|
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN PHỤNG HIỆP TỈNH HẬU GIANG |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: 17/2024/HS-ST
Ngày: 25-4-2024
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN PHỤNG HIỆP, TỈNH HẬU GIANG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Đặng Ngọc Thanh Hà
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Văn Dương
Ông Nguyễn Thành Quyến
Thư ký phiên tòa: Ông Phan Công Trận – Thẩm tra viên Tòa án nhân dân huyện Phụng Hiệp.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Phụng Hiệp, tỉnh Hậu Giang tham gia phiên tòa: Ông Hồ Bảo Quốc - Kiểm sát viên.
Trong ngày 25 tháng 4 năm 2024 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Phụng Hiệp, tỉnh Hậu Giang tiến hành xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 16/2023/TLST- HS ngày 10 tháng 01 năm 2023 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 66/2023/QĐXXST–HS ngày 04 tháng 8 năm 2023 đối với bị cáo:
Họ và tên: Trần Hữu V; Tên gọi khác: Không. Giới tính: Nam; Sinh ngày 01 tháng 01 năm 1981. Nơi sinh: Châu Thành A, Hậu Giang; Nơi cư trú: Ấp T, xã T, huyện P, tỉnh Hậu Giang; Quốc tịch: Việt Nam, Dân tộc: Kinh, Tôn giáo: Không; Nghề nghiệp: Không; Trình độ học vấn: 6/12; Chức vụ (Đảng, chính quyền, đoàn thể): Không có; Cha ruột: Trần Văn X (chết); Mẹ ruột: Trần Thị M (chết); Anh, chị em ruột: 05 người. Lớn nhất sinh năm 1979, nhỏ nhất sinh năm 1984; Vợ: Bị can chưa có vợ; Con: Không.
- Tiền sự: 01 lần. Ngày 17/10/2015, Trần Hữu V bị Công an xã T, huyện P xử phạt vi phạm hành chính về hành vi trộm cắp tài sản với số tiền 1.500.000 đồng, bị cáo chưa chấp hành.
- Tiền án: 02 lần.
+ Lần thứ nhất: Tại Bản án số 48/2016/HSST ngày 29/8/2016 của Tòa án nhân dân huyện Phụng Hiệp, tỉnh Hậu Giang áp dụng khoản 1 Điều 138, Điều 45, điểm h, p khoản 1 Điều 46 Bộ luật Hình sự năm 1999 tuyên phạt bị cáo Trần Hữu V 09 tháng tù giam về tội trộm cắp tài sản, án phí HSST thẩm 200.000 đồng, bị cáo Văn chấp hành xong hình phạt tù, án phí HSST bị cáo chưa thực hiện.
+ Lần thứ hai: Tại Bản án số 27/2020/HSST ngày 18/11/2020 của Tòa án nhân dân huyện Thới Lai, thành phố Cần Thơ áp dụng khoản 1 Điều 173, điểm s, khoản 1 Điều 51, điểm h, khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự năm 2015 tuyên phạt bị cáo Trần Hữu V 01 năm tù giam về tội trộm cắp tài sản, án phí HSST thẩm 200.000 đồng. Bị cáo chấp hành xong hình phạt tù, án phí HSST bị cáo chưa nộp phạt.
- Bị cáo Trần Hữu V bị bắt tạm giam từ ngày 03/11/2023 đến nay. Bị cáo có mặt tại phiên tòa
Bị hại: Đỗ Hoàng N, sinh năm: 1986; Trú tại: ấp T, thị trấn R, huyện P, tỉnh Hậu Giang. Có đơn xin xét xử vắng mặt
Nguyễn Văn T, sinh năm; 1983; Trú tại: ấp T, xã T, huyện P, tỉnh Hậu Giang. Có đơn xin xét xử vắng mặt
Người liên quan: Ông Nguyễn Phúc D, sinh năm: 1981; Trú tại Trú tại: ấp T, thị trấn R, huyện P, tỉnh Hậu Giang.
- Ông Lưu Văn T1, sinh năm: 1966; Trú tại: ấp T, thị trấn C, huyện C, tỉnh Hậu Giang.
- Ông Nguyễn Văn H, sinh năm: 1973; Trú tại: Ấp T, xã T, huyện P, tỉnh Hậu Giang.
Bà Trần Thị Mỹ N1, sinh năm: 1984; Trú tại: ấp T, thị trấn R, huyện P, tỉnh Hậu Giang.
Tất cả người liên quan vắng mặt tại phiên tòa.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Vào ngày 12/4/2023 và ngày 14/6/2023, bị cáo Trần Hữu V thực hiện 02 vụ trộm cắp tài sản trên địa bàn xã T và xã T, huyện P, tỉnh Hậu Giang. Cụ thể:
Vụ thứ 1: Khoảng 23 giờ ngày 12/4/2023, bị cáo Trần Hữu V đi bộ đến phần đất của ông Nguyễn Văn T ngụ ấp T, xã T, huyện P, tỉnh Hậu Giang thì phát hiện 01 đầu máy xăng hiệu Honda (Trung Quốc) 6,5HP và 01 hệ thống bơm nước đặt trên nửa cái thùng phi nhựa không người trông coi nên bị cáo V lấy trộm mang về cất giấu phía sau nhà. Trưa ngày 13/4/2023, Trần Thị Mỹ N1 là em ruột của bị cáo V nói với V có người muốn chuộc lại số tài sản trên với số tiền 1.500.000 đồng thì bị cáo V đồng ý, sau đó N1 điện thoại cho Nguyễn Văn H là bạn của bị hại T đến đưa N1 1.500.000 đồng và N1 đưa lại tài sản mà bị cáo V đã trộm, bị cáo V bị Công an xã T mời lên làm việc và khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội.
Tại bản Kết luận định giá tài sản số 01/2024/KL-HĐĐGTS ngày 26/01/2024 của Hội đồng định giá tài sản UBND huyện P, tỉnh Hậu Giang, kết luận: Tại thời điểm xảy ra vụ trộm cắp tài sản thì 01 đầu máy xăng nhãn hiệu Honda (Trung Quốc) 6,5HP trị giá 500.000 đồng và 01 hệ thống bơm nước trị giá 300.000 đồng. Như vậy, tổng giá trị tài sản mà bị cáo Trần Hữu V đã chiếm đoạt trọng vụ trộm thứ nhất là 800.000 đồng.
Vụ thứ 2: Khoảng 14 giờ ngày 14/6/2023, bị cáo V đi bộ trên tuyến quốc lộ F, mục đích tìm tài sản trộm. Khi bị cáo V đi đến đoạn Công ty Đ thuộc ấp P, xã T, huyện P thì phát hiện xe mô tô nhãn hiệu Honda, biển số kiểm soát 60L7-2727 của anh Đỗ Hoàng N đang đậu xe trước cửa Công ty và chìa khóa xe còn cắm trên ổ khóa nên V đi đến mở chìa khóa xe và điều khiển xe về hướng thị trấn C, huyện C. Trên đường đi, V dừng lại kiểm tra cốp xe thì phát hiện có 01 giấy chứng nhận đăng ký xe nên nảy sinh ý định mang giấy đi cầm, bị can V điều khiển xe đến tại tiệm C gặp ông Liễu Văn T2 là chủ tiệm cầm với số tiền 200.000 đồng, đối với số tiền này, bị can V mua ma túy sử dụng hết. Đến chiều cùng ngày, khi bị cáo V đang đổ xăng tại cây xăng T3 thuộc xã T, huyện C thì anh N phát hiện và trình báo với Công an xã T, huyện P.
Tại Bản kết luận định giá tài sản số 29/2023/KL-HĐĐGTS ngày 07/9/2023 của Hội đồng định giá tài sản UBND huyện P, tỉnh Hậu Giang, kết luận: Tại thời điểm xảy ra vụ trộm cắp tài sản thì 01 xe mô tô nhãn hiệu Honda, biển số kiểm soát 60L7-2727 trị giá 3.666.000 đồng.
Tại Cáo trạng số 27/CT-VKS-HHPH, ngày 26/02/2024 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Phụng Hiệp đã truy tố bị cáo Trần Hữu V phạm tội “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại điểm g khoản 2 Điều 173 Bộ luật Hình sự năm 2015.
Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Phụng Hiệp trong phần tranh luận vẫn giữ nguyên quyết định truy tố bị cáo Trần Hữu V như Cáo trạng; đồng thời, đề nghị Hội đồng xét xử:
Áp dụng: Điểm g khoản 2 Điều 173, Điều 38, điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015 xử phạt bị cáo Trần Hữu V từ 03 năm đến 03 năm 06 tháng tù, thời hạn phạt tù tính từ ngày 03/11/2023.
Về trách nhiệm dân sự: Bị hại không yêu cầu nên không xem xét.
Về việc xử lý vật chứng: Đã xử lý xong nên không xem xét.
Bị cáo thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội và xin Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.
Sau khi xem xét, kiểm tra những tài liệu, chứng cứ tại phiên tòa; qua việc xét hỏi và tranh luận tại phiên tòa trên cơ sở xem xét đầy đủ, toàn diện chứng cứ, ý kiến của Kiểm sát viên, bị cáo, người bị hại và những người tham gia tố tụng khác.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện P, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện P, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
[2] Về thủ tục tố tụng: Trong quá trình điều tra, truy tố Cơ quan điều tra công an huyện P, Viện kiểm sát nhân dân huyện Phụng Hiệp đã thực hiện đúng theo quy định của Bộ luật tố tụng hình sự.
Bị hại có đơn xin xét xử vắng mặt, các người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan mặc dù đã được Tòa án triệu tập và tống đạt hợp lệ nhưng vắng mặt không lý do, căn cứ Điều 292 Bộ luật Tố tụng hình sự, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt các đương sự nêu trên.
[3] Về nội dung vụ án: Xét lời khai nhận tội của bị cáo trong quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa phù hợp với lời khai của người bị hại trong quá trình điều tra, lời khai nhận tội của bị cáo còn phù hợp với các tài liệu chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án đã được công bố thẩm tra, xem xét công khai tại phiên tòa. Từ đó có đủ cơ sở để khẳng định:
Với mục đích kiếm tiền mua ma túy sử dụng và tiêu xài cá nhân nên vào ngày 12/4/2023 và ngày 14/6/2023, bị cáo Trần Hữu V lén lút trộm cắp tài sản là 01 đầu máy xăng hiệu H (Trung Quốc) và 01 hệ thống bơm nước của anh Nguyễn Văn T ngụ ấp T, xã T, huyện P và mô tô nhãn hiệu Honda, biển số kiểm soát 60L7-2727 của anh Đỗ Hoàng N ở ấp P, xã T, huyện P. Khi thực hành vi trộm cắp tài sản của người khác, bị cáo Trần Hữu V biết rõ là vi phạm pháp luật nhưng vẫn cố ý thực hiện việc chiếm đoạt. Với tổng giá trị tài sản chiếm đoạt với số tiền là 4.466.000 đồng và bản thân đã có 02 tiền án và 01 tiền sự về tội trộm cắp tài sản nên đã có đủ yếu tố cấu thành tội trộm cắp tài sản quy định tại khoản 2 Điều 173 Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017. Do đó, đủ cơ sở khẳng định Cáo trạng số 27/CT-VKS-HPH ngày 26/02/2024 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Phụng Hiệp, tỉnh Hậu Giang truy tố bị cáo là đúng người, đúng tội, đúng pháp luật nên được Hội đồng xét xử chấp nhận.
[4] Về tính chất, mức độ của hành vi phạm tội: Hành vi phạm tội của bị cáo là liều lĩnh, đã xâm phạm đến quyền sở hữu tài sản hợp pháp của người khác, ảnh hưởng xấu đến tình hình trật tự xã hội tại địa phương nơi bị cáo thực hiện tội phạm, tạo sự bất bình, gây hoang mang trong quần chúng nhân dân, làm mọi người không an tâm trong lao động, sinh hoạt, nghỉ ngơi.
[5] Xét về nhân thân bị cáo: Bị cáo có nhân thân xấu bị cáo đã thực hiện hành vi trộm cắp tài sản rất nhiều lần, đã đi cải tạo nhưng không biết ăn năn hối cải, trở thành người công dân có ích cho xã hội mà khi về địa phương lại tiếp tục thực hiện hành vi trộm cắp tài sản do đó cần phải có mức án thật nghiêm khắc mới tương xứng với hành vi phạm tội của bị cáo có như vậy mới tạo được sự chuyển biến tích cực trong việc giáo dục, nâng cao ý thức chấp hành pháp luật và phòng ngừa chung cho xã hội. Tuy nhiên, trong quá trình điều tra và tại phiên tòa thành khẩn khai báo, nên được áp dụng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự.
[6] Về trách nhiệm dân sự: Bị hại không yêu cầu nên không xem xét.
[7] Về xử lý vật chứng: Đã xử lý xong nên không xem xét
[8] Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về án phí, lệ phí của Tòa án.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
-
Căn cứ: Điểm g Khoản 2 Điều 173; Điều 38, điểm s khoản 1 Điều 51; Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017.
Tuyên bố: Bị cáo Trần Hữu V phạm tội “Trộm cắp tài sản”.
Xử phạt bị cáo Trần Hữu V 03 (Ba năm) tù, thời hạn phạt tù tính từ ngày 03/11/2023.
- Về trách nhiệm dân sự: không yêu cầu nên không đặt ra xem xét.
- Về xử lý vật chứng: Đã xử lý xong nên không xem xét.
-
Về án phí: áp dụng khoản 2 Điều 135; khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Toà án.
Bị cáo phải chịu 200.000đ (hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.
- Bị cáo và bị hại vắng mặt có quyền làm đơn kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày bản án được tống đạt hợp lệ.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Đặng Ngọc Thanh Hà |
Bản án số 17/2024/HS-ST ngày 25/04/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN PHỤNG HIỆP, TỈNH HẬU GIANG về trộm cắp tài sản (hình sự sơ thẩm)
- Số bản án: 17/2024/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Trộm cắp tài sản (Hình sự sơ thẩm)
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 25/04/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN PHỤNG HIỆP, TỈNH HẬU GIANG
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: bị cáo Trần Hữu Văn phạm tội trộm cắp tài sản
