim điện thoại có số thuê bao 0971339693 của Phạm Văn S không sử dụng vào việc phạm tội nên trả lại cho bị cáo S nhưng tiếp tục tạm giữ để đảm bảo cho việc thi hành án;

- Đối với chiếc xe môtô Honda Wave mà bị cáo S sử dụng đi mua ma túy xác định là tài sản hợp pháp của anh Nguyễn Minh T, anh T không có lỗi trong việc bị cáo S sử dụng xe để đi mua, bán ma túy vì vậy Cơ quan điều tra đã trả lại cho anh T là đúng pháp luật được xác nhận.

[7]. Về án phí; Bị cáo Nguyễn Văn B và bị cáo Phạm Văn S phải nộp tiền án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

[8]. Tại phiên tòa, Kiểm sát viên đã trình bày luận tội đối với các bị cáo, đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố các bị cáo phạm tội như Cáo trạng đã truy tố, đề nghị mức hình phạt đối với từng bị cáo, đề xuất về xử lý vật chứng. Xét đề nghị của Kiểm sát viên là có căn cứ, phù hợp với pháp luật nên được chấp nhận.

[9]. Căn cứ vào diễn biến và kết quả tranh tụng tại phiên tòa cùng các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án có đủ cơ sở để kết luận: Trong quá trình điều tra, truy tố, các quyết định và hành vi tố tụng của Cơ quan điều tra, Điều tra viên; của Viện Kiểm sát, Kiểm sát viên đều chấp hành đúng các quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Các tài liệu, chứng cứ đã thu thập trong quá trình điều tra đều hợp pháp, phản ánh đúng sự thật khách quan của vụ án, phù hợp với diễn biến tại phiên tòa và có đủ căn cứ để chứng minh hành vi phạm tội của bị cáo.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

- Căn cứ điểm b khoản 2 Điều 251; điểm r, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 và Điều 38 của Bộ luật Hình sự: Xử phạt bị cáo Nguyễn Văn B 07 (bảy) năm 06 (sáu) tháng tù về tội “Mua bán trái phép chất ma túy”, thời hạn tù tính từ ngày bị cáo bị bắt tạm giam là ngày 21/02/2024.

- Căn cứ điểm b khoản 2 Điều 251; điểm r, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38 và Điều 54 của Bộ luật Hình sự: Xử phạt bị cáo Phạm Văn S 04 (bốn) năm 06 (sáu) tháng tù về tội “Mua bán trái phép chất ma túy”, thời hạn tù tính từ ngày bị cáo bị tạm giữ là ngày 19/02/2024.

- Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 46, điểm a, b khoản 1 và khoản 2 Điều 47 của Bộ luật Hình sự; khoản 1, khoản 2, khoản 3 Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự.

+ Tịch thu 01 túi niêm phong, mã số PS3A 068942, bên trong có chứa 0,125 gam ma túy Heroine do Phòng Kĩ thuật hình sự Công an tỉnh P hoàn trả sau khi giám định để tiêu hủy;

+ Tịch thu 01 thẻ sim có số thuê bao 0367.638.276, 01 thẻ sim có số thuê bao 0963.916.729 và 01 thẻ sim có số thuê bao 0325.556.803 để tiêu hủy;

+ Tịch thu của bị cáo Phạm Văn S 01 điện thoại di động nhãn hiệu Samsung Galaxy J6, vỏ màu đen, vỡ màn hình (đã cũ), có số Imei 1: 352812104507431/01, số Imei 2: 352813104507439/01 để bán nộp ngân sách Nhà nước;

+ Tịch thu của bị cáo Nguyễn Văn B 01 điện thoại di động nhãn hiệu Nokia 105, vỏ màu xanh (đã cũ), số Sêri 356107166112113 bán nộp ngân sách Nhà nước;

+ Tịch thu của Nguyễn Văn N3 01 điện thoại di động không rõ nhãn hiệu, vỏ màu vàng đen (đã cũ), số Imei 1: 352367902527164, số Imei 2: 352367902527172 để bán nộp ngân sách Nhà nước;

+ Trả lại cho bị cáo Phạm Văn S 01 sim điện thoại có số thuê bao 0971339693 nhưng tiếp tục tạm giữ để đảm bảo cho việc thi hành án;

(Toàn bộ những vật chứng, đồ vật, tài sản trên hiện đang tạm giữ tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Đ và có đặc điểm như trong biên bản giao nhận vật chứng ngày 14/5/2024 giữa Cơ quan điều tra Công an huyện Đ với Chi cục Thi hành án dân sự huyện Đoan Hùng có lưu trong hồ sơ vụ án).

+ Tịch thu của bị cáo Nguyễn Văn B số tiền 1.300.000.đ (một triệu ba trăm nghìn đồng) là tiền do bán ma túy mà có để nộp vào ngân sách Nhà nước;

+ Tịch thu của bị cáo Phạm Văn S số tiền 500.000.₫ (năm trăm nghìn đồng) là tiền do bán ma túy mà có để nộp vào ngân sách Nhà nước;

+ Xác nhận Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Đ đã trả lại cho anh Nguyễn Minh T 01 chiếc xe môtô nhãn hiệu Honda Wave (đã cũ) biển số 19AD - 037.81 (Biên bản trả lại tài sản, đồ vật, tài liệu ngày 19/3/2024 có lưu trong hồ sơ vụ án).

- Căn cứ khoản 2 Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội khóa 14: Bị cáo Nguyễn Văn B và bị cáo Phạm Văn S mỗi bị cáo phải nộp 200.000.đ (hai trăm nghìn đồng) tiền án phí hình sự sơ thẩm.

Các bị cáo có mặt được quyền kháng cáo Bản án sơ thẩm trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được Bản án hoặc Bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật.

Nơi nhận:

  • - VKSND tỉnh Phú Thọ;
  • - VKSND huyện Đoan Hùng;
  • - Cơ quan THAHS Công an huyện;
  • - Thi hành án hình sự;
  • - Chi cục Thi hành án dân sự huyện;
  • - Trại tạm giam Công an tỉnh Phú Thọ;
  • - UBNDxã Hải Lựu, h. Sông Lô;
  • - UBND xã Phú Mỹ, h. Phù Ninh;
  • - Các bị cáo, người liên quan;
  • - Lưu hồ sơ, văn phòng.

T/M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa

(Đã ký)

Tạ Hồng Tuấn

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 17/2024/HS-ST ngày 27/05/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐOAN HÙNG, TỈNH PHÚ THỌ về mua bán trái phép chất ma túy (hình sự sơ thẩm)

  • Số bản án: 17/2024/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Mua bán trái phép chất ma túy (Hình sự sơ thẩm)
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 27/05/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐOAN HÙNG, TỈNH PHÚ THỌ
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Xử phạt bị cáo Nguyễn Văn B 07 (bảy) năm 06 (sáu) tháng tù về tội “Mua bán trái phép chất ma túy”
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger