TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ HOÀNG MAI TỈNH NGHỆ AN Bản án số: 17/2024/HNGĐ - ST Ngày: 25/6/2024 Về việc: Tranh chấp hôn nhân và gia đình | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ HOÀNG MAI, TỈNH NGHỆ AN
Với thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
- - Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Hữu Huy.
- - Các Hội thẩm nhân dân: Ông Chu Quang Cường.
- Bà Tô Thị Thanh Hoa
- - Thư ký ghi biên bản phiên tòa: Bà Trần Thị Duyên; thư ký TAND thị xã Hoàng Mai.
- - Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã Hoàng Mai, tỉnh Nghệ An tham gia phiên toà: Bà Đào Giang Lệ; Chức vụ: Kiểm sát viên.
Trong ngày 25 tháng 6 năm 2024 tại Hội trường xét xử Tòa án nhân dân thị xã Hoàng Mai xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số:48/2024/TLST- HN&GD ngày 19 tháng 3 năm 2024 về tranh chấp Hôn nhân và gia đình, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 70/2024/QĐST-HN&GĐ ngày 04 tháng 6 năm 2024 và Quyết định hoãn phiên tòa số: /2024/QĐST-DS ngày 19/6/2024 giữa các đương sự:
Nguyên đơn: Chị Trần Thị L, sinh năm: 1990 (Vắng mặt có đơn xin xét xử vắng mặt).
Trú tại: Xóm F, xã L, huyện G, tỉnh Ninh Bình.
Bị đơn: Anh Lê Thạc T, sinh năm: 1990 (Vắng mặt).
Trú tại: Thôn D, xã Q, thị xã H, tỉnh Nghệ An.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn xin ly hôn, bản tự khai, nguyên đơn chị Trần Thị L trình bày:
Chị và bị đơn anh Lê Thạc T kết hôn với nhau vào ngày 26/02/2010 có đăng ký kết hôn tại UBND xã Q, huyện Q (nay là xã Q, thị xã H), tỉnh Nghệ An trên cơ sở tự nguyện. Sau khi kết hôn vợ chồng sống bình thường đến năm 2012 thì phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân mâu thuẫn là do tính tình vợ chồng không hợp, bất đồng quan điểm sống, vợ chồng sống không có tình cảm, vợ chồng không có tiếng nói chung, thường xuyên xảy ra cãi vã. Mâu thuẫn vợ chồng đã được gia đình hai bên hoà giải nhưng không được. Vợ chồng đã ly thân từ đó cho đến nay.
Nay chị thấy tình cảm vợ chồng không còn, mục đích hôn nhân không đạt được nên chị đề nghị Tòa án giải quyết cho chị được ly hôn với anh Lê Thạc T.
Về con: Vợ chồng có 01 con chung là Lê Trần Nhất S, sinh ngày 21/5/2011. Hiện nay con chung đang ở với chị. Nếu ly hôn chị xin được trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng con chung và không yêu cầu anh T cấp dưỡng nuôi con chung đối với chị. Vợ chồng không ai có con riêng.
Về tài sản chung, riêng: Vợ chồng chị tự thỏa thuận phân chia không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Về nợ: Vợ chồng không nợ ai và cũng không ai nợ vợ chồng.
Từ khi thụ lý vụ án đến nay, Tòa án đã tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng cho anh Lê Thạc T, anh T cũng đã biết được các văn bản tố tụng của Toà án nhưng đều vắng mặt không có lý do và không có bất cứ ý kiến phản hồi gì đối với yêu cầu xin ly hôn, giải quyết về trách nhiệm nuôi con chung của chị L.
Trong phần tranh luận, đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã Hoàng Mai phát biểu ý kiến như sau:
- - Việc tuân theo pháp luật của Thẩm phán, thư ký: Trong quá trình giải quyết vụ án Thẩm phán, thư ký đã tuân thủ theo đúng các quy định về pháp luật tố tụng dân sự.
- - Việc tuân theo pháp luật của Hội đồng xét xử: Tại phiên tòa Hội đồng xét xử đã thực hiện đúng quy định của Bộ luật tố tụng dân sự về phiên tòa sơ thẩm và đảm bảo đúng nguyên tắc xét xử.
- - Việc chấp hành pháp luật của các đương sự trong vụ án: Từ khi thụ lý vụ án cũng như tại phiên tòa hôm nay nguyên đơn đã thực hiện đúng các quy định Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015 về quyền và nghĩa vụ của đương sự. Bị đơn không thực hiện đúng theo các quy định Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015.
- - Về quan điểm giải quyết vụ án, đại diện Viện kiểm sát đề nghị :
- Áp dụng các điều 28, 35, 39, 147, điểm b khoản 2 Điều 227, khoản 1 Điều 228 BLTTDS năm 2015; Điều 51, 53, 56, 57, 58, 60, 81, 82, 83, 84 Luật HNGĐ năm 2014; Điều 26, khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án:
- Về quan hệ hôn nhân: Đề nghị Xử cho chị Trần Thị L được ly hôn với anh Lê Thạc T.
- Về con chung: Đề nghị giao con chung là Lê Trần Nhất S, sinh ngày 21/5/2011 cho chị L trực tiếp chăm sóc nuôi dưỡng, tạm hoãn việc cấp dưỡng nuôi con chung cho anh T.
- - Về tài sản chung, nợ chung: Chị L xác định vợ chồng không có tài sản chung gì đáng kể, không có nợ chung, không yêu cầu Tòa án giải quyết nên không đề nghị xem xét.
- - Về án phí: Chị Trần Thị L phải nạp 300.000₫ (Ba trăm ngàn đồng) tiền án phí ly hôn sơ thẩm được trừ vào số tiền tạm ứng án phí chị đã nạp.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên tòa Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1]Đây là vụ án tranh chấp hôn nhân và gia đình giữa nguyên đơn chị Trần Thị L với bị đơn anh Lê Thạc T. Hiện tại bị đơn anh Lê Thạc T đang có hộ khẩu thường trú và chỗ ở tại thôn D, xã Q, thị xã H, tỉnh Nghệ An. Nên Tòa án nhân dân thị xã Hoàng Mai, tỉnh Nghệ An giải quyết là đúng thẩm quyền theo quy định tại điểm a khoản 1 điều 39 BLTTDS. Trong quá trình giải quyết vụ án, bị đơn anh Lê Thạc T đã được Tòa án triệu tập hợp lệ để làm việc cũng như để tham gia phiên tòa xét xử đến lần thứ 2 nhưng vẫn vắng mặt không rõ lý do nên căn cứ Điều 227, Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự. Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt bị đơn và xem như bị đơn từ bỏ quyền, nghĩa vụ chứng minh. Nguyên đơn có mặt tại phiên toà lần thứ nhất, vắng mặt lần thứ hai nhưng đã có đơn xin xét xử vắng mặt nên Hội đồng xét xử vẫn tiến hành xét xử vắng mặt nguyên đơn và bị đơn. Hội đồng xét xử sẽ căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ do nguyên đơn cung cấp có tại hồ sơ vụ án để làm căn cứ giải quyết vụ án.
[2] Về nội dung vụ án:
[2.1] Về quan hệ hôn nhân: Chị Trần Thị L, anh Lê Thạc T kết hôn với nhau vào ngày 26/02/2010 có đăng ký kết hôn tại UBND xã Q, huyện Q (nay là xã Q, thị xã H), tỉnh Nghệ An trên cơ sở tự nguyện. Đây là hôn nhân hợp pháp tuân thủ các điều kiện kết hôn theo luật định. Sau khi kết hôn vợ chồng sống với nhau đến năm 2012 thì phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân mâu thuẫn là do vợ chồng bất đồng quan điểm sống, không hiểu nhau, thường xuyên xảy ra cãi vã, xúc phạm lẫn nhau dẫn đến tình cảm vợ chồng ngày càng phai nhạt, vợ chồng sống không có tình cảm, mâu thuẫn liên tục sâu sắc và ngày càng trầm trọng hơn. Hai bên đã chấm dứt mọi quan hệ vợ chồng từ năm 2012 cho đến nay, không còn quan tâm gì đến nhau, bản thân chị L, anh T hiện đã sống ly thân từ năm 2012 cho đến nay và không còn liên lạc hỏi han, quan tâm chăm sóc lẫn nhau, chứng tỏ vợ chồng không còn tình cảm gì với nhau nữa. Do anh T không tham gia làm việc tại Tòa án nên Tòa án không thể phân tích hòa giải cho vợ chồng về đoàn tụ. Chị L xin ly hôn anh T, anh T không trình bày ý kiến, qua quá trình xác minh tại địa phương cũng đã thể hiện vợ chồng anh T, chị L trong cuộc sống có xảy ra mâu thuẫn, vợ chồng đã ly thân, hiện nay chị L đã bỏ về bên ngoại sinh sống. Do đó Hội đồng xét xử nhận thấy mâu thuẫn vợ chồng đã thực sự trầm trọng, mục đích hôn nhân không đạt được, vợ chồng không thể đoàn tụ được với nhau nên căn cứ vào Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình xử cho chị Trần Thị L được ly hôn anh Lê Thạc T.
[2.2] Về con chung: Chị Trần Thị L, anh Lê Thạc T có 01 con chung là Lê Trần Nhất S, sinh ngày 21/5/2011. Con chung hiện đang ở với chị L. Tại bản tự khai con chung có lời trình bày nguyện vọng xin ở với chị Liên từ lúc vợ chồng ly thân cho đến nay con chung vẫn ở với chị L, anh T cũng không quan tâm gì đến con chung trong thời gian vợ chồng ly thân. Do đó để đảm bảo quyền lợi cho các đương sự cũng như tôn trọng nguyện vọng của con chung, đảm bảo quyền lợi mọi mặt của con trẻ, tạo điều kiện thuận lợi cho chị L nuôi con. Nên giao con chung là cháu Lê Trần Nhất S cho chị L trực tiếp nuôi dưỡng; anh T không phải cấp dưỡng nuôi con chung cho chị L và có quyền đi lại, thăm nom, chăm sóc con chung sau khi đã ly hôn là phù hợp theo Điều 81; 82; 83; 84 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014.
[2.3] Về tài sản chung, nợ chung: Trong quá trình Tòa án giải quyết cũng như tại phiên tòa chị Trần Thị L không yêu cầu Tòa án phân chia tài sản chung và nợ chung của vợ chồng. Anh Lê Thạc T không có lời trình bày về việc chia tài sản chung và nợ chung của vợ chồng nên Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết. Nếu chị L, anh T có yêu cầu chia tài sản chung thì sẽ khởi kiện bằng vụ án chia tài sản chung của vợ chồng sau khi ly hôn.
[2.4] Xét đề nghị của Kiểm sát viên về nội dung giải quyết vụ án là có căn cứ, đúng quy định của pháp luật nên được Hội đồng xét xử chấp nhận.
[3] Về án phí ly hôn sơ thẩm chị Trần Thị L phải nạp 300.000₫ (Ba trăm ngàn đồng) được trừ vào số tiền tạm ứng án phí chị L đã nạp.
Vì các lẽ trên.
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ: Khoản 1 Điều 28; Khoản 1 Điều 35; Điều 39, Khoản 4 Điều 147; Khoản 2 Điều 227, Điều 228; Điều 271 Bộ luật tố tụng dân sự;
Các Điều 56, 57, 58, và Điều 81, 82, 83, 84 Luật Hôn nhân và gia đình;
Nghị quyết số 326/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội ngày 30/12/2016 về án phí, lệ phí Tòa án.
Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn xử:
Về quan hệ hôn nhân: Cho chị Trần Thị L được ly hôn anh Lê Thạc T.
Về con chung: Giao con chung Lê Trần Nhất S, sinh ngày 21/5/2011 (Giới tính: Nữ) cho chị Trần Thị L trực tiếp chăm sóc nuôi dưỡng.
Tạm hoãn nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con chung cho anh T vì chị L chưa yêu cầu. Anh T người không trực tiếp nuôi con có quyền, nghĩa vụ đi lại thăm nom, chăm sóc con chung mà không ai được ngăn cấm, cản trở.
Vì lợi ích mọi mặt của con chung, khi có lý do chính đáng hoặc có căn cứ theo quy định của pháp luật, khi có yêu cầu của một hoặc hai bên thì Tòa án có thể quyết định thay đổi người trực tiếp nuôi con và mức cấp dưỡng nuôi con.
Về chia tài sản chung và nợ chung: Chị L không yêu cầu Toà án giải quyết. Chị L, anh T nếu có yêu cầu chia tài sản chung và nợ chung của vợ chồng thì sẽ khởi kiện vụ án chia tài sản chung và nợ chung của vợ chồng sau khi ly hôn.
Về án phí: Chị Trần Thị L phải chịu 300.000₫ (Ba trăm ngàn đồng) án phí ly hôn sơ thẩm được trừ vào số tiền tạm ứng án phí chị L đã nộp tại Chi cục thi hành án dân sự thị xã Hoàng Mai, tỉnh Nghệ An theo biên lai thu tiền số 0008440 ngày 13/3/2024.
Nguyên đơn có quyền kháng cáo lên Tòa án nhân dân tỉnh Nghệ An trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Bị đơn vắng mặt có quyền kháng cáo lên Toà án nhân dân tỉnh Nghệ An trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản sao bản án hoặc bản án được niêm yết công khai
Nơi nhận:
| TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Hữu Huy |
Bản án số 17/2024/HNGĐ - ST ngày 25/06/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ HOÀNG MAI, TỈNH NGHỆ AN về tranh chấp hôn nhân và gia đình
- Số bản án: 17/2024/HNGĐ - ST
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hôn nhân và gia đình
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 25/06/2024
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ HOÀNG MAI, TỈNH NGHỆ AN
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Chị Trần Thị L yêu cầu xin ly hôn, trách nhiệm nuôi con chung với anh Lê Thạc Th
