Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

THỊ XÃ SƠN TÂY, TP. HÀ NỘI

Bản án số: 17/2024/DSST

Ngày 26/07/2024

V/v: Tranh chấp hợp đồng tín dụng

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh Phúc

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ SƠN TÂY, THÀNH PHỐ HÀ NỘI

Với thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Hoàng Đức Ngọc

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Đinh Quang Hoà và bà Đào Thị Minh Nguyệt.

Thư ký Tòa án ghi biên bản phiên tòa: Ông Lê Đức Thuận, thư ký Tòa án nhân dân thị xã Sơn Tây.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã Sơn Tây tham gia phiên toà: Bà Lã Thị Loan, Kiểm sát viên.

Ngày 26 tháng 07 năm 2024 tại trụ sở Tòa án nhân dân thị xã Sơn Tây xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số: 24/2024/TLST-DS ngày 01 tháng 04 năm 2024 về việc tranh chấp hợp đồng tín dụng theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 16/2024/QĐXXST-DS ngày 01 tháng 07 năm 2024 và Quyết định hoãn phiên tòa số 12/2024/QĐST-DS ngày 17 tháng 07 năm 2024, giữa các đương sự:

  • -Nguyên đơn: Ngân hàng TMCP B;

    Trụ sở: LPB Tower, số B T, phường T, quận H, thành phố Hà Nội.

    - Người đại diện theo pháp luật: Ông Nguyễn Đức T-Chức vụ: Chủ tịch Hội đồng quản trị.

    -Người đại diện theo uỷ quyền tham gia tố tụng: Ông Nguyễn Thế H, sinh năm 1990-Chuyên viên phòng Xử lý nợ phía Bắc, Ngân hàng TMCP B. Có mặt

    Địa chỉ: Tòa nhà L, số B T, phường T, quận H, thành phố Hà Nội.

  • - Bị đơn:

    1. Anh Nguyễn Văn H1, sinh năm 1981; Có mặt

    2. Chị Nguyễn Thị Thu H2, sinh năm 1983; Vắng mặt

    Địa chỉ: Số C Chùa T, phường S, S, Hà Nội.

  • -Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

    1. Bà Phạm Thị T1, sinh năm 1958; Vắng mặt

    2. Anh Nguyễn Văn H3, sinh năm 1983; Vắng mặt

    3. (Bà T1 và anh H3 uỷ quyền cho anh Nguyễn Văn H1)

    4. Chị Lê Thị V, sinh năm 1994; Vắng mặt

    Cùng địa chỉ: Thôn M, xã B, huyện B, Hải Dương.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

- Theo đơn khởi kiện, bản tự khai, quá trình giải quyết vụ án và tại phiên toà, người đại diện theo uỷ quyền của nguyên đơn trình bày:

Anh Nguyễn Văn H1 và chị Nguyễn Thị Thu H2 đã ký kết Hợp đồng tín dụng số HDTD106202147 ngày 25/10/2021 với Ngân hàng TMCP B (gọi tắt là L). Số tiền vay: 900.000.000 đồng (Chín trăm triệu đồng). Thời hạn cho vay 180 tháng kể từ ngày tiếp theo của ngày Ngân hàng giải ngân đầu tiên. Phương thức cho vay: từng lần. Lãi suất theo quy định của L tại thời điểm giải ngân. Mục đích sử dụng vốn: Vay tiêu dùng mua sắm nội thất gia đình. Số tiền đã giải ngân: 900.000.000 đồng (Bằng chữ: Chín trăm triệu đồng). Tính đến ngày 11/04/2024, ông Hiệp/bà H2 đã trả được cho L số tiền nợ là:

  • + Trả gốc 59.500.269 đồng

  • + Trả nợ lãi 99.574.713 đồng

  • + Tổng đã trả 159.74.982 đồng

Trong quá trình thực hiện hợp đồng tín dụng anh H1 và chị H2 đã không thực hiện đúng cam kết và khoản vay đã quá hạn. Kể từ ngày khoản vay quá hạn thanh toán, L đã nhiều lần đôn đốc bên vay và bên bảo đảm thực hiện nghĩa vụ trả nợ. Nhưng đến nay, anh H1 và chị H2 vẫn chưa thực hiện nghĩa vụ trả nợ cho L. Tạm tính đến ngày 12/07/2024 là: 1.099.474.651 đồng (Bằng chữ: Một tỷ, không trăm chín mươi chín triệu, bốn trăm bảy mươi tư nghìn, sáu trăm năm mươi mốt đồng), trong đó: Nợ gốc là 840.499.723 đồng; Nợ lãi trong hạn là 221.562.018 đồng; Lãi trên nợ gốc quá hạn: 18.878.714 đồng; Nợ lãi chậm trả lãi là 18.534.195 đồng.

Tài sản bảo đảm là quyền sử dụng đất tại Thửa đất số 147, tờ bản đồ số: 04 tại địa chỉ xã B, huyện B, tỉnh Hải Dương theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số DA 944193; Số vào sổ cấp GCN: CH00094.BM-BG do Ủy ban nhân dân huyện B, tỉnh Hải Dương cấp ngày 14/04/2021 cho bà Phạm Thị T1.

L đề nghị Tòa án xem xét và giải quyết các yêu cầu như sau:

  1. Buộc bà ông Hiệp/bà H2 phải thực hiện nghĩa vụ trả nợ ngay cho L tổng số tiền nợ tính đến ngày 12/07/2024 là: 1.099.474.651 đồng (Bằng chữ: Một tỷ, không trăm chín mươi chín triệu, bốn trăm bảy mươi tư nghìn, sáu trăm năm mươi mốt đồng), trong đó: Nợ gốc là 840.499.723 đồng; Nợ lãi trong hạn là 221.562.018 đồng; Lãi trên nợ gốc quá hạn: 18.878.714 đồng; Nợ lãi chậm trả lãi là 18.534.195 đồng. Trong thời gian chưa thanh toán hết khoản nợ ông Hiệp/bà H2 phải chịu lãi suất quá hạn kể từ ngày 13/07/2024 theo quy định tại Hợp đồng tín dụng và Khế ước nhận nợ đã ký với L, cho đến khi tất toán khoản vay.
  2. Ngay sau khi Bản án/Quyết định của Tòa án có hiệu lực pháp luật, nếu ông Hiệp/bà H2 không thực hiện đúng và đầy đủ nghĩa vụ trả nợ, L được quyền yêu cầu cơ quan thi hành án có thẩm quyền cưỡng chế, phát mại tài sản bảo đảm là: Thửa đất số 147, tờ bản đồ số: 04 tại địa chỉ xã B, huyện B, tỉnh Hải Dương theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số DA 944193; Số vào sổ cấp GCN: CH00094.BM-BG do Ủy ban nhân dân huyện B, tỉnh Hải Dương cấp ngày 14/04/2021 cho bà Phạm Thị T1.
  3. Trường hợp số tiền thu được từ việc phát mại tài sản bảo đảm không đủ thực hiện nghĩa vụ trả nợ, đề nghị Tòa án tuyên ông Hiệp/bà H2 phải có nghĩa vụ trả hết nợ cho L.

- Theo bản tự khai, quá trình giải quyết vụ án và tại phiên toà, bị đơn anh Nguyễn Văn H1 trình bày:

Năm 2021, anh và vợ là chị Nguyễn Thị Thu H2 có vay của Ngân hàng B chi nhánh H4 số tiền 900.000.000 đồng và đã nhận đủ số tiền nêu trên. Mục đích vay để mua ô tô đầu kéo để đi kéo xi măng. Quá trình vay, vợ chồng anh đã trả được một phần nợ gốc, nợ lãi cho Ngân hàng. Tổng số tiền nợ Ngân hàng tính đến ngày 11/04/2024 là: 1.047.525.141 đồng, anh không có ý kiến gì. Anh không nhất trí đối với yêu cầu trả một lúc với số tiền 1.047.525.141 đồng của Ngân hàng. Do anh chưa có điều kiện trả luôn, vợ chồng anh H1 xin đề nghị với Ngân hàng cho gia đình anh được trả nợ dần hàng tháng, cụ thể là 15.000.000 đồng/ tháng. Vì hoàn cảnh gia đình rất khó khăn, làm ăn không thuận lợi, anh mua xe chở xi măng cho nhà nước nhưng sau đó có quy định hạ tải nên anh không cạnh tranh được với đại lý. Sau đó, anh có mở nhà hàng nhưng hoạt động không hiệu quả nên cũng phải tạm dừng sau 01 năm hoạt động. Anh cũng không nhất trí với yêu cầu của Ngân hàng về việc phát mại tài sản ngay, mà đề nghị của anh là Ngân hàng cho anh thời gian trả nợ.

Để bảo đảm cho khoản vay thì mẹ anh là bà Phạm Thị T1 có thế chấp quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất tại Thửa đất số 147, tờ bản đồ số: 04 tại địa chỉ xã B, huyện B, tỉnh Hải Dương theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số DA 944193; Số vào sổ cấp GCN: CH00094.BM-BG do Ủy ban nhân dân huyện B, tỉnh Hải Dương cấp ngày 14/04/2021 cho bà Phạm Thị T1.

Tại phiên tòa đại diện Viện kiểm sát phát biểu quan điểm:

Về tố tụng: Hội đồng xét xử đã chấp hành đúng các quy định của pháp luật tố tụng.

Về nội dung: Đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận một phần đơn khởi kiện của Ngân hàng B. Buộc anh Nguyễn Văn H1 và chị Nguyễn Thị Thu H2 phải thực hiện nghĩa vụ trả nợ cho Ngân hàng B số tiền tạm tính đến ngày 12/07/2024 là: 1.080.940.455 đồng, trong đó: Nợ gốc là 840.499.723 đồng; Nợ lãi trong hạn là 221.562.018 đồng; Lãi trên nợ gốc quá hạn: 18.878.714 đồng. Không chấp nhận yêu trả nợ lãi chậm trả lãi là 18.534.195 đồng.

Nếu anh Nguyễn Văn H1 và chị Nguyễn Thị Thu H2 không thực hiện đúng và đầy đủ nghĩa vụ trả nợ, Ngân hàng được quyền yêu cầu cơ quan thi hành án có thẩm quyền cưỡng chế, phát mại tài sản bảo đảm là: Thửa đất số 147, tờ bản đồ số: 04 tại địa chỉ xã B, huyện B, tỉnh Hải Dương theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số DA 944193; Số vào sổ cấp GCN: CH00094.BM-BG do Ủy ban nhân dân huyện B, tỉnh Hải Dương cấp ngày 14/04/2021 cho bà Phạm Thị T1.

Về án phí: Anh H1 và chị H2 phải chịu án phí dân sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật. Hoàn trả Ngân hàng B số tiền tạm ứng án phí đã nộp.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, sau khi nghe ý kiến của đại diện Viện kiểm sát, Hội đồng xét xử nhận định:

[1] Về tố tụng:

[1.1] Về quan hệ pháp luật: Ngân hàng TMCP B khởi kiện anh Nguyễn Văn H1 và chị Nguyễn Thị Thu H2 về việc tranh chấp hợp đồng tín dụng là tranh chấp dân sự về hợp đồng tín dụng theo quy định tại khoản 3 Điều 26 của Bộ luật Tố tụng Dân sự.

[1.2] Về thẩm quyền giải quyết vụ án: Ngân hàng TMCP B khởi kiện vụ án dân sự về tranh chấp hợp đồng tín dụng với anh Nguyễn Văn H1 và chị Nguyễn Thị Thu H2 có nơi cư trú tại T, Hµ N. Căn cứ theo điểm a khoản 1 Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng Dân sự, vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân thị xã Sơn Tây, thành phố Hà Nội.

[1.3] Bị đơn chị Nguyễn Thị Thu H2 và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan chị Lê Thị V đã được Toà án triệu tập hợp lệ lần thứ hai nhưng vắng mặt không có lý do, nên HĐXX tiến hành xét xử vắng mặt theo quy định tại Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự.

[2] Về nội dung:

[2.1] Xét yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng TMCP B yêu cầu anh Nguyễn Văn H1 và chị Nguyễn Thị Thu H2 thực hiện nghĩa vụ trả nợ cho Ngân hàng:

Xét Hợp đồng tín dụng số HDTD106202147 ngày 25/10/2021 và Giấy đề nghị giải ngân kiêm kế ước nhận nợ số [...]/01 ngày 29/10/2021 giữa Ngân hàng với anh H1, chị H2 được ký bởi người đại diện hợp pháp của bên cho vay là Ngân hàng và bên vay là anh H1 và chị H2. Các bên tham gia hợp đồng có đủ năng lực hành vi dân sự, trên cơ sở tự nguyện, các thỏa thuận có nội dung và mục đích để thực hiện nhu cầu của mỗi bên, không vi phạm điều cấm của luật và không trái đạo đức xã hội. Hình thức hợp đồng phù hợp với quy định của pháp luật. Do đó, hợp đồng tín dụng có hiệu lực buộc các bên phải thực hiện đúng các quyền và nghĩa vụ của mình quy định tại hợp đồng. Quá trình thực hiện hợp đồng, bên cho vay là Ngân hàng đã giải ngân, anh H1 và chị H2 đã nhận đủ số tiền vay theo đúng hợp đồng tín dụng. Như vậy, Ngân hàng đã thực hiện đúng nghĩa vụ của mình theo hợp đồng.

Tuy khoản vay chưa đến hạn, nhưng trong quá trình thực hiện hợp đồng anh H1 và chị H2 đã vi phạm nghĩa vụ trả nợ theo kỳ hạn. Như vậy, anh H1 và chị H2 thực hiện không đúng nghĩa vụ thanh toán cho Ngân hàng như đã cam kết là vi phạm nghĩa vụ trả nợ do các bên thỏa thuận theo Hợp đồng tín dụng số HDTD106202147 ngày 25/10/2021 và Giấy đề nghị giải ngân kiêm kế ước nhận nợ số [...]/01 ngày 29/10/2021. Do vậy, việc Ngân hàng đã khởi kiện yêu cầu anh H1 và chị H2 thanh toán toàn bộ khoản nợ là phù hợp với thỏa thuận của hai bên theo Hợp đồng tín dụng số HDTD106202147 ngày 25/10/2021, Giấy đề nghị giải ngân kiêm kế ước nhận nợ số [...]/01 ngày 29/10/2021 và khoản 1 Điều 95 Luật các tổ chức tín dụng.

Hội đồng xét xử xét thấy: Yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng buộc anh Nguyễn Văn H1 và chị Nguyễn Thị Thu H2 thanh toán cho Ngân hàng số tiền tạm tính đến hết ngày 12/07/2024 là: 1.099.474.651 đồng (Bằng chữ: Một tỷ, không trăm chín mươi chín triệu, bốn trăm bảy mươi tư nghìn, sáu trăm năm mươi mốt đồng), trong đó: Nợ gốc là 840.499.723 đồng; Nợ lãi trong hạn là 221.562.018 đồng; Lãi trên nợ gốc quá hạn: 18.878.714 đồng; Nợ lãi chậm trả lãi (lãi trên nợ lãi trong hạn) là 18.534.195 đồng. Trong thời gian chưa thanh toán hết khoản nợ, anh H1 và chị H2 phải chịu lãi suất quá hạn kể từ ngày 13/07/2024 theo quy định tại Hợp đồng tín dụng và Khế ước nhận nợ đã ký với Ngân hàng cho đến khi tất toán khoản vay là có cơ sở và phù hợp với Hợp đồng tín dụng và Giấy đề nghị giải ngân kiêm kế ước nhận nợ đã ký, cũng như phù hợp với các quy định tại Điều 91 và Điều 95 Luật các tổ chức tín dụng năm 2010.

[2.2] Về yêu cầu xử lý tài sản bảo đảm của Ngân hàng trong trường hợp anh Nguyễn Văn H1 và chị Nguyễn Thị Thu H2 không thực hiện nghĩa vụ trả nợ:

Để bảo đảm cho các nghĩa vụ tín dụng, bà Phạm Thị T1 đã thế chấp tài sản của mình cho Ngân hàng. Tài sản thế chấp là Quyền sử dụng đất tại thửa đất số 147; tờ bản đồ số 04; diện tích 483 m2; địa chỉ xã B, huyện B, Hải Dương. Theo giấy chứng nhận QSDĐ số DA 944193, số vào sổ cấp GCN: CH00094, do UBND huyện B, Hải Dương cấp ngày 14/07/2021 đứng tên bà Phạm Thị T1.

Xét Hợp đồng thế chấp được ký giữa bên nhận thế chấp là Ngân hàng với bên thế chấp là bà Phạm Thị T1. Hợp đồng được ký bởi người đại diện hợp pháp của bên nhận thế chấp với bên thế chấp là chủ sở hữu tài sản hợp pháp. Các bên tham gia hợp đồng có đủ năng lực hành vi dân sự, trên cơ sở tự nguyện, các thỏa thuận có nội dung và mục đích được thực hiện quyền nghĩa vụ của mỗi bên, không vi phạm điều cấm của luật và không trái đạo đức xã hội. Hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất được công chứng và đăng ký giao dịch bảo đảm theo quy định của pháp luật. Do đó, hợp đồng thế chấp có hiệu lực buộc các bên phải thực hiện đúng các quyền và nghĩa vụ của mình quy định tại hợp đồng.

[3] Về án phí: anh Nguyễn Văn H1 và chị Nguyễn Thị Thu H2 phải chịu án phí Theo quy định của pháp luật. Hoàn trả Ngân hàng số tiền tạm ứng án phí đã nộp.

Bởi các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ khoản 3 Điều 26, khoản 1 Điều 35, khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự 2015; Điều 117, 298, 299, 317, 320, 323, 325 và 401 Bộ luật dân sự 2015; Điều 91, Điều 95 Luật các tổ chức tín dụng năm 2010; Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội.

  1. Xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện về việc tranh chấp hợp đồng tín dụng của Ngân hàng TMCP B với anh Nguyễn Văn H1 và chị Nguyễn Thị Thu H2.
  2. Buộc anh Nguyễn Văn H1 và chị Nguyễn Thị Thu H2 phải thanh toán cho Ngân hàng TMCP B tổng số tiền tạm tính đến ngày 12/07/2024 là: 1.099.474.651 đồng (Bằng chữ: Một tỷ, không trăm chín mươi chín triệu, bốn trăm bảy mươi tư nghìn, sáu trăm năm mươi mốt đồng), trong đó: Nợ gốc là 840.499.723 đồng; Nợ lãi trong hạn là 221.562.018 đồng; Lãi trên nợ gốc quá hạn: 18.878.714 đồng; Nợ lãi chậm trả lãi (lãi trên nợ lãi trong hạn) là 18.534.195 đồng.
  3. Kể từ ngày 13/07/2024, anh Nguyễn Văn H1 và chị Nguyễn Thị Thu H2 còn phải tiếp tục chịu khoản tiền lãi quá hạn của số tiền nợ gốc chưa thanh toán, theo mức lãi suất mà các bên thỏa thuận trong hợp đồng cho đến khi thanh toán xong khoản nợ gốc này. Trường hợp trong hợp đồng tín dụng, các bên có thỏa thuận về việc điều chỉnh lãi suất cho vay theo từng thời kỳ của Ngân hàng cho vay thì lãi suất mà khách hàng vay phải tiếp tục thanh toán cho Ngân hàng cho vay theo quyết định của Tòa án cũng sẽ được điều chỉnh cho phù hợp với sự điều chỉnh lãi suất của Ngân hàng cho vay.

    Nếu anh Nguyễn Văn H1 và chị Nguyễn Thị Thu H2 không thực hiện nghĩa vụ thanh toán khoản nợ nêu trên thì Ngân hàng TMCP B có quyền có quyền đề nghị cơ quan Thi hành án phát mại tài sản bảo đảm để thu nợ. Tài sản bảo đảm là: Quyền sử dụng đất tại thửa đất số 147; tờ bản đồ số 04; diện tích 483 m2; địa chỉ xã B, huyện B, Hải Dương. Theo giấy chứng nhận QSDĐ số DA 944193, số vào sổ cấp GCN: CH00094, do UBND huyện B, Hải Dương cấp ngày 14/07/2021 đứng tên bà Phạm Thị T1.

    Trường hợp số tiền thu được từ việc phát mại tài sản bảo đảm không đủ thực hiện nghĩa vụ trả nợ, thì anh Nguyễn Văn H1 và chị Nguyễn Thị Thu H2 phải có nghĩa vụ trả hết nợ cho Ngân hàng TMCP B.

  4. Về án phí: anh Nguyễn Văn H1 và chị Nguyễn Thị Thu H2 phải chịu 44.984.000 đồng án phí dân sự sơ thẩm. Hoàn trả Ngân hàng TMCP B 17.500.000 đồng tiền tạm ứng án phí Ngân hàng đã nộp theo Biên lai thu tạm ứng số 0000890 ngày 01/04/2024 tại Chi cục Thi hành án Dân sự thị xã Sơn Tây.
  5. Về quyền kháng cáo: Căn cứ điều 271, 273 Bộ luật tố tụng dân sự.
  6. Ngân hàng TMCP B, anh Nguyễn Văn H1 có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm. Những đương sự vắng mặt được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.

    Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

Nơi nhận:

  • - TAND TP Hà Nội;

  • - VKSND TX Sơn Tây;

  • - Chi cục THADS TX Sơn Tây;

  • - Các đương sự;

  • - Lưu hồ sơ

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa

Hoàng Đức Ngọc

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 17/2024/DSST ngày 26/07/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ SƠN TÂY, THÀNH PHỐ HÀ NỘI về tranh chấp hợp đồng tín dụng

  • Số bản án: 17/2024/DSST
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hợp đồng tín dụng
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 26/07/2024
  • Loại vụ/việc: Dân sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ SƠN TÂY, THÀNH PHỐ HÀ NỘI
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: tranh chấp hợp đồng tín dụng
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger