Hệ thống pháp luật

TOÀ ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN SÓC SƠN

THÀNH PHỐ HÀ NỘI

CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do – Hạnh phúc

Bản án số: 17/2024/HNGĐ-ST

Ngày: 26/4/2024.

v/v:Ly hôn, chia tài sản chung

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN SÓC SƠN – THÀNH PHỐ HÀ NỘI

Với thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

- Thẩm phán – Chủ toạ phiên toà: Ông Thịnh Quang Thắng
- Các Hội thẩm nhân dân: 1/Ông Nguyễn Duy Tuyên
2/Ông Nguyễn Văn Vĩ

- Thư ký toà án ghi biên bản phiên toà: Bà Vũ Thu Trang- Cán bộ Toà án nhân dân Huyện Sóc Sơn .

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Sóc Sơn tham gia phiên toà: ông Thiều Văn Thịnh– Kiểm sát viên.

Ngày 26 tháng 4 năm 2024, tại trụ sở Toà án nhân dân huyện Sóc Sơn, Hà Nội xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 640/2022/TL-HNGĐ ngày 06/10/2022 về việc ly hôn, chia tài sản chung khi ly hôn theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số 20/2024/QĐXX-ST ngày 10/4/2024 giữa các đương sự:

1. Nguyên đơn: Chị Nguyễn Thị L, sinh năm: 1976; Địa chỉ: Tổ A, thị trấn S, huyện S, thành phố Hà Nội.

Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho chị L: Ông Phùng Văn T – Luật sư văn phòng L2 – Đoàn luật sư thành phố H.

2. Bị đơn: Anh Nguyễn Xuân C, sinh năm 1971; Địa chỉ: Tổ A, thị trấn S, huyện S, thành phố Hà Nội;

3. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có yêu cầu độc lập: Ngân hàng TMCP Q; Trụ sở: Số A L, phường T, quận C, Hà Nội. Người đại diện theo pháp luật: Ông Lưu Trung T1 – Chủ tịch Hội đồng quản trị; Người đại diện theo uỷ quyền: Ông Lỗ Chí Anh Đ, ông Khiển Ngọc S – Chuyên viên tố tụng.

4. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

4.1. Ngân hàng TMCP Q; Trụ sở: Đường B, Phường B, thành phố H, tỉnh Quảng Ninh. Đại diện theo uỷ quyền Bà Nguyễn Diệu L1 – Trưởng phòng G – Ngân hàng TMCP Q – chi nhánh Q1.

4.2. Công ty Cổ phần Đ1; Trụ sở: Tầng A Tòa nhà G, đường H, phường H, thành phố H, tỉnh Quảng Ninh. Đại diện theo uỷ quyền của Công ty: Bà Nguyễn Thị Thanh H, sinh năm 1976; Cư trú: Số F, ngách D V, phường T, Quận H, Hà Nội

4.3. Chị Nguyễn Thị P, sinh năm 1972 và chồng là anh Vương Đình C1, sinh năm 1971 hiện cư trú tại Tổ A, thị trấn S, S, Hà Nội

Có mặt: Anh C, chị L, LS T, ông Đ

Vắng mặt: Chị P, Anh C, bà H, bà L1 (có đơn xin vắng mặt)

NHẬN THẤY

Theo đơn khởi kiện đề ngày 26/5/2022 và các bản tự khai tiếp theo nguyên đơn, chị Nguyễn Thị L trình bày:

- Về tình cảm: Chị kết hôn với anh Nguyễn Xuân C ngày 16/2/1996, có đăng ký kết hôn tại UBND thị trấn S. Quá trình chung sống vợ chồng hạnh phúc về sau thì xảy ra mâu thuẫn. Nguyên nhân vợ chồng bất đồng quan điểm dẫn đến mâu thuẫn kéo dài. Nay chị xác định tình cảm không còn, chị xin ly hôn anh Nguyễn Xuân C.

- Về con chung: Vợ chồng có 02 con chung là Nguyễn Tuấn T2, sinh ngày 01/2/2004 và Nguyễn Thị Thu H1, sinh ngày 29/11/1996. Hiện các con đã thành niên nên chị không yêu cầu Toà án giải quyết.

- Về tài sản chung: Vợ chồng có tài sản chung gồm:

  • + 01 Tàu thuỷ nội địa L 99, số đăng ký QN-8533 theo Giấy chứng nhận đăng ký phương tiện tàu thuỷ nội địa số 12295/ĐK do Sở giao thông vận tải tỉnh Q cấp ngày 16/4/2020 mang tên anh Nguyễn Xuân C.
  • + Căn hộ chung cư số 2215, thuộc dự án Green Bay P – khu nhà ở Green Bay V tại phường H, thành phố H, tỉnh Quảng Ninh theo Hợp đồng mua bán căn hộ chung cư số 124/2016/2215/01/HĐMB/GreenBay Premium ngày 15/12/2016 giữa Công ty Cổ phần Đ1 với anh Nguyễn Xuân C, chị Nguyễn Thị L.
  • + Căn hộ chung cư số 2216, thuộc dự án Green Bay P – khu nhà ở Green Bay V tại phường H, thành phố H, tỉnh Quảng Ninh theo Hợp đồng mua bán căn hộ chung cư số 125/2016/2215/01/HĐMB/GreenBay Premium ngày 15/12/2016 giữa Công ty Cổ phần Đ1 với anh Nguyễn Xuân C, chị Nguyễn Thị L.
  • + Thửa đất rau xanh thuộc tờ bản đồ số 8 diện tích 864m² tại thôn X, xã P, huyện S, Hà Nội đã được UBND huyện S cấp GCN quyền sử dụng đất số AD 562907 cấp ngày 18/11/2009 mang tên chị. Hiện trạng là đất ruộng và trên đất không có tài sản gì.
  • + Thửa đất thuộc diện tích đất 64 tại mặt đường A, tổ A, thị trấn S, huyện S, Hà Nội có diện tích 119.9m² đã được cấp GCNQSD đất số thửa số 234-1, tờ bản đồ số 07, do UBND huyện S cấp ngày 16/7/2021. Thửa đất này nằm trong diện tích đất vợ chồng nhận chuyển nhượng bằng giấy viết tay của rất nhiều người. Hiện nay trên đất không có tài sản gì.
  • + Đối với Số tiền 65.000.000đ trong tài khoản ngân hàng S1 tại Ngân hàng C2 chi nhánh S2 mang tên anh Nguyễn Xuân C, chị Nguyễn Thị L và Số tiền đền bù giải phòng mặt bằng diện đất hơn 500m2 ở vị trí mặt đường 131 thộc dự án đấu giá của UBND huyện S. Chị không yêu cầu Toà án giải quyết và chị xin rút yêu cầu chia đối với hai khoản tiền này.
  • + Đối với tài sản đối với 01 ngôi nhà 3 tầng 1 tum trên diện tích 800m2 tại Xóm N, thôn X, xã P, huyện S, Hà Nội và Thửa đất nông nghiệp tại xứ đồng kẹm diện tích 3172m² thuộc tổ A, thị trấn S, huyện S, Hà Nội. Chị không yêu cầu Toà án giải quyết và chị xin rút yêu cầu chia đối với hai tài sản này.
  • + Đối với diện tích 80m² đất giãn dân tại Tổ A, thị trấn S, huyện S, thành phố Hà Nội, chưa được cấp GCNQSD đất, chỉ có thông báo nhận đất, giấy nộp tiền. Các công trình trên đất chị không yêu cầu Toà án xem xét giải quyết. Chị không yêu cầu Toà án giải quyết và chị xin rút yêu cầu chia đối tài sản này.

Ngoài ra không có tài sản chung nào khác.

- Về nợ chung: Vợ chồng có khoản nợ chung như sau:

  • + Tại thời điểm chị nộp đơn là vợ chồng còn nợ 3.882.544.544đ tại Ngân hàng TMCP Q chi nhánh Q1 – P2. Số tiền này do anh C là người quản lý khai thác tàu nên anh C vẫn trả gốc lãi. Còn đến nay anh C đã trả hết hay còn bao nhiêu thì chị không biết.
  • + Tại thời điểm chị nộp đơn là vợ chồng còn nợ 844.432.000đ tại Ngân hàng TMCP Q chi nhánh B – P3. Hiện tại chị nhận được từ bên Ngân hàng MB từ lúc chị nộp đơn vẫn chưa trả gốc lãi được bao nhiêu và hiện nay đã là nợ xấu.

Nay quan điểm của chị đề nghị Toà án chia đôi mỗi người ½, cụ thể: Chị sử dụng 2 căn hộ, thửa đất 80m² giãn dân và trả khoản nợ tại Ngân hàng M. Còn lại để anh C sử dụng các tài sản còn lại. Còn nếu không đề nghị Toà án giải quyết theo pháp luật. Còn nợ chung thì tài sản giao cho ai thì người có trách nhiệm trả nợ

* Bị đơn, anh Nguyễn Xuân C trình bày:

- Về tình cảm: Anh nhất trí về thời gian điều kiện kết hôn, nguyên nhân mâu thuẫn như chị L trình bày. Nay chị L xin ly hôn. Anh nhất trí ly hôn chị L.

- Về con chung: Vợ chồng có 02 con chung là Nguyễn Tuấn T2, sinh ngày 01/2/2004 và Nguyễn Thị Thu H1, sinh ngày 29/11/1996. Hiện các con đã thành niên nên anh không yêu cầu Toà án giải quyết.

- Về tài sản chung: Vợ chồng có tài sản chung gồm:

  • + 01 Tàu thuỷ nội địa L 99, số đăng ký QN-8533 theo Giấy chứng nhận đăng ký phương tiện tàu thuỷ nội địa số 12295/ĐK do Sở giao thông vận tải tỉnh Q cấp ngày 16/4/2020 mang tên anh Nguyễn Xuân C. Hiện nay đang được thế chấp tại Ngân hàng V chi nhánh Q1.
  • + Căn hộ chung cư số 2215, thuộc dự án Green Bay P – khu nhà ở Green Bay V tại phường H, thành phố H, tỉnh Quảng Ninh theo Hợp đồng mua bán căn hộ chung cư số 124/2016/2215/01/HĐMB/GreenBay Premium ngày 15/12/2016 giữa Công ty Cổ phần Đ1 với anh Nguyễn Xuân C, chị Nguyễn Thị L.
  • + Căn hộ chung cư số 2216, thuộc dự án Green Bay P – khu nhà ở Green Bay V tại phường H, thành phố H, tỉnh Quảng Ninh theo Hợp đồng mua bán căn hộ chung cư số 125/2016/2215/01/HĐMB/GreenBay Premium ngày 15/12/2016 giữa Công ty Cổ phần Đ2 với anh Nguyễn Xuân C, chị Nguyễn Thị L.
  • + Thửa đất rau xanh thuộc tờ bản đồ số 8 diện tích 864m² đất ra xanh tại thôn X, xã P, huyện S, Hà Nội đã được UBND huyện S cấp GCN quyền sử dụng đất số AD 562907 cấp ngày 18/11/2009 mang chị Nguyễn Thị L.
  • + Thửa đất thuộc diện tích đất 64 tại mặt đường A, tổ A, thị trấn S, huyện S, Hà Nội. Thửa đất này hiện nay có diện tích 119.9m² đã được cấp GCNQSD đất số thửa số 234-1, tờ bản đồ số 07, do UBND huyện S cấp ngày 16/7/2021. Thửa đất này là tài sản riêng của anh. Vì giữa anh và chị L đã làm văn bản cam kết đây là tài sản riêng của anh tại Văn phòng C3 đáy. Do đó, anh xác định đây không phải là tài sản chung của vợ chồng.
  • + Đối với số tiền 65.000.000đ trong tài khoản ngân hàng S1 tại Ngân hàng C2 chi nhánh S2 mang tên anh Nguyễn Xuân C, chị Nguyễn Thị L và Số tiền đền bù giải phòng mặt bằng diện đất hơn 500m2 ở vị trí mặt đường 131 thộc dự án đấu giá của UBND huyện S. Số tiền đền bù 70.000.000đ. Anh nhất trí như chị L trình bày là không yêu cầu Toà án giải quyết đối với hai khoản tiền này.
  • + Đối với diện tích 80m² đất giãn dân tại Tổ A, thị trấn S, huyện S, thành phố Hà Nội, chưa được cấp GCNQSD đất, chỉ có thông báo nhận đất, giấy nộp tiền Anh nhất trí như chị L trình bày là không yêu cầu Toà án giải quyết.
  • + Đối với 01 ngôi nhà 3 tầng 1 tum trên diện tích 800m² tại Xóm N, thôn X, xã P, huyện S chưa được cấp giấy CNQSD đất. Tài sản này anh không yêu cầu Toà án giải quyết mà để các bên tự giải quyết.
  • + Thửa đất nông nghiệp tại xứ đồng kẹm diện tích 3172m² thuộc tổ A, thị trấn S, huyện S, Hà Nội. Anh cũng nhất trí như chị L trình bày về việc không yêu cầu giải quyết đối với khối tài sản này.

- Về nợ chung: Anh nhất trí như chị L trình bày về khoản nợ chung của vợ chồng đã vay tại N1 và Ngân hàng TMCP Q

Anh xác định vợ chồng còn nợ khoản vay ngoài, do anh vay số tiền 1.000.000.000đ. Anh không yêu cầu Toà án giải quyết

Ngoài ra vợ chồng không có tài sản chung và nợ chung nào khác.

Nay ly hôn về tài sản: anh đề nghị Toà án chia đôi mỗi người ½, cụ thể: Anh sử dụng 2 căn hộ và con tàu và trả toàn bộ khoản nợ. Còn lại tài sản khác để cho chị L. Còn nếu không đề nghị Toà án giải quyết theo pháp luật. Còn nợ chung thì tài sản giao cho ai thì người có có trách nhiệm trả nợ

*Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan có yêu cầu độc lập là ngân hàng TMCP Q trình bày: Ngân hàng TMCP Q và của chị Nguyễn Thị L và anh Nguyễn Xuân C có ký kết hợp đồng tín dụng số 11618.20.606.6350975.TD ký ngày 12/03/2020 và khế ước nhận nợ số LD2008508204 như sau: Số tiền vay 1.000.000.000₫ để thanh toán tiền mua thiết bị nội thất, sửa chữa chung cư tại dự án G; Để bảo đảm nghĩa vụ cho khoản trên, chị Nguyễn Thị L và anh Nguyễn Xuân C đã tự nguyện thế chấp tài sản bảo đảm sau:

  • + Quyền tài sản phát sinh từ Hợp đồng mua bán căn hộ chung cư (Căn hộ 2215) số: 124/2016/2215/01/HĐMB/GREEN BAY PREMIUM ký ngày 15/12/2016 giữa Công ty cổ phần Đ1 và Ông/chị Nguyễn Thị L, Ông/bà Nguyễn Xuân C về việc mua bán/chuyển nhượng Căn hộ số 2215, tầng số 22, đơn nguyên: CH02B, năm xây dựng 2016; Diện tích sử dụng căn hộ là 86,63m2, Diện tích sàn xây dựng là 96,60m2, thuộc Dự án Green Bay P – Khu nhà ở Green Bay V tại phường H, thành phố H, tỉnh Quảng Ninh.
  • + Quyền tài sản phát sinh từ Hợp đồng mua bán căn hộ chung cư (Căn hộ 2216) số: 125/2016/2216/01/HĐMB/GREEN BAY PREMIUM ký ngày 15/12/2016 giữa Công ty cổ phần Đ1 và Ông/chị Nguyễn Thị L, Ông/bà Nguyễn Xuân C về việc mua bán/chuyển nhượng Căn hộ số 2216, tầng số 22, đơn nguyên: CH02B, năm xây dựng 2016; Diện tích sử dụng căn hộ là 86,63m2, Diện tích sàn xây dựng là 96,60m2, thuộc Dự án Green Bay P – Khu nhà ở Green Bay V tại phường H, thành phố H, tỉnh Quảng Ninh.

Các tài sản đều thế chấp theo Hợp đồng thế chấp số 11620.20.606.6350975.BÐ ký ngày 12/03/2020.

Trong quá trình thực hiện hợp đồng, chị Nguyễn Thị L và anh Nguyễn Xuân C đã không thực hiện trả nợ theo như cam kết trong Hợp đồng tín dụng, các Khế ước nhận nợ, dẫn đến khoản vay bị quá hạn ngày 25/11/2021. Để bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của Ngân hàng TMCP Q, Ngân hàng có yêu cầu độc lập như sau.: Buộc chị Nguyễn Thị L và anh Nguyễn Xuân C thanh toán cho Ngân hàng TMCP Q số tiền: 776,079,396 đồng, bao gồm: Nợ gốc: 749,980,000 đồng, N lãi trong hạn: 25,529,372 đồng, N lãi quá hạn: 324,774 đồng, P1: 245,250 đồng (tạm tính đến hết ngày 18/03/2024); Buộc chị Nguyễn Thị L và anh Nguyễn Xuân C thanh toán phần nợ lãi, tiền phạt phát sinh theo lãi suất quá hạn thỏa thuận tại Hợp Đồng Tín Dụng số 11618.20.606.6350975.TD ký ngày 12/03/2020 kể từ ngày 19/03/2023 cho đến khi thanh toán xong khoản nợ; Kể từ ngày bản án có hiệu lực pháp luật, chị Nguyễn Thị L và anh Nguyễn Xuân C không thực hiện nghĩa vụ thanh toán khoản nợ nêu trên và lãi phát sinh thì Ngân hàng có quyền yêu cầu Cơ quan Thi hành án tiến hành kê biên, phát mại tài sản bảo đảm của khoản vay nói trên để thu hồi toàn bộ khoản nợ cho MB; Toàn bộ số tiền thu được từ việc bán/xử lý tài sản bảo đảm được dùng để thanh toán nghĩa vụ trả nợ của chị Nguyễn Thị L và anh Nguyễn Xuân C đối với Ngân hàng TMCP Q. Nếu số tiền thu được từ bán/xử lý tài sản bảo đảm không đủ thanh toán hết khoản nợ thì ông bà vẫn phải có nghĩa vụ trả hết khoản nợ cho Ngân hàng MB.

* Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan:

* Ngân hàng TMCP Q trình bày: Đối với 01 Tàu thuỷ nội địa L 99, số đăng ký QN-8533 theo Giấy chứng nhận đăng ký phương tiên tàu thuỷ nội địa số 12295/ĐK do Sở giao thông vận tải tỉnh Q cấp ngày 16/4/2020 mang tên anh Nguyễn Xuân C hiện đang thế chấp tại Ngân hàng theo hợp đồng thế chấp phương tiện thuỷ nội địa số 02/2020/SXKD/BD/BDH.290/TC ngày 15/5/2020 để đảm bảo cho khoản vay theo hợp đồng cho vay số số 02/2020/SXKD/BD/BDH.290 ngày 15/5/2020 và Giấy nhận nợ số 01 ngày 03/7/2020 của anh C, chị L đối với Ngân hàng. Tính đến ngày 19/3/2024, vợ chồng anh C còn nợ Ngân hàng Q số tiền gốc là 3.356.752.476đ, nợ lãi: 627.804.247đ. Tổng cộng là 4.164.556.723đ. Ngân hàng yêu cầu anh C, chị L phải thực hiện đầy đủ nghĩa vụ trả nợ với ngân hàng bao gồm gốc lãi phát sinh trước khi phân chia tài sản. Trong trường hợp anh C, chị L không thống nhất được phương án phân chia nói trên. Ngân hàng đề nghị anh C, chị L, phối hợp với Ngân hàng để bán tài sản thế chấp để thực hiện toàn bộ nghĩa vụ trả nợ.

- Chị Nguyễn Thị P trình bày: Năm 2004, thì chị và chị L mỗi người được cấp 1 thửa đất giãn dân với diện tích 80m2 tại đường N, Tổ A, thị trấn S, huyện S, thành phố Hà Nội, chưa được cấp GCNQSD đất, chỉ có thông báo nhận đất, giấy nộp tiền. Thửa đất của chị và thửa đất của chị L là liền kề với nhau. Thửa đất của chị nằm ở phía Tây. Sau đó, vợ chồng chị L có nhu cầu mượn sử dụng để làm kho chứa phế liệu nên chị đồng ý cho mượn và vợ chồng chị L đã xây dựng toàn bộ các tài sản trên cả phần đất của chị và phần đất của chị L như hiện nay. Lúc đó chị và chồng chị là Vương Đình C1, sinh năm 1971 hiện cư trú tại Tổ A, thị trấn S, S, Hà Nội có góp hơn 100.000.000đ để cùng xây dựng với vợ chồng chị L, anh C. Nay chị L, anh C ly hôn thì chị yêu cầu chị L, anh C phải dỡ bỏ toàn bộ tài sản trên đất để trả lại hiện trạng đất cho chị. Nếu mà chị L được giao sử dụng khối tài sản này thì chị không yêu cầu Toà án xem xét giải quyết tài sản trên đất mà để chị và chị L tự giải quyết với nhau mà không yêu cầu Toà án xem xét. Chị hiện nay công việc bận không đến Toà án làm việc được. Mọi ý kiến chị đã trình bày với Toà án và chị không có yêu cầu gì thêm khác.

* Công ty CP Đ1 trình bày: Ngày 15/12/2016, Công ty đã ký kết hợp đồng mua bán căn hộ chung cư số: 124/2016/2215/01/HĐMB/GREEN BAY PREMIUM và 125/2016/2216/01/HĐMB/ GREEN BAY PREMIUM với tổng giá trị là 3.538.591.021đ. Anh C, chị L mới thanh toán 3.364.820.927đ. Số tiền còn lại chưa thanh toán là 173.770.094đ. Ngày 14/5/2018, Công ty đã bàn giao hai căn hộ cho chị L, anh C. Lý do chưa thanh toán hết là theo quy định tại luật kinh doanh bất động sản thì bên nhận chuyển nhượng chưa được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất và quyền sở hữu nhà thì bên chuyển nhượng không được thu quá 95% giá trị hợp đồng. Gía trị còn lại của hợp đồng được thanh toán khi cơ quan có thẩm quyền đã cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất và quyền sở hữu nhà cho bên nhận chuyển nhượng. Ngày 10/8/2023, Công ty đã có thông báo yêu cầu bên nhận chuyển nhượng hoàn thiện hồ sơ để phục vụ việc cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất và quyền sở hữu nhà. Nay quan điểm của Công ty đề nghị Toà án giải quyết theo pháp luật. Người được nhận tài sản này sẽ có nghĩa vụ thanh toán cho Công ty số tiền chưa thanh toán và tiếp tục thực hiện hợp đồng mua bán với Công ty.

* Tại phiên tòa:

- Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của nguyên đơn phát biểu quan điểm như sau: Về tình cảm đề nghị Toà án công nhận thuận tình ly hôn giữa chị L, anh C; Về con chung không yêu cầu Toà án giải quyết do các on đã thành niên. Về tài sản chung: Đối với các tài sản chung, nợ chung như các bên đã thống nhất trình bày thì chị L đề nghị chia đôi và đề nghị Toà án chia theo nguyện vọng của chị L. Về nợ thì tài sản giao cho ai thì người đó có nghĩa vụ trả nợ. Đối với khối tài sản là Thửa đất thuộc diện tích đất 64 tại mặt đường A, tổ A, thị trấn S, huyện S, Hà Nội có nguồn gốc do vợ chồng chị L nhận chuyển nhượng của người khác. Do ông  là chủ cũ nên Giấy chứng nhận quyền sử dung đất đứng tên ông Â. Sau đó do để thuận tiện cho làm thủ tục thì anh C có bảo chị làm văn bản thoả thuận là tài sản riêng của anh C để cho hợp lý hoá các thủ tục, không có việc tài sản này là tài sản riêng của anh C.

- Nguyên đơn chị L trình bày: giữ nguyên quan điểm như đã trình bày. Chị xác định khối tài sản là Thửa đất thuộc diện tích đất 64 tại mặt đường A, tổ A, thị trấn S, huyện S, Hà Nội có nguồn gốc do vợ chồng chị nhận chuyển nhượng của người khác. Do ông  là chủ cũ nên Giấy chứng nhận quyền sử dung đất đứng tên ông Á. Sau đó do để thuận tiện cho làm thủ tục thì anh C có bảo chị làm văn bản thoả thuận là tài sản riêng của anh C để cho hợp lý hoá các thủ tục chứ không có việc tài sản này là tài sản riêng của anh C. Để làm rõ nguồn gốc đất, chị nghị đưa ông  vào tham gia tố tụng.

- Bị đơn vẫn giữ nguyên quan điểm đã trình bày và không nhất trí với quan điểm của chị L

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Sóc Sơn, Hà Nội phát biểu quan điểm về việc tuân theo pháp luật của Thẩm phán, Hội đồng xét xử và của các đương sự,

Đề nghị HĐXX: Căn cứ: - Điều 55, 59, 62 Luật hôn nhân và gia đình.- Điều 471, 474, 476 Bộ luật Dân sự;- Điều 2, Điều 6, 7, 9 và Điều 30 Luật thi hành án dân sự; Điều 91 Luật các tổ chức tín dụng;- Khoản 1 Điều 28; khoản 1 Điều 30, điểm a khoản 1 Điều 39, Điều 271, 273, 277 Bộ luật tố tụng dân sự; - Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 qui định về án phí, lệ phí Tòa án;- Thông tư số 01/TTLT ngày 19/6/1997 hướng dẫn việc xét xử và thi hành án về tài sản. Xử:

1. Về quan hệ hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Nguyễn Thị L về hôn nhân, công nhận thuận tình ly hôn giữa chị Nguyễn Thị L và anh Nguyễn Xuân C.

2. Về con chung: Chị L, anh C có 02 con chung là Nguyễn Tuấn T2, sinh ngày 01/2/2004 và Nguyễn Thị Thu H1, sinh ngày 29/11/1996. Hiện các con đã thành niên nên không xem xét giải quyết.

3. Về tài sản chung:

3.1 Không chấp nhận yêu cầu chia tài sản chung đối với thửa đất thuộc diện tích đất 64 tại mặt đường A, tổ A, thị trấn S, huyện S, Hà Nội có diện tích 119.9m² đã được cấp GCNQSD đất số thửa số 234-1, tờ bản đồ số 07, do UBND huyện S cấp ngày 16/7/2021 đứng tên anh Nguyễn Xuân C.

3.2 Đình chỉ yêu cầu chia tài sản chung dối với số tiền 65.000.000đ trong tài khoản ngân hàng S1 tại Ngân hàng C2 chi nhánh S2; Số tiền đền bù giải phòng mặt bằng diện đất hơn 500m2 ở vị trí mặt đường 131 thộc dự án đấu giá của UBND huyện S. 01 ngôi nhà 3 tầng 1 tum trên diện tích 800m² tại Xóm N, thôn X, xã P, huyện S; Thửa đất nông nghiệp tại xứ đồng kẹm diện tích 3172m² thuộc tổ A, thị trấn S, huyện S, Hà Nội. Thửa đất diện tích 80m2 đất giãn dân và các công trình trên đất tại Tổ A, thị trấn S, huyện S, thành phố Hà Nội.

3.3. Đối với khoản nợ 1.000.000.000₫ anh C vay của ông Dương Văn T3. Do anh C không yêu cầu nên Toà án không đặt ra xem xét giải quyết.

3.4. Xác định tài sản chung của chị Nguyễn Thị L, anh Nguyễn Xuân C gồm có:

  • + 01 Tàu thuỷ nội địa L 99, số đăng ký QN-8533 theo Giấy chứng nhận đăng ký phương tiên tàu thuỷ nội địa số 12295/ĐK do Sở giao thông vận tải tỉnh Q cấp ngày 16/4/2020 mang tên anh Nguyễn Xuân C. trị giá 4.206.000.000₫
  • + Căn hộ chung cư số 2215, thuộc dự án Green Bay P – khu nhà ở Green Bay V tại phường H, thành phố H, tỉnh Quảng Ninh theo Hợp đồng mua bán căn hộ chung cư số 124/2016/2215/01/HĐMB/GreenBay Premium ngày 15/12/2016 giữa Công ty Cổ phần Đ1 với anh Nguyễn Xuân C, chị Nguyễn Thị L trị giá 2.093.000.000₫
  • + Căn hộ chung cư số 2216, thuộc dự án Green Bay P – khu nhà ở Green Bay V tại phường H, thành phố H, tỉnh Quảng Ninh theo Hợp đồng mua bán căn hộ chung cư số 125/2016/2216/01/HĐMB/GreenBay Premium ngày 15/12/2016 giữa Công ty Cổ phần Đ1 với anh Nguyễn Xuân C, chị Nguyễn Thị L trị giá 2.093.000.000₫
  • + Thửa đất rau xanh thuộc tờ bản đồ số 8 diện tích 864m² tại thôn X, xã P, huyện S, Hà Nội đã được UBND huyện S cấp GCN quyền sử dụng đất số AD 562907 cấp ngày 18/11/2009 mang tên chị Nguyễn Thị L. Trị giá: 559.872.000đ.

Như vậy tổng giá trị tài sản chung của chị L, anh C là: 8.951.872.000đ. Chia đôi mỗi người ½= 4.475.936.000₫

* Giao cụ thể bằng hiện vật như sau: Giao cho cụ thể bằng hiện vật cho chị Nguyễn Thị L như sau:

  • + Chị L có quyền sở hữu Căn hộ chung cư số 2216, thuộc dự án Green Bay P – khu nhà ở Green Bay V tại phường H, thành phố H, tỉnh Quảng Ninh trị giá 2.093.000.000₫
  • + Thửa đất rau xanh thuộc tờ bản đồ số 8 diện tích 864m² tại thôn X, xã P, huyện S, Hà Nội đã được UBND huyện S cấp GCN quyền sử dụng đất số AD 562907 cấp ngày 18/11/2009 mang tên chị L. Trị giá: 648.000đ/1m² x864m² = 559.872.000đ.

Tổng giá trị được giao là 2.652.872.000₫

- Giao cho cụ thể bằng hiện vật cho anh Nguyễn Xuân C như sau:

  • + 01 Tàu thuỷ nội địa L 99, số đăng ký QN-8533 theo Giấy chứng nhận đăng ký phương tiên tàu thuỷ nội địa số 12295/ĐK do Sở giao thông vận tải tỉnh Q cấp ngày 16/4/2020 mang tên anh Nguyễn Xuân C trị giá 4.206.000.000₫
  • + Căn hộ chung cư số 2215, thuộc dự án Green Bay P – khu nhà ở Green Bay V tại phường H, thành phố H, tỉnh Quảng Ninh có trị giá 2.093.000.000₫

Tổng cộng: 6.299.000.000₫

Như vậy so với phần các bên được hưởng thì chị L còn thiếu 1.823.064.000₫

4. Về nợ chung: Tổng cộng số tiền nợ chung của anh C, chị L là 5.125.148.111. Khoản nợ phát sinh trong thời kỳ hôn nhân nên chia đôi mỗi người phải có nghĩa vụ trả ½ số nợ trên là: 2.562.574.055đ. Cụ thể như sau:

4.1. Chia đôi khoản nợ của anh C, chị L tại ngân hàng TMCP Q tính đến ngày 26/4/2024 là 786.821.294 đồng, bao gồm: Nợ gốc: 749,980,000 đồng, N lãi trong hạn: 35.570.525 đồng, N lãi quá hạn: 729.967 đồng, P1: 540.802 đồng. Chị L, anh C mỗi người có nghĩa vụ trả ½ = 393.410.647đ, cụ thể:

  • + Chị Nguyễn Thị L có nghĩa vụ trả ngân hàng TMCP Q số tiền tính đến ngày 26/4/2024 là 393.410.647đ; Trong đó: Gốc: 374.990.000 đồng. Lãi trong hạn: 17.785.262 đồng. Lãi quá hạn: 364.967 đồng.Lãi phạt: 270.401₫
  • + Anh Nguyễn Xuân C có nghĩa vụ trả ngân hàng TMCP Q tính đến ngày 26/4/2024 là 393.410.647đ, trong đó: Gốc: 374.990.000 đồng. Lãi trong hạn: 17.785.262 đồng. Lãi quá hạn: 364.967 đồng. Lãi phạt: 270.401₫

Chị L, anh C phải có nghĩa vụ tiếp tục trả lãi ngân hàng TMCP Q từ ngày 27/4/2024 cho đến khi trả hết nợ theo mức lãi suất thỏa thuận trong hợp đồng tín dụng số 11618.20.606.6350975.TD ký ngày 12/03/2020 và khế ước nhận nợ số LD2008508204 đã ký trên dư nợ gốc thực tế theo nghĩa vụ của từng người.

Trong trường hợp chị L hoặc anh C vi phạm nghĩa vụ trả nợ thì ngân hàng có quyền yêu cầu cơ quan thi hành án dân sự có thẩm quyền xử lý tài sản thế chấp để thu hồi nợ theo phần tài sản đã chia cho chị L, anh C tương ứng với nghĩa vụ của mỗi bên cụ thể:

  • + Quyền tài sản phát sinh từ Hợp đồng mua bán căn hộ chung cư (Căn hộ 2215) số: 124/2016/2215/01/HĐMB/GREEN BAY PREMIUM ký ngày 15/12/2016 giữa Công ty cổ phần Đ1 và Ông/chị Nguyễn Thị L, Ông/bà Nguyễn Xuân C về việc mua bán/chuyển nhượng Căn hộ số 2215, tầng số 22, đơn nguyên: CH02B, năm xây dựng 2016; Diện tích sử dụng căn hộ là 86,63m2, Diện tích sàn xây dựng là 96,60m2, thuộc Dự án Green Bay P – Khu nhà ở Green Bay V tại phường H, thành phố H, tỉnh Quảng Ninh.
  • + Quyền tài sản phát sinh từ Hợp đồng mua bán căn hộ chung cư (Căn hộ 2216) số: 125/2016/2216/01/HĐMB/GREEN BAY PREMIUM ký ngày 15/12/2016 giữa Công ty cổ phần Đ1 và Ông/chị Nguyễn Thị L, Ông/bà Nguyễn Xuân C về việc mua bán/chuyển nhượng Căn hộ số 2216, tầng số 22, đơn nguyên: CH02B, năm xây dựng 2016; Diện tích sử dụng căn hộ là 86,63m2, Diện tích sàn xây dựng là 96,60m2, thuộc Dự án Green Bay P – Khu nhà ở Green Bay V tại phường H, thành phố H, tỉnh Quảng Ninh.

Trong trường hợp chị L hoặc anh C thực hiện xong nghĩa vụ trả nợ của mình thì ngân hàng có nghĩa vụ làm thủ tục xóa đăng ký thế chấp đối với phần tài sản họ được chia.

4.2. Chị L, anh C phải có nghĩa vụ trả khoản nợ cho Công ty Cổ phần Đ1 số tiền 5% giá trị của hợp đồng mua bán hai căn hộ 2215 và 2216 tương ứng với căn hộ mình sở hữu là 86.885.047₫.

Chị Nguyễn Thị L, anh Nguyễn Xuân C đều có quyền liên hệ với cơ quan nhà nước có thẩm quyền để được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất và sở hữu nhà đối với phần tài sản được chia khi thực hiện xong nghĩa vụ trả nợ cho ngân hàng TMCP Q và Công ty Cổ phần Đ1 ứng với phần nghĩa vụ của mỗi bên được xác định trong bản án.

4.3. Buộc anh C phải có nghĩa vụ trả toàn bộ khoản nợ đã vay của Ngân hàng Q đến ngày 19/3/2024 số tiền gốc là 3.356.752.476đ, nợ lãi: 627.804.247đ. Tổng cộng là 4.164.556.723đ. Kể từ ngày 20/3/2024, anh C phải tiếp tục trả lãi ngân hàng TMCP Q trên dư nợ gốc thực tế cho đến khi trả hết nợ theo mức lãi suất thỏa thuận trong hợp đồng cho vay số số 02/2020/SXKD/BD/BDH.290 ngày 15/5/2020 và Giấy nhận nợ số 01 ngày 03/7/2020 đã ký cho đến khi trả hết nợ.

Trong trường hợp anh C vi phạm nghĩa vụ trả nợ thì ngân hàng có quyền xử lý tài sản thế chấp theo quy định của pháp luật hoặc yêu cầu cơ quan thi hành án có thẩm quyền xử lý tài sản thế là 01 Tàu thuỷ nội địa L 99, số đăng ký QN-8533 theo Giấy chứng nhận đăng ký phương tiên tàu thuỷ nội địa số 12295/ĐK do Sở giao thông vận tải tỉnh Q cấp ngày 16/4/2020 mang tên anh Nguyễn Xuân C hiện đang thế chấp tại Ngân hàng theo hợp đồng thế chấp phương tiện thuỷ nội địa số 02/2020/SXKD/BD/BDH.290/TC ngày 15/5/2020 để chấp để thu hồi nợ.

* So với khoản nợ chị L phải trả thì anh C phải trả nhiều hơn chị L số tiền 2.082.278.361₫.

[5]. Về chi phí tố tụng: Tổng số tiền chi phí tố tụng chị L đã nộp là 58.000.000đ, anh C đã nộp là 20.000.000đ. Tổng cộng 78.000.000đ. Chị L anh C mỗi người phải chịu ½ = 39.000.000đ. Anh C có trách nhiệm trả chị L số tiền 19.000.000₫

[6]. Đối trừ số tiền chị L được anh C thanh toán là 1.823.064.000₫ và 19.000.000đ tiền chi phí tố tụng với số tiền anh C phải trả nợ có sự chênh lệch là 240.214.361đ. Ghi nhận sự tự nguyện của anh C không yêu cầu chị L thanh toán số tiền này.

Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

[7]. Về án phí:

  • + Chị Nguyễn Thị L phải chịu 75.000đ án phí ly hôn, 112.475.936 đồng án phí chia tài sản và 83.251.481 đồng án phí nợ. Tổng số tiền án phí là 195.802.417 đồng, được trừ số tiền tạm ứng án phí đã 18.300.000 đồng tại biên lai thu tạm ứng án phí số AA/2020/0005386 ngày 05/10/2022 của Chi cục thi hành án dân sự huyện Sóc Sơn và số tiền tạm ứng án phí 5.000.000đ tại biên lai thu tạm ứng án phí số AA/2020/0006056 ngày 23/5/2023 của Chi cục thi hành án dân sự huyện Sóc Sơn. Chị Nguyễn Thị L còn phải nộp tiếp số tiền 172.502.417 đồng để sung ngân sách nhà nước.
  • + Anh Nguyễn Xuân C phải chịu 75.000đ án phí ly hôn, 112.475.936 đồng án phí chia tài sản và 83.251.481 đồng án phí nợ. Tổng số tiền án phí là 195.802.417 đồng để sung ngân sách nhà nước.
  • + Ngân hàng TMCP Q được nhận lại 17.500.000đ tiền tạm ứng án phí đã nộp tại biên lai thu tạm ứng án phí số BLTU/23/0022432 ngày 25/3/2024 tại Chi cục thi hành án dân sự huyện Sóc Sơn.

[8]. Về quyền kháng cáo: Án xử công khai sơ thẩm, các đương sự có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Các đương sự vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hợp lệ.

Nơi nhận:

- Các đương sự;

- VKSND H. Sóc Sơn

- TAND TP. Hà Nội.

- THA huyện Sóc Sơn

- Lưu hồ sơ vụ án

T/M. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Thẩm phán – Chủ toạ phiên toà

Thịnh Quang Thắng

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 17/2024/HNGĐ-ST ngày 26/04/2024 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN SÓC SƠN – THÀNH PHỐ HÀ NỘI về ly hôn, chia tài sản chung

  • Số bản án: 17/2024/HNGĐ-ST
  • Quan hệ pháp luật: Ly hôn, chia tài sản chung
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 26/04/2024
  • Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
  • Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN SÓC SƠN – THÀNH PHỐ HÀ NỘI
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Chấp nhận yêu cầu của chị L, chia tài sản chung và các vấn đề khác có liên quan
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger