TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THUẬN BẮC TỈNH NINH THUẬN | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: /2024/HS-ST Ngày: 26/9/2024 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THUẬN BẮC - TỈNH NINH THUẬN
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Ngô Minh Đăng
Thư ký phiên tòa: Bà Lâm Thị Hoà Yên – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Thuận Bắc - tỉnh Ninh Thuận.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Thuận Bắc tham gia phiên tòa: Bà Lương Thị Huệ - Kiểm sát viên.
Ngày 26 tháng 9 năm 2024, tại phòng xử án Tòa án nhân dân huyện Thuận Bắc, tỉnh Ninh Thuận xét xử công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 27/2024/HSST ngày 12/9/2024, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử sơ thẩm theo thủ tục rút gọn số: 26/2024/QÐST-HS ngày 19/9/2024, đối với bị cáo:
KATƠR MÔN, sinh năm 1985. Nơi sinh: Ninh Thuận. Nơi cư trú: Thôn B, xã L, huyện T, Ninh Thuận. Nghề nghiệp: Làm nông; Trình độ học vấn: Không biết chữ. Dân tộc: Raglai; Giới tính: Nam. Tôn giáo: Không. Quốc tịch: Việt Nam; Chamaléa N và bà Katơr Thị Đ, sinh năm 1968. Vợ tên: Chamaléa Thị N1, sinh năm 1987. Con 02 người con, lớn nhất sinh năm 2007, nhỏ nhất sinh năm 2012. Tiền án, tiền sự: Không. Bị cáo đang thực hiện lệnh Cấm đi khỏi nơi cư trú. (Có mặt)
Người bị hại: Chị Chamalé Thị M, sinh năm 1993. Nơi cư trú: Thôn B, xã L, huyện T, Ninh Thuận. Vắng mặt
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Vào lúc khoảng 12 giờ 00 ngày 21/7/2024, sau khi nhậu say ở rẫy của nhà người quen tại thôn B, xã L, huyện T, K đi về nhà ở thôn B. Khi về đến nhà, thấy nhà của chị Chamaléa Thị M1 (chị M1 là em vợ của M2) không có ai ở nhà (nhà chị M1 và nhà M2 ở sát nhau) và biết chị M1 mới lĩnh lương có tiền nên M2 nảy sinh ý định đi vào nhà chị M1 lấy trộm tiền. Thấy cửa trước nhà của chị M1 khóa trong nên M2 đi ra phía sau bên hông trái của nhà chị M1 thì thấy cửa bên hông khép và cài chốt ngoài chứ không khóa nên M2 mở cửa đi vào trong nhà chị M1. Khi vào trong nhà, nhìn thấy 01 chiếc tủ quần áo bằng gỗ (loại 2 cánh) để ở cuối đường luồng, M2 đi đến trước tủ nhìn thì thấy cánh cửa tủ bên trái có cắm sẵn chìa khóa. Thấy vậy, M2 mở cánh cửa tủ bên trái ra thì thấy có nhiều áo treo trong tủ. M2 dùng tay sờ vào túi của các áo đang treo để tìm tiền. Khi sờ vào túi áo của chiếc áo khoác màu vàng thì M2
thấy có nhiều tờ tiền nên M2 đã lấy hết số tiền trong túi áo khoác và bỏ vào túi quần của M2 (M2 không đếm số tiền lấy trộm được là bao nhiêu và chỉ biết số tiền này gồm nhiều có tờ tiền mệnh giá 500.000đ) Sau đó, M2 khép cánh cửa tủ lại rồi đi ra ngoài bằng cửa bên hông lúc đi vào. Sau khi ra ngoài, M2 khép cửa bên hông lại rồi đi nhậu và hát karaoke ở nhà người quen. Môn sử dụng số tiền lấy trộm được để mua thuốc lá hút, đổ xăng xe máy và trả tiền thuê hát karaoke (Do lúc đó đã say nên M2 không nhớ đã sử dụng số tiền thể là bao nhiêu và M2 có làm rơi mất số tiền nào nữa hay không thì M2 không biết). Đến khoảng 18 giờ 00 cùng ngày, M2 nghỉ nhậu và đi về nhà ngủ. Trước khi đi ngủ, M2 lấy số tiền đã lấy trộm được ra đếm thì còn lại 06 tờ tiền mệnh giá 500.000đ (Năm trăm ngàn đồng). Sau khi bị mất tiền, chị Chamaléa Thị M1 đã đến Công an xã L để trình báo sự việc và khai báo số tiền bị mất là 6.000.000₫ (Sáu triệu đồng).Sau đó, M2 được Cơ quan Công an mời lên làm việc và M2 đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội như trên.
Tại Quyết định số: 27/QĐ-VKSTB ngày 11/9/2024 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Thuận Bắc đã truy tố Katơr M3 về tội “Trộm cắp tài sản” theo khoản 1 Điều 173 của Bộ luật hình sự.
Tại phiên tòa bị cáo Katơr M3 khai nhận khoảng 12 giờ 00 ngày 21/7/2024, bị cáo đã có hành vi lén lút trộm cắp 6.000.0000 đồng của chị Chamaléa Thị M1.
Người bị hại trong quá trình tố tụng trình bày: Bà Chamaléa Thị M4 xác nhận bị cáo là người lấy trộm số tiền 6.000.000 đồng. Trong quá trình điều tra bị cáo đã bồi thường lại cho bà số tiền trên. Bà xin giảm nhẹ trách nhiệm hình sư cho bị cáo.
Tại phiên tòa đại diện Viện kiểm sát vẫn giữ nguyên Quyết định truy tố đối với bị cáo về tội danh như trên và đề nghị HĐXX:
- Áp dụng: Khoản 1 Điều 173; Điều 36; điểm b, i, s khoản 1 Điều 51 BLHS
Xử phạt bị cáo Kator M3 từ 06 tháng đến 09 tháng cải tạo không giam giữ.
Ngoài ra đại diện Viện kiểm sát còn đề nghị HĐXX quyết định án phí Hình sự sơ thẩm.
Bị cáo, người bị hại không có ý kiến tranh luận gì với đại diện Viện kiểm sát.
Bị cáo nói lời nói sau cùng có nội dung cụ thể như sau: “Bị cáo nhận thức được hành vi của mình là trái pháp luật, rất hối hận và mong Hội đồng xét xử giảm nhẹ mức hình phạt”.
NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:
[1]. Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện T, Điều tra viên; Viện Kiểm sát nhân dân huyện Thuận Bắc, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, các bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
[2]. Tại phiên tòo bị cáo Kator M3 khai nhận vào khoảng 12 giờ 00 ngày 21/7/2024, bị cáo đã có hành vi lén lút trộm cắp 6.000.0000 đồng của chị Chamaléa Thị M1. Lời khai của bị cáo tại phiên tòa, hoàn toàn phù hợp với lời khai của bị cáo tại cơ quan điều tra, phù hợp với lời khai của người bị hại, cùng các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên tòa. Như vậy, khẳng định Quyết định số 27/QĐ-VKSTB ngày 11/9/2024 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Thuận Bắc đã truy tố Katơr M3 về tội “Trộm cắp tài sản” theo khoản 1 Điều 173 của Bộ luật hình sự là có cơ sở, đúng pháp luật.
[3] Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội vì đã trực tiếp xâm phạm đến quyền sở hữu tài sản của người khác được pháp luật bảo vệ. Bị cáo nhận thức được hành vi trộm cắp tài sản của người khác là vi phạm pháp luật nhưng do bản chất lười lao động, muốn chiếm đoạt trái phép tài sản của người khác nên đã cố tình thực hiện với lỗi cố ý. Vì vậy, HĐXX khẳng định bị cáo đã phạm tội “Trộm cắp tài sản”. Tội và hình phạt được quy định tại khoản 1 Điều 173 của BLHS. Bị cáo có nhân thân tốt, chưa có tiền án, tiền sự, có các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự là: “Bồi thường, khắc phục hậu quả”, “Phạm tội gây thiệt hại không lớn”, “Phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng” và “Thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; bị hại xin giảm nhẹ cho bị cáo được quy định tại điểm b, h, i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự. Từ những phân tích trên, HĐXX chấp nhận đề nghị của Kiểm sát viên. Xử phạt bị cáo hình phạt cải tạo không giam giữ cũng đủ tác dụng cải tạo giáo dục bị cáo nói riêng, đấu tranh phòng chống tội phạm nói chung. Do bị cáo không có thu nhập ổn định nên không khấu trừ thu nhập của bị cáo.
[4] Các vấn đề khác: Trong quá trình tố tụng, bị hại đã được trả lại số tiền 6.000.000 đồng nên không yêu cầu bị cáo phải bồi thường gì thêm. Do đó, HĐXX không xem xét.
[5] Về án phí: Bị cáo Katơr M3 phải chịu 200.000 đồng án phí Hình sự sơ thẩm
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào: Khoản 1 Điều 173; Điều 36; điểm b, h, i, s khoản 1 Điều 51 BLHS
Tuyên bố: Bị cáo Kator M3 đã phạm tội trộm cắp tài sản.
Xử phạt: Bị cáo Kator M3 06 (Sáu) tháng cải tạo không giam giữ. Thời điểm bắt đầu chấp hành án phạt cải tạo không giam giữ tính từ ngày cơ quan thi hành án hình sự Công an cấp huyện nhận được quyết định thi hành án.
Giao bị cáo M3 cho Ủy ban nhân dân xã L, huyện T, tỉnh Ninh Thuận giám sát, giáo dục trong thời gian chấp hành hình phạt cải tại không giam giữ. Bị cáo phải chấp hành một số nghĩa vụ theo các quy định về cải tạo không giam giữ. Không khấu trừ thu nhập hàng tháng đối với bị cáo.
Về án phí: Căn cứ Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Bị cáo Katơr M3 phải chịu 200.000 đồng tiền án phí Hình sự sơ thẩm.
Về quyền kháng cáo: Án xử công khai sơ thẩm, có mặt bị cáo. Quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án (ngày 25/9/2024). Riêng người bị hại, vắng mặt tại phiên tòa, quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày bản án được niêm yết hoặc được tống đạt hợp lệ.
Nơi nhận:
| TM.HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa Ngô Minh Đăng |
Bản án số /2024/HS-ST ngày 26/09/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THUẬN BẮC - TỈNH NINH THUẬN về trộm cắp tài sản
- Số bản án: /2024/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Trộm cắp tài sản
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 26/09/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THUẬN BẮC - TỈNH NINH THUẬN
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: bị cáo M phạm tội trộm cắp tài sản
