Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN ĐẠ TẺH

TỈNH LÂM ĐỒNG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 17/2024/HS-ST

Ngày: 25-4-2024

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐẠ TẺH – TỈNH LÂM ĐỒNG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Lê Tiến Dũng.

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Nông Văn Điển – Ông Phan Minh Đăng.-

Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Thành Trung – Thư ký Tòa án

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Đạ Tẻh tham gia phiên tòa: Ông

Hoàng Trung Thắng - Kiểm sát viên.

Ngày 25 tháng 4 năm 2024 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Đạ Tẻh, tỉnh Lâm Đồng xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 14/2024/TLST-HS ngày 01 tháng 4 năm 2024; theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 15/2024/QĐXXST-HS ngày 10 tháng 4 năm 2024 đối với:

* Bị cáo Đặng Thái S, sinh ngày: 21/3/1986, tại Lâm Đồng. Đăng ký NKTT và chỗ ở: Thôn H, xã M, huyện Đ, tỉnh Lâm Đồng. Nghề nghiệp: Buôn bán. Trình độ văn hóa: 12/12. Quốc tịch: Việt Nam. Dân tộc: Kinh. Tôn giáo: Không. Con ông: Đặng Văn X (đã chết). Con bà: Hoàng Thị T, sinh năm 1960. Vợ: Đỗ Thị H, sinh năm 1986 (đã ly hôn); Con: 02 con, Đặng Hoàng Gia H1, sinh năm 2010; Đặng Hoàng Thăng L, sinh năm 2014. Tiền án, Tiền sự: Không. Bị cáo bị áp dụng biện pháp tạm giữ từ ngày 16/01/2024 tại Nhà tạm giữ Công an huyện Đ, tỉnh Lâm Đồng. Đến ngày 25/01/2024, thì được áp dụng biện pháp cấm đi khỏi nơi cư trú đến nay. “Có mặt”.

* Người làm chứng:

  1. Hoàng Thị T, sinh năm: 1960.
  2. Địa chỉ: Thôn B, xã M, huyện Đ, tỉnh Lâm Đồng. “Có mặt”.

  3. Ông Ngô Văn D, sinh năm: 1960.
  4. Địa chỉ: Thôn B, xã M, huyện Đ, tỉnh Lâm Đồng. “Có mặt”.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng đầu tháng 10/2023, Đặng Thái S có nhu cầu mua pháo về để sử dụng trong dịp tết Nguyên đán 2024 nên S đã lên mạng xã hội Facebook để tìm kiếm mua pháo. Sau khi thống nhất giá mua bán, S đã đặt mua 10 hộp pháo hoa loại 88 quả/01 hộp có giá 500.000 đồng/01 hộp với số tiền 5.000.000đ; 01 hộp pháo hoa loại 100 quả/01 hộp với số tiền 700.000đ và 02 bịch pháo bị có giá là 350.000 đồng/01 bịch với số tiền 700.000đ. Tổng số tiền S mua pháo là 6.400.000đ. Sau đó, S đã cho người bán pháo địa chỉ chỗ ở của S. Khoảng 02 đến 03 ngày sau, có một người đàn ông đi xe bán tải đến giao hàng cho S nhưng S không biết là ai, S đã thanh toán tiền mua pháo là 6.400.000 đồng và tiền giao hàng là 100.000 đồng cho người này. Sau đó, S nhận pháo rồi cất giấu trong phòng ngủ của S với mục đích để sử dụng trong dịp tết Nguyên đán 2024. Đến ngày 16/01/2024, Công an xã M, huyện Đ, tỉnh Lâm Đồng tiến hành kiểm tra phòng cháy, chữa cháy tại nhà ở của bà Hoàng Thị T, trú tại Thôn H, xã M, huyện Đ, tỉnh Lâm Đồng (là mẹ đẻ của Đặng Thái S) thì phát hiện trong nhà tại phòng ngủ thứ hai có để các hộp giấy và bịch nylon nghi vấn là pháo nên Công an xã M đã thực hiện các biện pháp điều tra. Sau đó, Cơ quan CSĐT Công an huyện Đ đã tiến hành khám xét khẩn cấp nhà ở của bà Hoàng Thị TĐặng Thái S. Qua khám xét khẩn cấp đã phát hiện và tạm giữ tang vật nghi là pháo gồm: 02 thùng catton bên trong mỗi thùng có chứa 05 khối hộp có kích thước 26cm x 19cm x 10cm, trên mỗi khối hộp có nhiều hoa văn và có in chữ KS4-8811G BILION TIME và có nhiều chữ nước ngoài; 02 bịch nylon màu trong suốt có kích thước 25cm x 18cm, bên trong có chứa nhiều quả nhựa hình cầu nhiều màu sắc vàng, xanh, đỏ; 01 khối hộp có kích thước 23,5cm x 23,5cm x 10cm trên hộp có nhiều hoa văn và in chữ KS4-10011 BILION TIME và có nhiều chữ nước ngoài. Sau đó, Cơ quan CSĐT Công an huyện Đ đã lập biên bản khám xét, tạm giữ, niêm phong tang vật theo quy định và triệu tập bà Hoàng Thị T về trụ sở để làm việc. Đối với Đặng Thái S, khi được bà Hoàng Thị T điện thoại báo tin thì S cũng tự nguyện đến Cơ quan CSĐT Công an huyện Đ để làm việc. Tại Cơ quan CSĐT Công an huyện Đ, Đặng Thái S đã thừa nhận hành vi “Tàng trữ hàng cấm” như đã nêu trên.

Để có cơ sở xử lý hành vi tàng trữ pháo của Đặng Thái S. Ngày 16/01/2024, Cơ quan CSĐT - Công an huyện Đ đã có Quyết định trưng cầu giám định số 31/QĐ-ĐCSHS-KTMT trưng cầu Phòng K - Công an tỉnh L giám định khối lượng và loại pháo tạm giữ khi khám xét khẩn cấp chỗ ở của S. Tại kết luận giám định số 131/KL-KTHS ngày 24/01/2024 của Phòng K - Công an tỉnh L kết luận:

  • + 190 (Một trăm chín mươi) viên nhựa hình cầu, mỗi viên đường kính 2,7cm, có sợi dây màu xanh dẫn bên trong thân ra gửi giám định là pháo nổ. Tổng khối lượng là 0,83kg.
  • + 11 (Mười một hộp) khối hình chữ nhật, bên trong mỗi hộp có các viên giấy hình trụ tròn đồng dạng, mỗi viên có đường kính 2,3cm, cao 10cm (trong đó 10 hộp “KS4 -8811G”, mỗi hộp chứa 88 viên và 01 hộp “KS4 -10011” chứa 100 viên) gửi giám định đều là pháo có đầy đủ đặc tính của pháo nổ(có chứa thuốc pháo, khi đốt gây tiếng nổ). Tổng khối lượng là 32,4kg.

Căn cứ vào kết quả điều tra cùng tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ xác định khối lượng pháo S tàng trữ là 0,83kg + 32,4kg= 33,23kg.

Tại bản cáo trạng số 16/CT-VKSĐT ngày 29/03/2024 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Đạ Tẻh truy tố bị cáo Đặng Thái S về tội “Tàng trữ hàng cấm” theo điểm c khoản 1 Điều 191 Bộ luật hình sự.

Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Đạ Tẻh giữ nguyên quan điểm truy tố như cáo trạng và đề nghị Hội đồng xét xử:

  • * Về hình phạt: Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 191; điểm i, s khoản 1 Điều 51 và Điều 65 của Bộ luật hình sự. Xử phạt bị cáo Đặng Thái S từ 24 (Hai mươi bốn) tháng đến 30 (Ba mươi) tháng tù cho hưởng án treo, thời gian thử thách từ 48 (Bốn mươi tám) tháng đến 60 (Sáu mươi) tháng và không đề nghị áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.
  • * Ngoài ra, đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Đạ Tẻh còn đề nghị xử lý vật chứng và án phí theo quy định pháp luật.

Tại phiên tòa bị cáo đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình đúng như nội dung truy tố và nhất trí với lời luận tội của đại diện Viện kiểm sát. Bị cáo nói lời sau cùng: Bị cáo xin Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:

[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện Đ, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Đ, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra, bị cáo không có ý kiến hay khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

[2] Về hành vi phạm tội của bị cáo: Tại phiên tòa hôm nay bị cáo S đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình: Lời khai nhận của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên tòa về thời gian, địa điểm, loại pháo, khối lượng pháo mà bị cáo đã Tàng trữ. Như vậy, đã có đủ cơ sở kết luận: Hành vi của bị cáo Đặng Thái S đã đủ yếu tố cấu thành tội “Tàng trữ hàng cấm”, tội phạm và hình phạt được quy định tại điểm c khoản 1 Điều 191 của Bộ luật hình sự.

[3] Về tính chất, mức độ hành vi phạm tội: Xét hành vi của bị cáo S là hành vi nguy hiểm cho xã hội, hành vi ấy bị pháp luật nghiêm cấm, hành vi mà bị cáo đã cố ý thực hiện đã xâm phạm đến những quy định của Nhà nước về quản lý các chất cấm trong đó có pháo nổ, xâm phạm đến trật tự an toàn xã hội gây ảnh hưởng xấu đến an ninh trật tự, trật tự an toàn xã hội tại địa phương. Vì vậy, cần áp dụng một mức hình phạt nghiêm tương xứng với hành vi phạm tội mà bị cáo đã gây ra. Tuy nhiên, khi lượng hình phạt cũng cần xem xét giảm nhẹ cho bị cáo một phần vì: Bị cáo phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng; bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải. Đây là những tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được quy định tại điểm i, s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật hình sự. Ngoài ra, xét thấy bị cáo có nơi cư trú rõ ràng, bản thân bị cáo chưa có tiền án, tiền sự. Do đó xét thấy, không cần thiết phải cách ly bị cáo ra khỏi xã hội mà cho bị cáo được tự cải tạo ngoài xã hội dưới sự giám sát của chính quyền địa phương và gia đình cũng đủ tác dụng răn đe, giáo dục bị cáo thành người hữu ích mà vẫn đảm bảo sự nghiêm minh của pháp luật.

[4] Về hình phạt bổ sung: Xét thấy, cần áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo là phù hợp với quy định tại khoản 4 Điều 191 của Bộ luật hình sự.

[5] Ngoài ra, quá trình điều tra vụ án, bị cáo S khai nhận mua pháo trên mạng xã hội Facebook. Tuy nhiên, S đã làm rớt bể màn hình nên S đã vứt chiếc điện thoại di động này nên Cơ quan điều tra không thu giữ được để thu thập tài liệu, chứng cứ để xử lý đối với người bán pháo cho S. Vì vậy, Cơ quan điều tra không có cơ sở đề xử lý là phù hợp.

Đối với bà Hoàng Thị T (mẹ ruột của S), quá trình điều tra xét thấy: Việc S mua pháo về để trong nhà, bà T không biết, S cũng không nói việc mua pháo về để sử dụng. Vì vậy, Cơ quan điều tra Công an huyện Đ không xem xét xử lý là phù hợp.

[6] Về vật chứng của vụ án: Quá trình điều tra, cơ quan điều tra đã thu giữ:

  • - 01 (một) thùng giấy được dán giấy niêm phong, trên giấy niêm phong có chữ ký ghi tên “Võ Như T1”, “Lê Văn T2” và hình dấu tròn đỏ của Phòng K - Công an tỉnh L, bên trong thùng giấy có:
    • + 09 (chín) khối hộp hình chữ nhật, bên ngoài dán giấy nhiều màu có chữ nước ngoài và dòng chữ “KS4-8811G”, bên trong mỗi khối chứa 87 (tám mươi bảy) viên pháo hình trụ tròn đồng dạng, mỗi viên đường kính 2,3cm, cao 10cm được nối với nhau bằng sợi dây truyền từ trong thân ra.
    • + 01 (một) khối hộp hình chữ nhật, bên ngoài dán giấy nhiều màu có chữ nước ngoài và dòng chữ “KS4-10011”, bên trong khối chứa 98 (chín mươi tám) viên pháo hình trụ tròn đồng dạng, mỗi viên đường kính 2,3cm, cao 10cm được nối với nhau bằng sợi dây truyền từ trong thân ra.
    • + 186 (một trăm tám mươi sáu) viên nhựa hình cầu, mỗi viên có đường kính 2,7cm và có sợi dây màu xanh dẫn bên trong thân ra.

Xét thấy, các vật chứng trên là vật chứng cấm lưu hành, cần tịch thu tiêu hủy là phù hợp.

[7] Về án phí: Buộc bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

1. Tuyên bố bị cáo Đặng Thái S phạm tội “Tàng trữ hàng cấm”.

* Về hình phạt chính: Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 191; điểm i, s khoản 1 Điều 51 và Điều 65 của Bộ luật hình sự. Xử phạt bị cáo Đặng Thái S 30 (Ba mươi) tháng tù cho hưởng án treo, thời gian thử thách 60 (Sáu mươi) tháng tính từ ngày tuyên án.

Giao bị cáo S cho Ủy ban nhân dân xã M, huyện Đ, tỉnh Lâm Đồng, giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách. Gia đình bị cáo có trách nhiệm phối hợp cùng chính quyền địa phương trong việc giám sát, giáo dục bị cáo trong thời gian thử thách. Trong trường hợp người được hưởng án treo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định tại Điều 92 của luật thi hành án hình sự. Trong thời gian thử thách, nếu người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ theo quy định của Luật thi hành án hình sự 02 lần trở lên, thì Tòa án có thể quyết định buộc người đó phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo.

* Về hình phạt bổ sung: Áp dụng khoản 4 Điều 191 của Bộ luật hình sự: Xử phạt bị cáo Đặng Thái S phải nộp số tiền 20.000.000 đồng (Hai mươi triệu đồng) để nộp vào ngân sách Nhà nước.

2. Về xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 47 của Bộ luật hình sự và Điều 106 của Bộ luật tố tụng hình sự, tịch thu tiêu hủy:

  • - 01 (một) thùng giấy được dán giấy niêm phong, trên giấy niêm phong có chữ ký ghi tên “Võ Như T1”, “Lê Văn T2” và hình dấu tròn đỏ của Phòng K - Công an tỉnh L, bên trong thùng giấy có:
    • + 09 (chín) khối hộp hình chữ nhật, bên ngoài dán giấy nhiều màu có chữ nước ngoài và dòng chữ “KS4-8811G”, bên trong mỗi khối chứa 87 (tám mươi bảy) viên pháo hình trụ tròn đồng dạng, mỗi viên đường kính 2,3cm, cao 10cm được nối với nhau bằng sợi dây truyền từ trong thân ra.
    • + 01 (một) khối hộp hình chữ nhật, bên ngoài dán giấy nhiều màu có chữ nước ngoài và dòng chữ “KS4-10011”, bên trong khối chứa 98 (chín mươi tám) viên pháo hình trụ tròn đồng dạng, mỗi viên đường kính 2,3cm, cao 10cm được nối với nhau bằng sợi dây truyền từ trong thân ra.
    • + 186 (một trăm tám mươi sáu) viên nhựa hình cầu, mỗi viên có đường kính 2,7cm và có sợi dây màu xanh dẫn bên trong thân ra.

Chi tiết của các vật chứng trên được mô tả tại biên bản giao nhận vật chứng lập ngày 01/4/2024 giữa cơ quan điều tra và Chi cục Thi hành án dân sự huyện Đạ Tẻh.

3. Về án phí: Áp dụng khoản 2 Điều 136 của Bộ luật tố tụng hình sự và Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về án phí, lệ phí Tòa án. Buộc bị cáo S phải nộp 200.000 đồng tiền án phí hình sự sơ thẩm.

Trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án, bị cáo có quyền kháng cáo bản án lên Tòa án nhân dân tỉnh Lâm Đồng xét xử theo thủ tục phúc thẩm.

Nơi nhận:

  • - TAND tỉnh Lâm Đồng;
  • - VKSND tỉnh Lâm Đồng;
  • - VKSND huyện Đạ Tẻh;
  • - Công an huyện Đạ Tẻh;
  • - Bị cáo;
  • - Thi hành án dân sự;
  • - Lưu HS.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Thẩm phán – Chủ toạ phiên toà

Lê Tiến Dũng

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 17/2024/HS-ST ngày 25/04/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐẠ TẺH – TỈNH LÂM ĐỒNG về hình sự (tàng trữ hàng cấm)

  • Số bản án: 17/2024/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Hình sự (Tàng trữ hàng cấm)
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 25/04/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐẠ TẺH – TỈNH LÂM ĐỒNG
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Tàng trữ hàng cấm
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger