|
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ LONG KHÁNH TỈNH ĐỒNG NAI Bản án số: 17/2024/HNGĐ-ST Ngày: 24-4-2024 V/v “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con” |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ LONG KHÁNH, TỈNH ĐỒNG NAI
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Hoàng Thị Đào
Các Hội thẩm nhân dân: 1. Bà Nguyễn Thị Bích Thủy
2. Bà Lương Thị Bảo Thùy.
Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Quang Trực - Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Long Khánh, tỉnh Đồng Nai.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Long Khánh, tỉnh Đồng Nai tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Văn Khánh - Kiểm sát viên.
Ngày 24 tháng 4 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Long Khánh, tỉnh Đồng Nai xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số 691/2023/TLST-HNGĐ ngày 25 tháng 12 năm 2023, về việc “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 40/2024/QĐXXST-HNGĐ ngày 04 tháng 4 năm 2024, giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Bà Đỗ Thị T, sinh năm 1989. Hộ khẩu thường trú: Hẻm I, khu phố B, phường B, thành phố L, tỉnh Đồng Nai. Nơi cư trú: Ấp C, xã T, huyện C, tỉnh Đồng Nai.
- Bị đơn: Ông Đặng Văn C, sinh năm 1987. Nơi cư trú: Hẻm I, khu phố B, phường B, thành phố L, tỉnh Đồng Nai. Hiện nay, đang bị tạm giam tại Nhà tạm giữ Công an thành phố L.
(Bà T và ông C có đơn đề nghị xét xử vắng mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Tại đơn khởi kiện đề ngày 19-12-2023, các lời khai trong quá trình chuẩn bị xét xử nguyên đơn bà Đỗ Thị T trình bày:
Nguyên đơn bà Đỗ Thị T thừa nhận bà và chồng là Đặng Văn C kết hôn với nhau năm 2009, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã S, huyện C, tỉnh Đồng Nai, được cấp giấy chứng nhận đăng ký kết hôn ngày ngày 20/7/2009. Theo bà T, đây là lần kết hôn đầu tiên của bà và ông C.
Sau khi kết hôn, vợ chồng chung sống với nhau ở ấp F, xã S, huyện C, tỉnh Đồng Nai. Thời gian đầu, vợ chồng chung sống rất hạnh phúc. Đến năm 2019, vợ chồng bắt đầu phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân là do ông Cù thường tụ tập bạn bè sử dụng rượu bia, không quan tâm đến vợ con, không phụ bà T chăm sóc, nuôi dạy con cái. Đến tháng 4 năm 2020, do vợ chồng xảy ra mâu thuẫn không thể tiếp tục chung sống với nhau được nữa nên bà T về sinh sống tại ấp C, xã T, huyện C, tỉnh Đồng Nai. Ông C đến khu phố B, phường B, thành phố L, tỉnh Đồng Nai sinh sống. Từ khi không còn chung sống với nhau, ông C không còn quan tâm gì đến vợ con. Do vậy, bà yêu cầu ly hôn với ông C để ổn định cuộc sống riêng.
Về con chung và cấp dưỡng nuôi con: Theo bà T, vợ chồng có 02 người con là Đặng Văn M, sinh ngày 25/3/2010 và Đặng Văn T1, sinh ngày 28/10/2012. Khi ly hôn, bà T yêu cầu được trực tiếp nuôi dưỡng 02 con, không yêu cầu ông C cấp dưỡng nuôi con.
Về tài sản chung, nợ chung: Bà T xác nhận vợ chồng không có tài sản chung, không có nợ chung.
Quá trình chuẩn bị xét xử, bị đơn ông Đặng Văn C trình bày:
Về quan hệ hôn nhân: Ông C thừa nhận thời gian đăng ký kết hôn, mâu thuẫn gia đình như bà T trình bày là đúng. Do vợ chồng không còn tình cảm nên đã không còn chung sống từ năm 2020 đến nay. Nay, bà T yêu cầu ông C đồng ý.
Về con chung và cấp dưỡng nuôi con: Ông C thừa nhận vợ chồng có 02 người con là Đặng Văn M, sinh ngày 25/3/2010 và Đặng Văn T1, sinh ngày 28/10/2012. Khi ly hôn, ông C đồng ý giao con 02 con cho bà T trực tiếp, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục. Tạm thời ông không cấp dưỡng nuôi con.
Về tài sản chung, nợ chung: Ông C xác nhận vợ chồng không có tài sản chung, không có nợ chung.
Do, hiện nay ông C đang bị tạm giam nên không thể đến Tòa án tham gia các buổi hòa giải được nên đề nghị Tòa án giải quyết vụ án theo quy định.
Phát biểu của Đại diện Viện kiểm sát tham gia phiên tòa:
Về thủ tục tố tụng: Thẩm phán và Hội đồng xét xử sơ thẩm đã tuân thủ đúng quy định của pháp luật từ khi thụ lý vụ án đến khi xét xử vụ án, cũng như tại phiên tòa hôm nay, đảm bảo khách quan, vô tư, đúng quy định của pháp luật.
Về đường lối giải quyết vụ án: Nhận thấy mâu thuẫn vợ chồng bà Đỗ Thị T và Đặng Văn C đã trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được, nên đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà T, cho bà T và ông C ly hôn.
Về con chung: Ghi nhận ý kiến của cháu Đặng Văn T1 và Đặng Văn M đề nghị giao 02 người con chung cho T trực tiếp nuôi dưỡng. Tạm thời ông C không phải thực hiện nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con do bà T không yêu cầu.
Về tài sản chung, nợ chung: Các đương sự khai không có, không yêu cầu giải quyết nên không xem xét.
Về án phí: Bà T chịu án phí theo quy định của pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Căn cứ vào tài liệu, chứng cứ đã được xem xét tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên tòa:
- Về thủ tục tố tụng: Bà Đỗ Thị T khởi kiện yêu cầu ly hôn với Đặng Văn C và tranh chấp về nuôi con là cháu Đặng Văn M, sinh ngày 25/3/2010 và Đặng Văn T1, sinh ngày 28/10/2012. Vì vậy, quan hệ pháp luật tranh chấp cần giải quyết trong vụ án là: “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con” theo quy định tại khoản 1 Điều 28 của Bộ luật Tố tụng dân sự; bị đơn ông Đặng Văn C có nơi cư trú tại: khu phố B, phường B, thành phố L, tỉnh Đồng Nai nên vụ án thuộc thẩm quyền của Tòa án nhân dân thành phố Long Khánh theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự.
- Bà T và ông C có đơn đề nghị xét xử vắng mặt nên căn cứ khoản 1 Điều 227 của Bộ luật Tố tụng dân sự, Tòa án tiến hành xét xử vắng mặt các đương sự trong vụ án.
- Về quan hệ hôn nhân: Quan hệ hôn nhân giữa bà Đỗ Thị T và ông Đặng Văn C được xác lập trên cơ sở tự nguyện, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã S, huyện C, tỉnh Đồng Nai, được cấp giấy chứng nhận đăng ký kết hôn ngày ngày 20/7/2009. Do đó, đây là hôn nhân hợp pháp, được pháp luật ghi nhận và bảo vệ.
- Xét yêu cầu ly hôn của nguyên đơn: Bà T cho rằng quá trình chung sống vợ chồng xảy ra nhiều mâu thuẫn do bất đồng quan điểm, nguyên nhân là do ông Cù thường tụ tập bạn bè sử dụng rượu bia, không quan tâm đến vợ con, không phụ bà T chăm sóc, nuôi dạy con cái, vợ chồng không còn chung sống với nhau từ năm 2020 đến nay. Từ khi không còn chung sống với nhau, ông C không còn quan tâm gì đến vợ con điều này được ông C thừa nhận, ông đồng ý ly hôn nhưng do hiện nay ông đang bị tạm giam nên không thể đến Tòa án tham gia phiên hòa giải được nên Tòa án tiến hành xét xử vụ án theo quy định. Như vậy, có đủ căn cứ xác định mâu thuẫn giữa bà T đã thực đã thực sự trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được, bà T và ông C đã không còn chung sống từ năm 2020 đến nay đã vi phạm nghĩa vụ sống chung của vợ chồng được quy định tại Điều 19 Luật Hôn nhân và Gia đình. Nên yêu cầu ly hôn của bà T là có căn cứ chấp nhận.
- Về con chung và nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con: Khi ly hôn, bà T yêu cầu được trực tiếp nuôi dưỡng 02 con chung, ông C đồng ý, cháu M và cháu T1 cũng có nguyện vọng sống cùng với mẹ nên giao cháu Đặng Văn M, sinh ngày 25/3/2010 và Đặng Văn T1, sinh ngày 28/10/2012 cho bà T trực tiếp, chăm sóc, nuôi dưỡng là phù hợp. Về cấp dưỡng nuôi con, do bà T không yêu cầu nên không xem xét.
- Về tài sản chung, nợ chung: Các đương sự khai không có nên không xem xét.
- Về án phí: Bà T là nguyên đơn trong vụ án ly hôn, do đó bà T phải nộp tiền án phí dân sự sơ thẩm về ly hôn.
- Phát biểu của Kiểm sát viên tại phiên tòa về đường lối giải quyết vụ án là phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử, nên chấp nhận.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào:
- Khoản 1 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39; khoản 4 Điều 147; khoản 1, 3 Điều 228; Điều 235 và Điều 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự;
- Các Điều 9; Điều 11 Luật hôn nhân và Gia đình năm 2000; Điều 51, 56, 69, 70, 81, 82, 83, 84; 131 của Luật Hôn nhân và Gia đình 2014;
- Điểm a khoản 5 Điều 27 của Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí lệ phí Tòa án.
Tuyên xử:
Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Đỗ Thị T về việc “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con” đối với ông Đặng Văn C.
- Về quan hệ hôn nhân: Cho bà Đỗ Thị T và ông Đặng Văn C ly hôn.
-
Về con chung và cấp dưỡng nuôi con: Giao cháu Đặng Văn M, sinh ngày 25/3/2010 và Đặng Văn T1, sinh ngày 28/10/2012 cho bà T trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục. Tạm thời ông C không phải cấp dưỡng nuôi con do bà T không yêu cầu.
Người không trực tiếp nuôi con có quyền đi lại thăm nom, chăm sóc và giáo dục con chung mà không ai được quyền cản trở. Vì lợi ích của con, khi có yêu cầu, Tòa án có thể quyết định thay đổi người trực tiếp nuôi con, cấp dưỡng hoặc thay đổi mức cấp dưỡng nuôi con theo quy định của pháp luật.
- Về tài sản chung, nợ chung: Các đương sự khai không có, nên không xem xét.
- Về án phí: Bà Đỗ Thị T phải chịu 300.000₫ (Ba trăm nghìn đồng) án phí dân sự sơ thẩm về ly hôn, được khấu trừ vào số tiền 300.000đ (Ba trăm nghìn đồng) bà T đã nộp tạm ứng theo biên lai thu số 0004818 ngày 19-12-2023 của Chi cục Thi hành án Dân sự thành phố Long Khánh, tỉnh Đồng Nai. Bà T đã nộp đủ án phí.
- Người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự năm 2008 (sửa đổi, bổ sung năm 2014).
- Về quyền kháng cáo: Các đương sự có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 (Mười lăm) ngày kể từ ngày bản án được tống đạt hợp lệ.
|
Nơi nhận:
|
THAY MẶT HỘI ĐỒNG XÉT XỬ THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Hoàng Thị Đào |
Bản án số 17/2024/HNGĐ-ST ngày 24/04/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ LONG KHÁNH, TỈNH ĐỒNG NAI về ly hôn, tranh chấp về nuôi con
- Số bản án: 17/2024/HNGĐ-ST
- Quan hệ pháp luật: Ly hôn, tranh chấp về nuôi con
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 24/04/2024
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ LONG KHÁNH, TỈNH ĐỒNG NAI
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Đỗ Thị Tươi ly hôn
