Hệ thống pháp luật

TOÀ ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN NGHĨA ĐÀN

TỈNH NGHỆ AN

CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số:18/2024/HNGĐ - ST

Ngày: 25/4/2024

V/v: “Ly hôn, tranh chấp nuôi con"

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN NGHĨA ĐÀN - TỈNH NGHỆ AN

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà : Ông Phan Quang Sơn.

Các Hội thẩm nhân dân: 1. Ông Nguyễn Huy Hiển

2. Ông Phan Sỹ Hùng

- Thư ký phiên toà: Bà Phạm Thị An – Thư ký Tòa án

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Nghĩa Đàn, tỉnh Nghệ An tham gia phiên toà: Bà Nguyễn Thị Thuỳ Linh - Kiểm sát viên.

Ngày 25 tháng 4 năm 2024 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Nghĩa Đàn - tỉnh Nghệ An xét xử sơ thẩm công khai vụ án hôn nhân gia đình thụ lý số 34/2024/TLST-HNGĐ ngày 01 tháng 3 năm 2024 về ly hôn, tranh chấp nuôi con theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 08/2024/QĐXXST -HNGĐ ngày 19 tháng 3 năm 2024 giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Chị Nguyễn Thị Q, sinh năm 1994 (có mặt)

Trú tại: Xóm K, xã N, huyện N, tỉnh Nghệ An

- Bị đơn: Anh Trương Mạnh L, sinh năm 1990 (có đơn xin xét xử vắng mặt)

Trú tại: Xóm K, xã N, huyện N, tỉnh Nghệ An

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Tại đơn xin ly hôn và trong quá trình thụ lý, giải quyết vụ án, nguyên đơn chị Nguyễn Thị Q trình bày:

Về quan hệ hôn nhân: Chị và anh Trương Mạnh L có đăng ký kết hôn vào ngày 03 tháng 6 năm 2013 tại UBND xã N, huyện N, tỉnh Nghệ An. Hôn nhân được xác lập trên cơ sở tự nguyện. Quá trình chung sống thời gian đầu hạnh phúc, sau đó phát sinh nhiều mâu thuẫn. Nguyên nhân mâu thuẫn là do anh L chơi bời, nợ nần, không chăm lo đến vợ con. Chị và anh L ly thân từ tháng 10 năm 2023 đến nay, trong thời gian ly thân cả hai bên không còn quan tâm đến nhau. Chị nhận thấy cuộc sống hôn nhân không có hạnh phúc, tình cảm vợ chồng đã không còn nên chị đề nghị được giải quyết ly hôn với anh Trương Mạnh L.

Về con chung: Chị và anh L có hai con chung là Trương Tuấn K, sinh ngày 16/9/2013 và Trương Tuấn H, sinh ngày 18/7/2022. Chị có nguyện vọng muốn nuôi dưỡng cháu H và đồng ý để anh L nuôi dưỡng cháu K, chị không yêu cầu cấp dưỡng nuôi con.

Về tài sản chung, nợ chung: chị Q không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Đối với bị đơn là anh Trương Mạnh L:

Quá trình giải quyết vụ án Tòa án đã giao các tài liệu, giấy tờ cho bố của anh L là ông Trương Quang S nhận thay và cam kết giao lại cho anh L. Anh L có đơn xin xét xử vắng mặt và có kèm theo bản tự khai với ý kiến như sau:

Về quan hệ hôn nhân: Anh và chị Nguyễn Thị Q có đăng ký kết hôn vào ngày 03 tháng 6 năm 2013 tại UBND xã N, huyện N, tỉnh Nghệ An. Hôn nhân được xác lập trên cơ sở tự nguyện. Quá trình chung sống anh và chị Q có những bất đồng và mâu thuẫn không thể hoà hợp được, gây nên cuộc sống gia đình nặng nề, tình cảm rạn nứt không thể hàn gắn. Anh nhận thấy tình cảm vợ chồng đã không còn nên đồng ý ly hôn với chị Q.

Về con chung: Anh và chị Q có hai con chung là Trương Tuấn K, sinh ngày 16/9/2013 và Trương Tuấn H, sinh ngày 18/7/2022. Anh có nguyện vọng muốn nuôi dưỡng cháu K và đồng ý để chị Q nuôi dưỡng cháu H, cả hai bên không ai phải cấp dưỡng nuôi con.

Về tài sản chung, nợ chung: anh L không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Tại phiên tòa đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Nghĩa Đàn phát biểu ý kiến:

- Về tố tụng: Tòa án đã thu thập chứng cứ đúng theo quy định của pháp luật.

- Về việc tuân theo pháp luật của Hội đồng xét xử, Thư ký Tòa án: Hội đồng xét xử đã tuân theo quy định của Bộ luật tố tụng dân sự về việc xét xử sơ thẩm vụ án; Thư ký phiên tòa đã thực hiện đúng quy định tại điều 51, điều 236, điều 237 Bộ luật tố tụng dân sự.

- Về việc chấp hành pháp luật của đương sự: Nguyên đơn đã chấp hành đúng quy định của pháp luật. Bị đơn có đơn xin xét xử vắng mặt.

- Về quan điểm giải quyết vụ án đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Q là cho ly hôn với anh L; Việc nuôi con: Đề nghị Hội đồng xét xử giao con chung Trương Tuấn K, sinh ngày 16/9/2013 cho anh L được quyền trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục cho đến khi con chung đủ tuổi trưởng thành; Giao con chung Trương Tuấn H sinh ngày 18/7/2022 cho chị Q được quyền trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục cho đến khi con chung đủ tuổi trưởng thành. Tạm hoãn việc cấp dưỡng nuôi con chung cho anh L, chị Q do không ai yêu cầu; Về tài sản chung, nợ chung do đương sự không yêu cầu giải quyết nên không xem xét; Về án phí: nguyên đơn phải chịu án phí theo quy định của pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ các tài vào lời trình bày của đương sự, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về thủ tục tố tụng:

- Về thẩm quyền giải quyết: Theo quy định tại điểm a khoản 1 điều 35 Bộ luật Tố tụng dân sự, Toà án nhân dân huyện Nghĩa Đàn có thẩm quyền giải quyết yêu cầu của chị Nguyễn Thị Q.

- Về việc xét xử vắng mặt của bị đơn: Anh Trương Mạnh L đã được Toà án giao Giấy triệu tập, Quyết định đưa vụ án ra xét xử, Quyết định hoãn phiên toà đầy đủ nhưng anh L không có mặt để giải quyết vụ án do điều kiện đi làm ăn xa không về được và có làm đơn xin xét xử vắng mặt nên Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt anh L theo quy định tại Điều 227 và 228 – Bộ luật tố tụng dân sự.

[2] Về nội dung:

2.1. Về quan hệ hôn nhân: Chị Nguyễn Thị Q và anh Trương Mạnh L có quan hệ hôn nhân hoàn toàn tự nguyện và hợp pháp. Quá trình chung sống phát sinh nhiều mâu thuẫn, nguyên nhân mâu thuẫn là do bất đồng quan điểm sống, tính tình không hợp nhau, chơi bời dẫn đến nợ nần nên đã ly thân từ tháng 10 năm 2023 đến nay, trong thời gian ly thân cả hai bên không còn quan tâm đến nhau. Xét thấy tình cảm của cả hai bên đều không còn nữa, mâu thuẫn đã trầm trọng, mục đích của hôn nhân không đạt được, đời sống chung không thể kéo dài nên chấp nhận yêu cầu ly hôn của chị Q và được ly hôn với anh L.

2.2. Về nuôi con chung: Chị Q và anh L có hai con chung là Trương Tuấn K, sinh ngày 16/9/2013 và Trương Tuấn H, sinh ngày 18/7/2022. Nguyện vọng của chị Q ly hôn là được nuôi cháu H và đồng ý để anh L nuôi dưỡng cháu K, chị không yêu cầu anh L phải cấp dưỡng nuôi con. Anh L có nguyện vọng nuôi dưỡng cháu K và không yêu cầu chị Q phải cấp dưỡng nuôi con chung. Xét nguyện vọng của chị Q là hoàn toàn phù hợp vì hiện tại cháu H còn nhỏ cần được sự chăm sóc của người mẹ. Xét nguyện vọng của anh L là phù hợp vì cháu K từ nhỏ đã sống cùng với ông bà nội và bố, hơn nữa cháu K cũng có đơn trình bày nguyện vọng muốn được ở với bố. Để cuộc sống các con chung được ổn định, không bị xáo trộn về mặt sinh hoạt, học tập và xét về các điều kiện chăm sóc con cho tốt nên cần giao cháu K cho anh L được quyền trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục; giao cháu H cho chị Q được quyền trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con chung là phù hợp. Về cấp dưỡng nuôi con chung thì chị Q và anh L không ai yêu cầu nên tạm hoãn việc cấp dưỡng nuôi con chung cho chị Q và anh L.

[5] Về quan hệ tài sản chung, nợ chung: Các đương sự không yêu cầu nên Hội đồng xét xử không xem xét.

[6] Về án phí: chị Q phải chịu án phí ly hôn sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên!

QUYẾT ĐỊNH:

Áp dụng Điều 28, Điều 35, Điều 39, Điều 227, Điều 228 - Bộ luật tố tụng dân sự; Khoản 1 Điều 51; Điều 56; Điều 58; Điều 81, 82, 83 và Điều 84 - Luật hôn nhân và gia đình; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH 14 quy định về án phí, lệ phí Tòa án.

Tuyên xử:

1. Về quan hệ hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu của chị Nguyễn Thị Q là cho chị Q được ly hôn với anh Trương Mạnh L.

2. Việc nuôi con: giao con chung Trương Tuấn K, sinh ngày 16/9/2013 cho anh L được quyền trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục cho đến khi con chung đủ tuổi trưởng thành; Giao con chung Trương Tuấn H sinh ngày 18/7/2022 cho chị Q được quyền trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục cho đến khi con chung đủ tuổi trưởng thành. Tạm hoãn việc cấp dưỡng nuôi con chung cho anh L, chị Q do không ai yêu cầu.

Anh L và chị Q có quyền, nghĩa vụ thăm nom con chung, không ai được cản trở. Vì lợi ích mọi mặt của con chung khi có căn cứ hoặc có lý do chính đáng theo quy định của pháp luật thì có thể yêu cầu thay đổi người trực tiếp nuôi con hoặc yêu cầu cấp dưỡng, mức cấp dưỡng nuôi con.

3. Về tài sản chung, nợ chung: Đương sự không yêu cầu nên không xem xét.

4. Về án phí: Chị Nguyễn Thị Q phải chịu 300.000 đồng án phí ly hôn sơ thẩm. Chị Q đã nộp đủ 300.000 đồng tại biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0012240 ngày 01 tháng 3 năm 2024 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Nghĩa Đàn.

Án xử công khai sơ thẩm có mặt nguyên đơn được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Vắng mặt bị đơn được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc ngày bản án được niêm yết./.

Nơi nhận:

  • - TAND tỉnh Nghệ An
  • - VKSND tỉnh Nghệ An
  • - VKSND huyện Nghĩa Đàn
  • - Chi cục THADS huyện Nghĩa Đàn
  • - Các đương sự
  • - UBND xã Nghĩa Lộc, huyện Nghĩa Đàn (Nơi thực hiện ĐKKH

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Phan Quang Sơn

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 18/2024/HNGĐ - ST ngày 25/04/2024 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN NGHĨA ĐÀN - TỈNH NGHỆ AN về ly hôn, tranh chấp nuôi con

  • Số bản án: 18/2024/HNGĐ - ST
  • Quan hệ pháp luật: Ly hôn, tranh chấp nuôi con
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 25/04/2024
  • Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
  • Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN NGHĨA ĐÀN - TỈNH NGHỆ AN
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: xét xử sơ thẩm
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger