TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ G TỈNH BẠC LIÊU | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: 17/2024/HS-ST Ngày 26-4-2024 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ G, TỈNH BẠC LIÊU
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Tất Liệt
Các Hội thẩm nhân dân:
- Bà Cao Thị Mỹ Phượng
- Ông Nguyễn Thành Nhạn
Thư ký phiên tòa: Ông Trần Minh Luân, Thư ký Tòa án nhân dân thị xã G, tỉnh Bạc Liêu.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã G, tỉnh Bạc Liêu tham gia phiên tòa: Ông Trần Chí Linh - Kiểm sát viên.
Ngày 26 tháng 4 năm 2024 tại trụ sở Tòa án nhân dân thị xã G, tỉnh Bạc Liêu xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 16/2024/TLST-HS ngày 18 tháng 3 năm 2024 theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 23/2024/QĐXXST-HS ngày 15 tháng 4 năm 2024 đối với các bị cáo:
1. Trần Minh N; Tên gọi khác: K, H; Sinh năm 1997; Tại: G, Bạc Liêu;
Nơi cư trú: Khóm E, phường A, thị xã G, tỉnh Bạc Liêu; Nghề nghiệp: Không; Trình độ văn hóa (học vấn): 04/12; Dân tộc: Khmer; Giới tính: Nam; Con ông: Trần Lai H1 (đã chết) và bà: Hữu Thị H2 (đã chết); Vợ: Không; Con: Không.
Tiền án: Ngày 08/7/2022 Tòa án nhân dân thị xã G xử phạt 09 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản” theo bản án số: 56/2023/HS-ST, bị cáo đã chấp hành hình phạt tù xong ngày 24/5/2023
Tiền sự: Không.
Nhân thân: Ngày 30/6/2015 Tòa án nhân dân tỉnh Bạc Liêu xử phạt 11 tháng 08 ngày về tội “Trộm cắp tài sản” và được trả tự do tại tòa; theo bản án số 10/2015/HS-ST.
Ngày 28/12/2016 Tòa án nhân dân thị xã G xử phạt 02 năm tù về tội “Trộm cắp tài sản” theo bản án số 47/2016/HS-ST, chấp hành hình phạt tù xong ngày 26/9/2018
Ngày 10/5/2019 Tòa án nhân dân thị xã G quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc thời gian 21 tháng.
Ngày 06/12/2023 bị cáo đầu thú và bị tạm giữ, đến ngày 14/12/2023 chuyển tạm giam đến nay.
Bị cáo có mặt tại phiên tòa.
2. Nguyễn Thanh N1; Tên gọi khác: Cuội; Sinh ngày 14/11/1995; Tại: G, Bạc Liêu; Nơi cư trú: Ấp C, xã T, thị xã G, tỉnh Bạc Liêu; Nghề nghiệp: Làm thuê; Trình độ văn hóa (học vấn): Không biết chữ; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Con ông: Nguyễn Hùng Đ, sinh năm 1957 và bà: Dương Thị N2, sinh năm 1968; Vợ: Không; Con: Không.
Tiền án: Ngày 15/3/2024 Tòa án nhân dân thị xã G xử phạt 06 tháng tù về tội “Tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có” theo bản án số: 06/2024/HS-ST, quyết định thi hành hình phạt tù ngày 25/4/2024
Tiền sự: không;
Nhân thân: Ngày 26/01/2021 Chủ tịch Ủy ban nhân dân xã T áp dụng biện pháp giáo dục tại xã, phường, thị trấn thời gian 03 tháng về hành vi “Sử dụng trái phép chất ma túy”.
Bị cáo tại ngoại, bị cáo có mặt tại phiên tòa.
Các bị hại:
- Ông Hà Duy L, sinh năm 2023 (vắng mặt)
Nơi cư trú: Khóm 5, phường 1, thị xã Giá Rai, tỉnh Bạc Liêu
- Ông Huỳnh Văn V, sinh năm 1963 (vắng mặt)
Nơi cư trú: Khóm E, phường A, thị xã G, tỉnh Bạc Liêu
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Ông Hiệu Ngọc H3, sinh năm 1984
Nơi cư trú: Khóm E, phường A, thị xã G, tỉnh Bạc Liêu
(Có yêu cầu vắng mặt)
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Lần 1: Vào khoảng 01 giờ, ngày 17/10/2023, bị cáo Trần Minh N đi bộ đến chùa “Ông” thuộc khóm E, phường A, thị xã G, tỉnh Bạc Liêu thấy chùa đang xây dựng và sửa chữa không ai trông giữ nên lén lút vào trong lấy các tài sản của ông Huỳnh Văn V gồm: 01 bộ phận xịt nước (bộ phận rửa xe dây đai) có 01 giá đỡ bằng sắt, 01 mô tơ công suất 1,5 KW màu xanh, 01 đầu phun áp lực màu đỏ, 01 sợi dây curoa răng màu đen, 01 dây phun áp lực màu vàng có chiều dài 15 mét và 01 hộp kim loại màu đỏ có dòng chữ GONGYI bên trong có đựng 01 máy khoan hiệu GONGYI GY 0810 màu đỏ - đen. N lấy tất cả về nhà, mang tài sản đã lấy trộm cất giấu. Đến ngày 18/10/2023, Nam bán tài sản trộm cho ông Hiệu Ngọc H3 với số tiền 900.000 đồng. Quá trình điều tra, ông H3 tự nguyện giao nộp lại các tài sản nêu trên và đã giao trả cho ông Huỳnh Văn V.
Tại kết luận định giá tài sản số 06/KL-HĐĐGTS ngày 15/01/2024 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự thị xã G kết luận: 01 bộ rửa xe dây đai bao gồm: 01 giá đỡ bằng sắt, 01 mô tơ công suất 1,5KW màu xanh, 01 đầu phun áp lực màu đỏ, 01 sợi dây curoa răng màu đen, 01 phun áp lực màu vàng chiều dài 15m, mua cách thời điểm mất 02 năm. Hội đồng định giá căn cứ hiện trạng thực tế của tài sản để xác định giá trị. Tại thời điểm yêu cầu định giá tài sản trên có giá là 800.000 đồng; 01 hộp kim loại màu đỏ có dòng chữ GONGYI GY 0810 và 01 máy khoan bê tông hiệu GONGYI GY 0810 màu đỏ - đen, mua cách thời điểm mất 02 năm. Hội đồng định giá căn cứ hiện trạng thực tế của tài sản để xác định giá trị. Tại thời điểm yêu cầu định giá tài sản trên có giá là 300.000 đồng. Tổng cộng là 1.100.000 đồng.
Lần 2: Vào khoảng 00 giờ ngày 22/10/2023, bị cáo Trần Minh N đi đến nhà ông Hà Duy L ở khóm E, phường A, thị xã G nhìn vào cửa kính thấy có 01 chiếc xe mô tô hiệu Honda, loại Wave Alpha, màu đỏ, biển kiểm soát 94D1- 473.68 đậu trong nhà, cửa không có khóa, không người trông giữ. N vào nhà lén lút lấy trộm xe mô tô trên dắt về nhà của N, đi được một đoạn, N dùng tay giật biển kiểm soát xe mô tô làm gãy khớp nối vào đuôi xe, giật đứt các đoạn dây điện ở gần cổ xe, khởi động máy và điều khiển xe mô tô đi về nhà của mình, trên đường đi về nhà thì biển kiểm soát 94D1- 473.68 bị rớt mất (không xác định ở vị trí nào).
Đến khoảng 08 giờ, ngày 22/10/2023, N điều khiển xe mô tô lấy trộm của ông L đi đến nhà của Nguyễn Thanh N1 (C) bán với số tiền 1.400.000 đồng (N1 biết rõ xe mô tô trên do N trộm cắp mà có nhưng vẫn đồng ý mua). Sau đó, N1 bán cái pô xe cho một người đàn ông mua phế liệu (không biết họ tên và địa chỉ) với số tiền 400.000 đồng. Trong quá trình điều tra đã thu hồi chiếc xe mô tô hiệu Honda, loại Wave Alpha, màu sơn đỏ, không biển kiểm soát và được giao trả cho ông Hà Duy L.
Tại kết luận định giá tài sản số 131/KL-HĐĐGTS ngày 12/12/2023 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự thị xã G kết luận: 01 (Một) chiếc xe mô tô hiệu Wave, loại Alpha màu đỏ biển kiểm soát 94D1 - 473.68 mua qua tay vào tháng 02/2022. Tại thời điểm yêu cầu định giá là 17.800.000 đồng/chiếc. Nhưng do thời gian sử dụng tài sản bị hao mòn, nên giá trị còn lại là 80%. Thành tiền: 17.800.000 đồng x 80% = 14.240.000 đồng.
Bản cáo trạng số: 17/CT-VKS-HS ngày 15/3/2024 của Viện kiểm sát nhân dân thị xã G, tỉnh Bạc Liêu đã truy tố bị cáo Trần Minh N tội “Trộm cắp tài sản” theo khoản 1 Điều 173 của Bộ luật Hình sự và Nguyễn Thanh N1 tội “Tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có” theo khoản 1 Điều 323 Bộ luật Hình sự.
Tại phiên tòa, Kiểm sát viên thực hành quyền công tố luận tội, giữ nguyên quan điểm truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử:
Áp dụng: Khoản 1 Điều 173; điểm s khoản 1, 2 Điều 51; điểm g, h khoản 1 Điều 52 của Bộ luật Hình sự. Tuyên bố: Bị cáo Trần Minh N phạm tội “Trộm cắp tài sản”. Xử phạt: Bị cáo Trần Minh N từ 01 năm đến 01 năm 06 tháng tù.
Áp dụng: Khoản 1 Điều 323; điểm s khoản 1 Điều 51, điểm g khoản 1 Điều 52, khoản 2 Điều 56 của Bộ luật Hình sự. Tuyên bố: Bị cáo Nguyễn Thanh N1 phạm tội “Tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có”. Xử phạt: Bị cáo Nguyễn Thanh N1 từ 09 tháng đến 01 năm tù. Tổng hợp hình phạt 06 tháng tù tại bản án số 06/HSST ngày 15/3/2024 của Tòa án nhân dân thị xã Giá Rai.
Về trách nhiệm dân sự: Ông Huỳnh Văn V, ông Hà Duy L đã nhận lại tài sản và không yêu cầu bồi thường tiếp nên không đặt ra xem xét, ông Hiệu Ngọc H3 không yêu cầu trả số tiền 900.000 đồng nên không xem xét.
Về xử lý vật chứng: Tài sản bị cáo lấy trộm và đem đi tiêu thụ đã giao trả cho chủ sở hữu xong nên không đặt ra xem xét.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Hành vi, quyết định tố tụng của Điều tra viên, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Ông Hà Duy L, ông Huỳnh Văn V đã nhận lại tài sản, không yêu cầu về trách nhiệm dân sự, đã có lời khai trong hồ sơ vụ án, được triệu tập tham dự phiên tòa, ông Hiệu Ngọc H3 không yêu cầu bồi thường, đã có lời khai trong hồ sơ vụ án, có yêu cầu xử vắng mặt, xét thấy sự vắng mặt của những người trên không ảnh hưởng đến việc giải quyết vụ án, căn cứ vào Điều 292 của Bộ luật Tố tụng hình sự tiến hành xét xử vắng mặt ông Hà Duy L, ông Huỳnh Văn V và ông Hiệu Ngọc H3.
[2] Xuất phát từ ý thức xem thường pháp luật, vì động cơ vụ lợi, muốn có tiền chi xài cá nhân, các bị cáo đã thực hiện hành vi trộm cắp tài sản và tiêu thụ tài sản như sau:
Ngày 17/10/2023, bị cáo Trần Minh N lấy trộm của ộng Huỳnh Văn V: Một bộ phận xịt nước, 01 mô tơ công suất 1,5 KW, 01 đầu phun áp lực, 01 sợi dây curoa răng, 01 dây phun áp lực và 01 hộp kim loại màu đỏ có dòng chữ GONGYI bên trong có đựng 01 máy khoan hiệu GONGYI GY 0810. Sau khi lấy trộm các tài sản trên Nam bán cho ông Hiệu Ngọc H3 với số tiền 900.000. Qua kết luận định giá tài sản chiếm đoạt trị giá 1.100.000 đồng.
Đến ngày 22/10/2023 bị cáo Trần Minh N tiếp tục đến nhà ông Hà Duy L lấy trộm 01 chiếc xe mô tô hiệu Honda, loại Wave Alpha, màu đỏ bán cho bị cáo Nguyễn Thanh N1 số tiền 1.400.000 đồng. Qua kết luận định giá tài sản chiếm đoạt trị giá 14.240.000 đồng, N1 biết tài sản N lấy trộm nhưng vẫn mua.
[3] Đối với bị cáo Trần Minh N lần lấy trộm ngày 17/10/2023 trị giá tài sản là 1.100.000 đồng, chưa đủ định lượng để truy cứu trách nhiệm hình sự, nhưng bị cáo có tiền án về tội trộm cắp tài sản. Trong trường hợp này được xem là tái phạm nên bị cáo phải chịu trách nhiệm hình sự đối với lần lấy trộm ngày 17/10/2023. Đối với lần phạm tội ngày 22/10/2023 trị giá tài sản bị cáo chiếm đoạt là 14.240.000 đồng, đủ định lượng để truy cứu trách nhiệm hình sự. Trị giá tài sản bị cáo chiếm đoạt tổng cộng là 15.340.000 đồng. Do đó, Viện kiểm sát nhân dân thị xã Giá Rai truy tố bị cáo về tội “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại khoản 1 Điều 173 của Bộ luật Hình sự là có căn cứ.
[4] Đối với bị cáo Nguyễn Thanh N1 biết tài sản của N bán do phạm tội mà có, nhưng gì thấy rẻ, ham lợi nên bị cáo đã tiếp tay, giúp sức cho N để tiêu thụ tài sản lấy trộm, trị giá tài sản bị cáo tiêu thụ là 14.240.000 đồng đủ định lượng để truy cứu trách nhiệm hình sự. Do đó, Viện kiểm sát nhân dân thị xã Giá Rai truy tố bị cáo về tội “Tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có” theo khoản 1 Điều 323 của Bộ luật Hình sự là có căn cứ.
[5] Các bị cáo là những người đã thành niên, có đầy đủ sức khỏe, có đủ nhận thức để biết trộm cắp tài sản và tiêu thụ tài sản là hành vi bị pháp luật nghiêm cấm, nhưng do ý thức phấn đấu tự rèn luyện kém, không có nghề nghiệp ổn định, muốn ngồi không để hưởng thụ trên sức lao động của người khác và hưởng lợi cho cá nhân, dẫn đến các bị cáo thực hiện hành vi trộm cắp tài sản và tiêu thụ tài sản. Các bị cáo sống trong cộng đồng dân cư không biết chung tay góp sức đẩy lùi tệ nạn xã hội mà đi vào con đường phạm tội. Việc đưa các bị cáo ra xét xử để cảm hóa, giáo dục giúp cho họ trở thành những công dân có ích cho xã hội. Do đó, cần cách ly các bị cáo ra ngoài xã hội một thời gian nhất định, theo đề nghị của đại diện Viện kiểm sát là có căn cứ.
[6] Về các tình tiết giảm nhẹ: Bị cáo N và N1 thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, do đó áp dụng tình tiết tại điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự. Sau khi phạm tội, trong quá trình điều tra bị cáo N đã ra đầu thú nên áp dụng tình tiết tại khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự.
[7] Về tình tiết tăng nặng: Bị cáo có Nam có tiền án, bị cáo lại tái phạm nên áp dụng điểm h khoản 1 Điều 52 của Bộ luật Hình sự. Đối với lần lấy trộm ngày 17/10/2023 trị giá tài sản chiếm đoạt là 1.100.000 đồng dưới mức định lượng, do bị cáo có tiền án về hành vi trộm cắp tài sản nên bị cáo phải chịu trách nhiệm hình sự về lần phạm tội này, không áp dụng tình tiết phạm tội nhiều lần đối với bị cáo theo như đề nghị của đại diện Viện kiểm sát.
Đối với bị cáo N1: Ngày 15/3/2024 Tòa án nhân dân thị xã Giá Rai xử phạt 06 tháng tù về tội “Tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có” theo bản án số: 06/2024/HS-ST, quyết định thi hành hình phạt tù ngày 25/4/2024. Do đó bị cáo phải chịu tình tiết tăng nặng phạm tội hai lần trở lên theo điểm g khoản 1 Điều 52 của Bộ luật Hình sự.
[8] Xét nhân thân của bị cáo N: Ngày 30/6/2015 Tòa án nhân dân tỉnh Bạc Liêu xử phạt 11 tháng 08 ngày về tội “Trộm cắp tài sản” và được trả tự do tại Tòa; theo bản án số 10/2015/HSST.
Ngày 28/12/2016 Tòa án nhân dân thị xã G xử phạt 02 năm tù về tội “Trộm cắp tài sản” theo bản án số 47/2016/HS-ST, chấp hành hình phạt tù xong ngày 26/9/2018;
Ngày 10/5/2019 Tòa án nhân dân thị xã G quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc thời gian 21 tháng.[9] Xét nhân thân của bị cáo N1: Ngày 26/01/2021 Chủ tịch Ủy ban nhân dân xã T áp dụng biện pháp giáo dục tại xã, phường, thị trấn thời gian 03 tháng về hành vi “Sử dụng trái phép chất ma túy”.
[10] Về trách nhiệm dân sự: Ông Huỳnh Văn V, ông Hà Duy L đã nhận lại tài sản và không yêu cầu bồi thường tiếp nên không đặt ra xem xét, ông Hiệu Ngọc H3 không yêu cầu trả số tiền 900.000 đồng nên không xem xét.
[11] Về xử lý vật chứng: Tài sản bị cáo lấy trộm và đem đi tiêu thụ đã giao trả cho chủ sở hữu xong nên không đặt ra xem xét.
[12] Về án phí hình: Bị cáo Nguyễn Minh N3 và Nguyễn Thanh N1 mỗi người nộp án phí hình sự sơ thẩm số tiền 200.000 đồng.
[13] Đối với ông Hiệu Ngọc H3 khi mua tài sản không biết tài sản của bị cáo Trần Minh N trộm mà có, nên Cơ quan điều tra không để cặp xử lý là có căn cứ.
[14] Đối với bị cáo Nguyễn Thanh N1 bị Tòa án nhân dân thị xã Giá Rai xử phạt 06 tháng tù, bị cáo chưa chấp hành án, cần áp dụng khoản 1 Điều 55, khoản 2 Điều 56 của Bộ luật Hình sự để tổng hợp hình phạt.
Đề nghị của đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã G về mức hình phạt là có căn cứ nên Hội đồng xét xử chấp nhận. Đối với tình tiết tăng nặng đối với bị cáo N, như đã phân tích Hội đồng xét xử không chấp nhận áp dụng điểm g khoản 1 Điều 52 của Bộ luật Hình sự.
Vì các lẽ trên.
QUYẾT ĐỊNH:
[1] Tuyên bố: Bị cáo Trần Minh N (K, H) phạm tội “Trộm cắp tài sản”, bị cáo Nguyễn Thanh N1 (C) phạm tội “Tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có".
[2] Áp dụng: Khoản 1 Điều 173; điểm s khoản 1, 2 Điều 51; điểm h khoản 1 Điều 52 của Bộ luật Hình sự.
Xử phạt: Bị cáo Trần Minh N 01 (một) năm tù, thời hạn tù tính từ ngày 06 tháng 12 năm 2023
[3] Áp dụng: Khoản 1 Điều 323; điểm s khoản 1 Điều 51, điểm g khoản 1 Điều 52 của Bộ luật Hình sự.
Xử phạt: Bị cáo Nguyễn Thanh N1 09 (chín) tháng tù; Áp dụng khoản 1 Điều 55, khoản 2 Điều 56 của Bộ luật Hình sự, tổng hợp hình phạt 06 tháng tù theo bản án số: 06/2024/HS-STngày 15/3/2024 của Tòa án nhân dân thị xã Giá Rai, bị cáo Nguyễn Thanh N1 phải chấp hành hình phạt chung là 15 (mười lăm) tháng tù thời hạn tù tính từ ngày bị cáo đi chấp hành án.
[4] Về trách nhiệm dân sự: Ông Huỳnh Văn V, ông Hà Duy L đã nhận lại tài sản và không yêu cầu bồi thường tiếp nên không đặt ra xem xét, ông Hiệu Ngọc H3 khôngyêu cầu trả số tiền 900.000 đồng nên không xem xét.
[5] Về xử lý vật chứng: Tài sản bị cáo lấy trộm đã giao trả cho chủ sở hữu xong nên không đặt ra xem xét.
[6] Về án phí hình: Áp dụng Điều 135, 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự; Nghị quyết 326/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án. Buộc bị cáo Trần Minh N và Nguyễn Thanh N1 mỗi người nộp án phí hình sự sơ thẩm số tiền 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng), nộp tại Cơ quan Thi hành án dân sự.
[7] Quyền kháng cáo đối với bản án: Các bị cáo có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án. Bị hại, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan vắng mặt nên có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được tống đạt hợp lệ.
Nơi nhận:
| TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Tất Liệt |
Bản án số 17/2024/HS-ST ngày 26/04/2024 của Tòa án nhân dân thị xã G, tỉnh Bạc Liêu về hình sự (trộm cắp tài sản và tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có)
- Số bản án: 17/2024/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Hình sự (Trộm cắp tài sản và Tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có)
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 26/04/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: Tòa án nhân dân thị xã G, tỉnh Bạc Liêu
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Trần Minh Nam
