|
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN NGỌC LẶC TỈNH THANH HÓA |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
|
Bản án số:17/2024/HS-ST Ngày: 26 - 4 - 2024 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN NGỌC LẶC, TỈNH THANH HÓA
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên toà: Ông Phạm Xuân Thành
Các Hội thẩm nhân dân: 1. Ông Quách Văn Toản
2. Ông Phạm Đức Hoàn
Thư ký phiên toà: Ông Lê Quý Hiếu - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Ngọc Lặc, tỉnh Thanh Hóa
Đại diện VKSND huyện Ngọc Lặc, tỉnh Thanh Hoá tham gia phiên toà: Bà Hoàng Thị Vân A - Kiểm sát viên.
Ngày 26 tháng 4 năm 2024, tại trụ sở Toà án nhân dân huyện Ngọc Lặc, tỉnh Thanh Hoá xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 16/2024/TLST-HS ngày 15 tháng 3 năm 2024, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số:15/2024/QĐXXST- HS ngày 08 tháng 04 năm 2024 đối với bị cáo:
C - Sinh ngày 29/9/1990 tại huyện T, tỉnh Thanh Hóa; Nơi thường trú: Khu C, thị trấn T, huyện T, tỉnh Thanh Hóa; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; giới tính N; Tôn giáo: Không; Nghề nghiệp: Lái xe; Trình độ văn hóa 11/12; Con ông: Cao Văn M; sinh năm 1966 và bà Trần Thị T; sinh năm 1966; Bị cáo chưa có vợ, chưa có con;
Tiền án: Không.
Tiền sự: Ngày 02/12/2020 bị Tòa án nhân dân huyện Thọ Xuân áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc, tại Quyết định số 27/2020/QĐ-TA, thời gian chấp hành từ ngày 08/12/2020 đến ngày 08/12/2022.
Nhân thân: Năm 2012 bị Tòa án nhân dân huyện Thọ Xuân xử phạt 08 tháng tù, về tội trộm cắp tài sản; năm 2014 bị Tòa án nhân dân huyện Thọ Xuân xử phạt 10 tháng tù, về tội trộm cắp tài sản; năm 2015 bị Tòa án nhân dân huyện Thọ Xuân xử phạt 14 tháng tù, về tội trộm cắp tài sản, tổng hợp hình phạt 20 tháng tù; năm 2019 bị Tòa án nhân dân huyện Thọ Xuân xử phạt 12 tháng tù, về tội trộm cắp tài sản, đã chấp hành xong hình phạt.
Bị cáo bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 12/12/2023 đến nay. Có mặt tại phiên tòa.
- Người làm chứng.
- Anh Lê Văn T1, sinh năm: 1992 (Vắng mặt)
- Ông Đào Ngọc L, sinh năm: 1954 (Vắng mặt)
- Chị Nguyễn Thị H, sinh năm: 1987 (Vắng mặt)
- Chị Lê Thị L1, sinh năm: 1967 (Vắng mặt)
- Bà Trần Thị T, sinh năm: 1966 (Vắng mặt)
Nơi cư trú: Khu A, thị trấn T, huyện T, tỉnh Thanh Hóa.
Nơi cư trú: Khu Phố A N, thị trấn N, huyện N, tỉnh Thanh Hóa.
Nơi cư trú: Khu C, thị trấn T, huyện T, tỉnh Thanh Hóa.
Nơi cư trú: Khu C, thị trấn T, huyện T, tỉnh Thanh Hóa.
Nơi cư trú: Khu C, thị trấn T, huyện T, tỉnh Thanh Hóa.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Vào hồi 11 giờ 45 phút, ngày 12/12/2023, tại số nhà A đường P, khu phố A N, thị trấn N, huyện N Công an thị trấn Ngọc L2, huyện N lập biên bản bắt người phạm tội quả tang, đối với Cao Sơn T2, trú tại khu C, thị trấn T, huyện T có hành vi cất giấu trong người 04 gói ma túy, loại Heroine.
Quá trình điều tra Cao Sơn T2 khai: Do quen biết với Lê Văn T1, trú tại khu A, thị trấn T, huyện T, thuê trọ tại số nhà A đường P, khu phố A N, thị trấn N, huyện N, nên ngày 08/12/2023 T2 đến hỏi mua với T1 được 04 gói ma túy, loại Heroine, số tiền 500.000 đồng đem về sử dụng, đến ngày 12/12/2023 T2 quay lại nhà trọ chơi với Lê Văn T1 thì bị Công an thị trấn N, huyện N kiểm tra phát hiện bắt quả tang, thu giữ toàn bộ vật chứng để xử lý theo quy định của pháp luật.
Tại Bản kết luận giám định số 4531/KL-KTHS ngày 18/12/2023 của Phòng K Công an tỉnh T kết luận:
“Chất bột màu trắng của phong bì niêm phong kí hiệu M gửi giám định là ma túy, có tổng khối lượng 0,229g, loại Heroine”
Việc thu giữ, tạm giữ tài liệu, đồ vật và xử lý vật chứng:
01 phong bì là mẫu vật còn lại sau giám định, do phòng K Công an tỉnh T phát hành, được dán kín, niêm phong bởi các chữ ký ghi rõ họ tên Lê Minh T3, Trần Thị Thúy H1, Trịnh Văn C và các hình dấu của phòng K Công an tỉnh T, chuyển đến Kho vật chứng của Chi cục thi hành án dân sự huyện Ngọc Lặc để xét xử và thi hành án.
Đối với chiếc xe mô tô biển kiểm soát 36X2-1263 và chiếc điện thoại di động, quá trình điều tra xác định không liên quan đến vụ án nên Cơ quan điều tra đã trả lại chủ sở hữu hợp pháp.
Bản cáo trạng số 20/CT-VKS - NL ngày 13/3/2024 của VKSND huyện Ngọc Lặc, tỉnh Thanh Hóa đã truy tố Cao Sơn T2 về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật Hình sự.
* Tại phiên tòa Đại diện viện kiểm sát đề nghị Hội đồng xét xử:
- Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51 và Điều 38 Bộ luật hình sự.
- Mức hình phạt mà Viện kiểm sát đề nghị đối với bị cáo Cao Sơn T2 từ 13 (mười ba) đến 16 (mười sáu) tháng tù, thời gian chấp hành hình phạt tù tính từ ngày tạm giữ, tạm giam ngày 12/12/2023.
- Về xử lý vật chứng:
- Về hình phạt bổ sung: Xét thấy bị cáo là người nghiện ma túy, không có tài sản riêng, công việc không ổn định nên đề nghị HĐXX không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.
- Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí Hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Đề nghị: Tịch thu tiêu hủy Một phong bì mẫu vật sau giám định do Phòng K Công an tỉnh T phát hành, được dán kín, niêm phong bởi các chữ ký Lê Minh T3, Trần Thị Thúy H1, Trịnh Văn C và 06 hình con dấu.
Bị cáo thống nhất với bản luận tội, không có ý kiến tranh luận với đại diện Viện kiểm sát, trong lời nói sau cùng bị cáo xin Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện N, Điều tra viên; Viện kiểm sát nhân dân huyện Ngọc Lặc, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của BLTTHS. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
[2] Về trách nhiệm hình sự: Căn cứ vào các tài liệu có trong hồ sơ vụ án, Biên bản bắt người phạm tội quả tang, bản kết luận giám định, lời khai của bị cáo có trong hồ sơ cũng như tại phiên tòa đã thể hiện rõ: Vào hồi 11 giờ 45 phút, ngày 12/12/2023 Công an thị trấn N, huyện N lập biên bản bắt người phạm tội quả tang, đối với Cao Sơn T2, trú tại khu C, thị trấn T, huyện T có hành vi cất giấu trong người 04 gói ma túy, kết quả giám định là ma túy, có tổng trọng lượng 0,229 gam, loại Heroine. Đủ yếu tố cấu thành tội tàng trữ trái phép chất ma túy, quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự. Viện kiểm sát truy tố bị cáo là đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.
[3] Về tính chất, hành vi phạm tội: Trong những năm qua tình hình về tội phạm ma túy dưới mọi hình thức trong cả nước nói chung và trên địa bàn huyện N nói riêng ngày càng tăng. Các vụ án ma túy diễn biến ngày càng phức tạp, tình trạng sử dụng ma túy diễn ra ngày càng nhiều. Có thể nói ma túy là một tệ nạn đang nhức nhối nhất hiện nay mà Đảng, nhà nước và nhân dân ta đã và đang quyết tâm loại trừ ra khỏi đời sống xã hội, vì ma tuý có tác hại nghiêm trọng đến đời sống, sức khoẻ, hạnh phúc của mọi người, mọi nhà, làm suy thoái về giống nòi, suy đồi về đạo đức, lối sống, ma tuý làm lây lan căn bệnh thế kỷ HIV, do ma tuý mà một loạt các tội phạm khác gia tăng. Bị cáo đủ nhận thức để hiểu được những tác hại do ma túy gây ra và các hành vi về tàng trữ, mua bán, sử dụng, lôi kéo người khác ... đều vi phạm pháp luật nhưng vẫn cố tình thực hiện. Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm tới chính sách quản lý độc quyền của nhà nước về ma túy, gây nên dư luận bất bình trong quần chúng nhân dân, ảnh hưởng đến tình hình trật tự an ninh, an toàn xã hội cũng như tiếp tay cho những kẻ buôn bán trái phép chất ma túy. Vì vậy cần phải lên cho bị cáo một hình phạt tương xứng với hành vi phạm tội của bị cáo đã gây ra.
[4] Về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự nhân thân của bị cáo: Bị cáo phạm không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự. Bị cáo có 01 tình tiết giảm nhẹ là trong quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo “Thành khẩn khai báo” quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 BLHS. Bị cáo có 01 tiền sự đó là Ngày 02/12/2020 bị Tòa án nhân dân huyện Thọ Xuân áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc, tại Quyết định số 27/2020/QĐ-TA, thời gian chấp hành từ ngày 08/12/2020 đến ngày 08/12/2022. Ngoài ra bị cáo còn là người có nhân thân xấu: Năm 2012 bị Tòa án nhân dân huyện Thọ Xuân xử phạt 08 tháng tù, về tội trộm cắp tài sản; năm 2014 bị Tòa án nhân dân huyện Thọ Xuân xử phạt 10 tháng tù, về tội trộm cắp tài sản; năm 2015 bị Tòa án nhân dân huyện Thọ Xuân xử phạt 14 tháng tù, về tội trộm cắp tài sản, tổng hợp hình phạt 20 tháng tù; năm 2019 bị Tòa án nhân dân huyện Thọ Xuân xử phạt 12 tháng tù, về tội trộm cắp tài sản, đã chấp hành xong hình phạt.
Với các tình tiết và nhân thân nêu trên chứng tỏ bị cáo là người không có ý thức cải tạo thành người công dân tốt, tỏ thái độ coi thường pháp luật. Do đó hội đồng xét xử xét thấy cần cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian mới đủ sức răn đe giáo dục bị cáo sửa chữa lỗi lầm, để bị cáo thấy được tính nghiêm minh của pháp luật, cải tạo thành người công dân có ích cho xã hội.
[5] Về xử lý vật chứng:
Một phong bì mẫu vật sau giám định do Phòng K Công an tỉnh T phát hành, được dán kín, niêm phong bởi các chữ ký Lê Minh T3, Trần Thị Thúy H1, Trịnh Văn C và 06 hình con dấu, là mẫu vật còn lại sau giám định, đây là vật Nhà nước cấm tàng trữ, lưu hành nên tịch thu tiêu hủy.
[6] Về hình phạt bổ sung: Xét thấy bị cáo công việc không ổn định, không có tài sản cá nhân có giá trị nên không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.
[7] Về án phí: Bị cáo Cao Sơn T2 phải chịu tiền án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào điểm c khoản 1 Điều 249, điểm s khoản 1 Điều 51 và Điều 38 của Bộ luật Hình sự đối với bị cáo Cao Sơn T2.
Tuyên bố: Cao Sơn T2 phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
Xử phạt: C (Mười lăm) tháng tù, thời gian chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 12/12/2023.
Về vật chứng: Áp dụng Điều 47 BLHS; Điều 106 BLTTHS.
Tịch thu, tiêu hủy. Một phong bì niêm phong bởi các chữ ký Lê Minh T3, Trần Thị Thúy H1, Trịnh Văn C và 06 hình con dấu.
Hiện vật chứng, tài sản đang được nhập kho Chi cục thi hành án dân sự huyện Ngọc Lặc, tỉnh Thanh Hóa theo phiếu nhập kho và lệnh nhập kho số NK 2024/027 ngày 14/3/2024.
Án phí và quyền kháng cáo: Áp dụng các điều 136; 331, 333 của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015 và điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14, ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Toà án.
Buộc bị cáo Cao Sơn T2 phải chịu 200.000đ (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.
Án xử công khai sơ thẩm có mặt bị cáo. Tuyên bố bị cáo có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm.
Trường hợp bản án quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a và 9 Luật Thi hành án dân sự. Thời hiệu thi hành án dân sự được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TOẠ PHIÊN TOÀ Phạm Xuân Thành |
Bản án số 17/2024/HS-ST ngày 26/04/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN NGỌC LẶC, TỈNH THANH HÓA về hình sự (tàng trữ trái phép chất ma túy)
- Số bản án: 17/2024/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Hình sự (Tàng trữ trái phép chất ma túy)
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 26/04/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN NGỌC LẶC, TỈNH THANH HÓA
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Vụ án hình sự về tội Tàng trữ trái phép chất ma túy
