Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

THÀNH PHỐ THANH HÓA

TỈNH THANH HÓA

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

 

Bản án số: 17/2024/DS-ST.

Ngày: 24 - 4 - 2024.

V/v: “Tranh chấp hợp đồng vay tài sản”.

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THANH HÓA, TỈNH THANH HÓA

– Với thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Bà Ninh Thị Khánh Tân

Các Hội thẩm nhân dân: Bà Nguyễn Thị Thưởng, Bà Nguyễn Thị Thanh Thủy

– Thư ký Tòa án ghi biên bản phiên tòa: Bà Hà Thị Yến – Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Thanh Hóa, tỉnh Thanh Hóa.

– Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thanh Hóa tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Văn Quang – Kiểm sát viên.

Ngày 24/4/2024, tại trụ sở Toà án nhân dân thành phố Thanh Hóa, tỉnh Thanh Hóa đưa ra xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số 34/2023/TLST-DS ngày 07 tháng 11 năm 2023 về việc “Tranh chấp hợp đồng vay tài sản” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 77/2024/QĐXXST-DS ngày 10/4/2024, giữa các đương sự:

Nguyên đơn: Bà Nguyễn Thị C, sinh năm 1975

Địa chỉ: Thôn C, Đ, huyện G, thành phố Hà Nội

Bị đơn: Bà Đỗ Thị Q, sinh năm 1985

Địa chỉ thường trú: Số A, L, phường Đ, thành phố T, tỉnh Thanh Hóa.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

– Theo đơn khởi kiện, quá trình giải quyết vụ án cũng như tại phiên tòa, nguyên đơn Bà Nguyễn Thị C trình bày:

Bà Nguyễn Thị C và bà Đỗ Thị Q là bạn hàng với nhau. Vào hồi 18 giờ 55 phút ngày 28 tháng 1 năm 2022, bà Q gọi điện thoại và nhắn tin nhờ bà C vay hộ số tiền 200.000.000 đồng (Hai trăm triệu đồng chẵn) để bà Q trả tiền mua xe ô tô. Do hai bên có quen biết từ lâu nên bà C đã đồng ý vay tiền hộ bà Q. Bà Q hẹn 11 giờ ngày 30 Tết sẽ trả lại cho bà C, hai bên thỏa thuận vay không lãi suất. Số tiền này bà C chia làm 6 lần chuyển, 5 lần đầu tiên bà C chuyển khoản, lần thứ 6 thì bà C đưa tiền mặt tại chợ T1. Giữa bà C và bà Q không viết giấy vay tiền mà chỉ nhắn tin qua điện thoại.

Bà Q hẹn ngày 30 Tết âm lịch sẽ trả nhưng đến ngày hẹn mà bà Q không trả và hẹn tiếp đến ngày 10/03/2022. Đến ngày 10/03/2022 bà Q vẫn không trả tiền cho bà C. Đến ngày 08/08/2023, bà Q đã trả được 25.000.000đ (Hai mươi lăm triệu đồng). Sau đó bà Q tiếp tục hứa hẹn ra viện sẽ trả hết số tiền nợ cho bà C nhưng hết thời gian hẹn bà Q vẫn không trả tiền cho bà C.

Nay bà C khởi kiện đề nghị Tòa án buộc bà Q phải trả cho bà Chữ số tiền 175.000.000đ (Một trăm bảy mươi lăm triệu đồng), bà C không yêu cầu bà Q trả lãi.

– Tại bản tự khai, biên bản hòa giải bà Đỗ Thị Q trình bày:

Khoảng tháng 01 năm 2022, do cần tiền để trả nợ cho một số người quen nên bà Q có hỏi vay bà Chữ số tiền 200.000.000đ (Hai trăm triệu đồng chẵn). Bà C có nói với bà Q rằng số tiền đó bà C vay của một người bạn tên Nguyễn Hồng Y cho bà Q mượn nhưng bà Q phải trả lãi cho bà Y số tiền 6.000.000đ (Sáu triệu đồng chẵn), bà Q đồng ý với đề nghị trên. Đến ngày 28 và 29 tháng 01 năm 2022 bà C chuyển khoản cho bà Q thông qua tài khoản ngân hàng T2 số tài khoản 19020721901027 với số tiền 194.000.000đ (Một trăm chín mươi tư triệu đồng) và 6.000.000 (Sáu triệu đồng) còn lại bà C đưa tiền mặt, tổng số tiền là 200.000.000đ (Hai trăm triệu đồng). Bà Q không biết bà Y là ai và cũng không biết bà C có vay tiền của bà Y để cho bà Q vay hay không mà bà Q chỉ vay trực tiếp số tiền 200.000.000đ từ bà C. Khi đó bà C có trao đổi với bà Q và bảo bà Q nhắn tin lý do vay tiền là để mua xe ô tô, vì để được vay tiền nên bà Q đồng ý làm theo và không thắc mắc gì. Sau đó bà Q thực hiện nhắn tin cho bà C với nội dung: “Chị T ơi, chị vay giúp em 100 - 200 triệu, em cần tiền để trả tiền xe ô tô. Đúng 11 giờ ngày 30 Tết em chuyển khoản trả lại cho chị nhé”. Sau đó đều đặn hàng tháng bà Q trả tiền lãi mỗi tháng 6.000.000đ vào tài khoản ngân hàng của bà Nguyễn Thị C tại ngân hàng T2, do đã thỏa thuận từ trước nên khi chuyển tiền bà Q chỉ ghi nội dung chuyển khoản là “Đỗ Thị Q chuyển tiền Nguyễn Thị C”. Khi thỏa thuận vay tiền và lãi suất thì cả 2 bên không viết giấy vay tiền mà chỉ trao đổi trực tiếp qua điện thoại nên bà Q không có chứng cứ gì về việc thanh toán lãi hàng tháng để nộp cho Tòa án.

Đến tháng 3 năm 2022, bà C có 1 lần nhắn tin cho bà Q yêu cầu bà Q trả lại tiền nhưng sau đó không nói gì thêm nên bà Q vẫn trả lãi hàng tháng cho đến tháng 7 năm 2023.

Sau đó bà Q mất khả năng thanh toán, cùng thời gian đó, bà Q bị tai nạn nghiêm trọng phải nằm viện và điều trị. Ngày 08/08/2023 bà C có đến bệnh viện nơi bà Q đang điều trị để đòi tiền, gia đình bà Q đã thu xếp trả cho bà C và bà Q đã viết giấy biên nhận đã trả số tiền số tiền 25.000.000đ, số tiền nợ gốc còn lại là 175.000.000đ. Bà Q thừa nhận bản photo giấy biên nhận trả tiền mà bà C nộp theo đơn khởi kiện là do bà Q viết và ký.

Sau khi làm việc tại Tòa án nhân dân thành phố Thanh Hóa về nội dung khởi kiện của bà C, đến ngày 04/03/2024, bà Q đã cố gắng thu xếp và đã trả được cho bà Chữ số tiền 30.000.000₫ (Ba mươi triệu đồng chẵn) bằng hình thức chuyển khoản từ tài khoản ngân hàng V – Chủ tài khoản là Phạm Thị Q1 (mẹ bà Q) đến tài khoản ngân hàng T2 số 19036259935011 – Chủ tài khoản là Nguyễn Thị C. Đến nay, số tiền nợ gốc mà bà Q còn nợ bà C là 145.000.000đ (Một trăm bốn mươi lăm triệu đồng).

Hiện này Bà Q bà đang gặp khó khăn, bản thân bà và gia đình mất khả năng thanh toán, bà cũng bị tai nạn nghiêm trọng. Bà Q thừa nhận số tiền còn nợ bà C 145.000.000đ và mong muốn thu xếp trả được hết khoản nợ trên. Tuy nhiên hiện nay gia đình bà đã mất khả năng thanh toán, không còn tài sản nào khác, bản thân bà Q ốm đau, bệnh tật và không có khả năng lao động nên bà Q đề nghị Tòa án và bà C cho bà Q thời gian để bà Q thu xếp thanh toán khoản nợ cho bà C trong khả năng của mình.

Tại phiên tòa,

Nguyên đơn bà Nguyễn Thị C xác nhận việc trong quá trình giải quyết tại tòa án bà Q đã trả cho bà C thêm 30.000.000 đồng và tại phiên tòa hôm nay bà C thay đổi một phần yêu cầu khởi kiện, yêu cầu bà Đỗ Thị Q phải trả cho bà C 145.000.000đ tiền gốc, không yêu cầu tính lãi.

Bà Đỗ Thị Q thừa nhận số tiền còn nợ bà Nguyễn Thị Chữ số tiền 145.000.000đ tiền gốc, tuy nhiên hiện nay bà Q chưa có tiền để trả cho bà C nên đề nghị Tòa án giải quyết theo quy định của pháp luật.

Ý kiến đại diện Viện kiểm sát: Về việc tuân theo pháp luật tố tụng: trong quá trình giải quyết vụ án kể từ khi thụ lý đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án: Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa đã tuân thủ đúng các quy định của Bộ luật tố tụng dân sự; nguyên đơn, người tham gia tố tụng khác thực hiện đầy đủ quyền và nghĩa vụ của mình; bị đơn không thực hiện đầy đủ quyền và nghĩa vụ của mình theo quy định của Bộ luật tố tụng dân sự. Về nội dung: căn cứ các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án, lời khai của đương sự tại phiên tòa, đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ Bộ luật dân sự, chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và được thẩm tra tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

[1] Về tố tụng: Bà Nguyễn Thị C khởi kiện yêu cầu Bà Đỗ Thị Q, Địa chỉ thường trú: Số A, L, phường Đ, thành phố T, tỉnh Thanh Hóa thực hiện nghĩa vụ trả nợ là tranh chấp hợp đồng vay tài sản. Vì vậy, theo quy định tại khoản 3 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự, vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân thành phố Thanh Hóa.

[2] Xét yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn:

[2.1].Về nghĩa vụ trả tiền và xác định số tiền nợ gốc: Bà Q thừa nhận khoảng tháng 01/2022 bà có vay của bà Chữ số tiền 200.000.000₫ hẹn ngày 30 Tết sẽ trả, hàng tháng bà Q phải trả lãi 6.000.000 đồng/tháng cho số tiền vay nói trên tuy nhiên bà Q không có tài liệu chứng cứ gì để nộp cho Tòa án để chứng minh. Khi hai bên vay tiền không viết giấy vay, bà chỉ nhắn tin theo sự hướng dẫn của bà C là: vay để mua xe ô tô và để xác nhận khoản vay. Bản thân bà không biết bà Y là ai, bà C có vay tiền của bà Y đưa cho bà hay không thì bà không biết. Ngày 08/8/2023 bà Q đã trả cho bà C 25.000.000 đồng tiền gốc và bà Q xác nhận việc đã viết giấy biên nhận trả tiền trong đó xác định số tiền nợ gốc còn lại là 175.000.000đ. Đến ngày 04/3/2024 bà Q tiếp tục trả cho bà C 30.000.000 đồng, số tiền còn nợ hiện nay là 145.000.000 đồng.

Quá trình tòa án giải quyết vụ án, đã Thông báo về phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải 03 lần để hòa giải cho các bên nhưng bà C đều vắng mặt không tham gia hòa giải mà không có lý do chính đáng. Tại phiên tòa hôm nay cả bà Q và bà C đều xác nhận số tiền bà Q còn nợ bà C là 145.000.000 đồng.

Bà C nại ra bà vay tiền của bà Nguyễn Hồng Y để cho bà Q vay nhưng bà C không cung cấp địa chỉ chính xác của bà Y, không đề nghị Tòa án triệu tập bà Y. Bản thân bà Q không biết bà Y là ai, chỉ giao dịch vay mượn và trả tiền với bà C. Tại phiên tòa bà C yêu cầu bà Q phải trả số tiền 145.000.000đ cho bà C, cả bà C và bà Q đều xác định và đề nghị Tòa án giải quyết việc vay nợ giữa hai bà. Còn việc bà C có vay tiền của bà Y như thế nào thì bà C tự giải quyết.

[2.2]. Do bà C không yêu cầu tính lãi nên Hội đồng xét xử không xem xét.

[3] Về án phí: yêu cầu của nguyên đơn được chấp nhận nên bị đơn phải chịu án phí theo quy định pháp luật.

Vì các lẽ trên:

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ: khoản 3 Điều 26; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39; Điều 144; Điều 147; Điều 235; Điều 264; Điều 266; Điều 271; Điều 273 của Bộ luật tố tụng dân sự.

Điều 463, 466 của Bộ luật dân sự;

Điều 27 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án; Điểm b, tiểu mục 1.3 mục 1, phần II danh mục mức án phí, lệ phí Tòa án ban hành kèm theo Nghị quyết.

Xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Nguyễn Thị C.

Buộc bà Đỗ Thị Q phải trả cho bà Chữ số tiền gốc còn nợ là 145.000.000đ (một trăm bốn mươi lăm triệu đồng)

Kể từ ngày bản án có hiệu lực pháp luật, người được thi hành án có đơn yêu cầu thi hành án số tiền nêu trên, nếu bên phải thi hành án không thi hành hoặc thi hành không đầy đủ thì hàng tháng còn phải chịu trả lãi đối với số tiền chậm trả tương ứng với thời gian chậm trả theo lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 468 của Bộ luật Dân sự.

Về án phí: bà Đỗ Thị Q phải nộp 7.250.000đ (bảy triệu hai trăm năm mươi nghìn đồng) án phí dân sự sơ thẩm.

Trả lại cho bà Nguyễn Thị Chữ số tiền tạm ứng án phí: 4.375.000 đồng theo Biên lai thu tạm ứng án phí số AA/2022/0002890 ngày 06/11/2023 của Chi cục thi hành án dân sự thành phố Thanh Hóa.

Về quyền kháng cáo: các đương sự được quyền kháng cáo bản án sơ thẩm trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án.

Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a và 9 Luật Thi hành án dân sự; Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

CÁC HỘI THẨM NHÂN DÂN

(Ký tên)

CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

(Ký tên)

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 17/2024/DS-ST ngày 24/04/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THANH HÓA, TỈNH THANH HÓA về tranh chấp hợp đồng vay tài sản

  • Số bản án: 17/2024/DS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hợp đồng vay tài sản
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 24/04/2024
  • Loại vụ/việc: Dân sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THANH HÓA, TỈNH THANH HÓA
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Tranh chấp hợp đồng vay tài sản
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger