|
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN QUAN HÓA TỈNH THANH HOÁ |
CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
|
Bản án số: 17/2024/HS-ST Ngày 24/4/2024. |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN QUAN HÓA, TỈNH THANH HOÁ
Với thành phần xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Ngô Thị Thanh
Hội thẩm nhân dân: Ông Hoàng Văn Hùng và ông Nguyễn Văn Mừng.
Thư ký phiên toà: Ông Nguyễn Trọng Tiến - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Quan Hóa, tỉnh Thanh Hóa.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Quan Hóa tham gia phiên tòa: Ông Hà Xuân Trường - Kiểm sát viên.
Ngày 24/4/2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Quan Hóa, tỉnh Thanh Hoá, xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 13/2024/TLST-HS ngày 11/03/2024, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 16/2024/QĐXXST-HS ngày 10/04/2024, đối với bị cáo:
Lò Văn Q, sinh năm: 1987. Nơi cư trú: Bản Nót, xã N, huyện Q, tỉnh Thanh Hóa. Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Thái; Tôn giáo: Không. Trình độ học vấn: không biết chữ. Nghề nghiệp: Lao động tự do. Bố: Lò Văn H, sinh năm: 1960. Mẹ: Vi Thị Q1, sinh năm 1965. Vợ: Lò Thị Đ, sinh năm: 1986. Có 02 người con, lớn nhất sinh năm 2007, nhỏ nhất sinh năm 2008. Nơi cư trú của B, M, vợ và các con bị cáo: Bản Nót, xã N, huyện Q, tỉnh Thanh Hóa.
Tiền án; Tiền sự: Không. Bị cáo tại ngoại. Có mặt tại phiên tòa.
Người bào chữa cho bị cáo: Bà Lê Thu H1 - Trợ giúp viên pháp lý - Trung tâm Trợ giúp pháp lý Nhà nước tỉnh T. Vắng mặt có lý do.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Vào khoảng năm 2019 trên đường đi từ huyện Q về huyện Q, bị cáo đã gặp và mua của một người đàn ông lạ mặt 02 khẩu súng kíp với giá 1.000.000đ (Một triệu đồng) để về đi săn bắn. Cũng trong năm 2019 bị cáo đi lên huyện M tìm và
2
mua được của một người đàn ông lạ mặt một gói nhỏ bên trong chứa thuốc súng và hạt nổ với giá 50.000đ (Năm mươi nghìn đồng) mang về sử dụng vào mục đích săn bắn thú rừng. Sau đó bị cáo đã sử dụng một ít, còn lại cất giấu trên gác bếp nơi mình ở. Khoảng 17h00' ngày 27/12/2023, Công an huyện Q, tỉnh Thanh Hóa tiến hành kiểm tra nhân khẩu hộ gia đình bị cáo. Trong quá trình kiểm tra đã phát hiện tại gác bếp chỗ ở của bị cáo có 02 khẩu súng, 01 lọ nhựa bên trong chứa các viên kim loại màu đen (Nghi là đạn chì), 01 lọ nhựa bên trong chứa 03 vỉ màu cam chứa nhiều viên và một số viên đã tách rời (Nghi là hạt nổ), 01 túi ni lon màu trắng bên trong chứa các chất bột màu đen và 06 ống tre bên trong chứa chất bột màu đen (Đều nghi là thuốc nổ). Công an huyện Q đã tiến hành lập biên bản sự việc, thu giữ số vật chứng nêu trên và tiến hành niêm phong theo quy định.
Tại bản Kết luận giám định số 332/KL-KTHS ngày 23/01/2024 của Phòng K (PC09) Công an tỉnh T kết luận:
- Chất bột màu đen trong túi nilon màu trắng là thuốc nổ, loại thuốc nổ đen - Thuộc vật liệu nổ. Tổng khối lượng là 72g (Bảy hai gam).
- Chất bột màu đen bên trong 06 ống tre được đậy nắp bằng bùi nhùi làm từ gỗ tre là thuốc nổ, loại thuốc nổ đen - Thuộc vật liệu nổ. Tổng khối lượng là 18g (Mười tám gam).
- 69 (Sáu chín) hạt hình tròn, đường kính mỗi hạt 0,5 cm, bên trong lọ nhựa đều là hạt nổ - thuộc phụ kiện nổ trong nhóm Vật liệu nổ.
Bản cáo trạng số 19/CT-VKSTH-P1 ngày 04/03/2024 của Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Thanh Hóa đã truy tố Lò Văn Q về tội: “Tàng trữ trái phép vật liệu nổ” theo khoản 1 Điều 305 của Bộ luật Hình sự.
Ngày 04/3/2024 Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Thanh Hóa đã Quyết định phân công cho Viện kiểm sát nhân dân huyện Quan Hóa, tỉnh Thanh Hóa thực hành quyền công tố, kiểm sát xét xử đối với vụ án Lò Văn Q.
Tại phiên tòa, bị cáo xác nhận trong quá trình điều tra, truy tố, bị cáo không bị Cơ quan tiến hành tố tụng sử dụng biện pháp ép cung, bức cung hay nhục hình, bị cáo nhận thức được việc tàng trữ trái phép vật liệu nổ là vi phạm pháp luật, nhưng muốn có công cụ để săn bắn thú rừng làm thức ăn nên đã phạm tội, ngoài ra không có mục đích nào khác. Bị cáo thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội như bản Cáo trạng đã nêu là đúng, không khai báo thêm tình tiết mới.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Quan Hóa tranh luận và luận tội: Trong quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa, bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, bị cáo là người dân tộc thiểu số, sinh sống từ nhỏ ở vùng có điều
3
kiện đặc biệt khó khăn, gia đình thuộc hộ nghèo, từ nhỏ đã không được đi học nên không biết chữ, bị cáo đã đầu thú khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình. Vì vậy, đại diện Viện kiểm sát vẫn giữ nguyên quan điểm truy tố Bị cáo theo toàn bộ nội dung bản Cáo trạng và đề nghị Hội đồng xét xử, áp dụng: Khoản 1 Điều 305; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 65 Bộ luật hình sự; Điểm a, c khoản 2 Điều 106; khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự; điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội về án phí, lệ phí Tòa án.
Tuyên bố: Lò Văn Quy phạm tội “Tàng trữ trái phép vật liệu nổ”.
Xử phạt bị cáo từ 12 đến 15 tháng tù, cho hưởng án treo, thời hạn thử thách theo quy định của pháp luật, giao bị cáo cho chính quyền địa phương giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách. Không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.
Tịch thu, giao cho Bộ chỉ huy quân sự tỉnh T xử lý 84g (tám tư gam) thuốc nổ, loại thuốc nổ đen - Thuộc vật liệu nổ và 64 (Sáu tư) hạt nổ - thuộc phụ kiện nổ trong nhóm Vật liệu nổ. Là vật chứng vụ án còn lại sau giám định, hiện đang được bảo quản tại Doanh nghiệp tư nhân L, phường A, thành phố T, tỉnh Thanh Hóa.
Bị cáo thuộc hộ nghèo nên đề nghị miễn án phí hình sự sơ thẩm cho bị cáo.
Người bào chữa cho bị cáo vắng mặt nhưng có bản luận cứ bào chữa. Người bào chữa đồng ý với quan điểm truy tố của VKS về tội danh và các điều luật áp dụng như bản Cáo trạng nêu, đề nghị HĐXX: Áp dụng tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 BLHS, vì quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; Bị cáo là người dân tộc thiểu số, sinh sống ở vùng có điều kiện Kinh tế - Xã hội đặc biệt khó khăn; Bị cáo thuộc hộ nghèo, không được đi học nên không biết chữ, đề nghị HĐXX miễn án phí cho bị cáo và không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền mà xem xét xử bị cáo mức án thấp nhất và cho bị cáo được hưởng án treo, tạo điều kiện cho bị cáo yên tâm cải tạo, bản thân trở thành công dân có ích.
Bị cáo đồng tình với luận cứ bào chữa, không tranh luận gì với đại diện VKS. Bị cáo đã nhận thức được hành vi phạm tội của mình.
Lời nói sau cùng của bị cáo: Bị cáo biết hành vi của mình là vi phạm pháp luật, đề nghị HĐXX xử phạt bị cáo ở mức hình phạt thấp nhất và cho bị cáo xin được hưởng án treo, bị cáo hứa sẽ không vi phạm pháp luật, để bị cáo có cơ hội sữa chữa lỗi lầm của bản thân.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
4
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Phân tích tính hợp pháp của các hành vi, quyết định tố tụng: Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan An ninh điều tra Công an tỉnh T, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Thanh Hóa, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, không có người nào có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
[2] Về tội danh: Trong quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa hôm nay, bị cáo đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình. Lời khai nhận của bị cáo phù hợp với các tài liệu, chứng cứ thu thập được trong hồ sơ vụ án; Cáo trạng của Viện kiểm sát truy tố, lời luận tội của Kiểm sát viên, kết luận giám định và kết quả tranh luận tại phiên tòa, thể hiện: Khoảng 17h00' ngày 27/12/2023, Công an huyện Q, tỉnh Thanh Hóa đã phát hiện bị cáo cất giấu 90g thuốc nổ và 69 hạt nổ đều thuộc Vật liệu nổ ở gác bếp tại nơi ở của bị cáo, bị cáo khai mục đích làm đạn để săn bắn thú rừng. Lời khai nhận của bị cáo phù hợp về thời gian, không gian, địa điểm và hiện trường nơi xảy ra vụ án, phù hợp với biên bản khám xét, thu giữ, vật chứng đã thu giữ và các tài liệu, chứng cứ khác đã được thu thập trong hồ sơ vụ án và đã được tranh tụng tại phiên tòa. Vì vậy, Hội đồng xét xử có đủ căn cứ để khẳng định bị cáo đã phạm tội “Tàng trữ trái phép vật liệu nổ” được quy định tại khoản 1 Điều 305 Bộ luật hình sự, đúng như tội danh mà Viện kiểm sát đã truy tố, quan điểm luận tội của Kiểm sát viên và lời khai nhận tội của bị cáo.
[3] Xét tính chất, mức độ hành vi và hậu quả thấy rằng: Hiện nay trên địa bàn huyện Q, tình trạng tàng trữ trái phép vật liệu nổ đang diễn ra khá phức tạp và có chiều hướng gia tăng. Bị cáo là người đủ năng lực chịu trách nhiệm hình sự, nên phải nhận thức và biết được thuốc nổ và hạt nổ là mặt hàng được nhà nước quản lý, nhằm bảo vệ an ninh quốc gia, bảo đảm trật tự, an toàn xã hội, bảo vệ con người và phục vụ phát triển kinh tế - xã hội, nên mọi hành vi chế tạo, cất giữ, sử dụng liên quan đến vật liệu nổ đều trái với quy định của pháp luật, đều bị pháp luật nghiêm cấm và bị coi là tội phạm, nhưng do nhận thức và hiểu biết pháp luật hạn chế, nên bị cáo đã cố ý tàng trữ trái phép vật liệu nổ để nhằm mục đích làm đạn để săn bắn. Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, làm ảnh hưởng đến tình hình an ninh chính trị và trật tự an toàn xã hội, vi phạm điều kiện về sản xuất, kinh doanh và sử dụng vật liệu nổ công
5
nghiệp và các quy định của Nhà nước về tàng trữ và quản lý các vật liệu nổ. Ngoài ra, còn có thể đe doạ đến tính mạng, sức khỏe, tài sản của mọi người, ảnh hưởng đến trật tự trị an và an toàn xã hội tại địa phương. Vì vậy, Hội đồng xét xử xét thấy cần phải tuyên cho bị cáo một hình phạt nghiêm khắc mới có tác dụng giáo dục, răn đe và phòng ngừa chung.
[4] Xét nhân thân và trách nhiệm hình sự thì thấy:
Bị cáo không có tiền án, tiền sự; Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; bị cáo là người dân tộc thiểu số, từ nhỏ sống ở vùng có điều kiện kinh tế xã hội đặc biệt khó khăn, không được đi học nên không biết chữ, bị cáo đã đầu thú khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội. Mục đích bị cáo tàng trữ vật liệu nổ làm đạn săn bắn thú rừng, không có mục đích khác. Có nơi cư trú rõ ràng, ổn định; ngoài lần phạm tội này bị cáo chưa phạm tội lần nào, quá trình sinh sống tại thôn bản luôn chấp hành tốt mọi chủ chương, đường lối của Đảng, chính sách pháp luật của Nhà nước và có đơn xin giảm nhẹ hình phạt. Vì vậy HĐXX thấy, cho bị cáo hưởng tình tiết giản nhẹ quy định tại điểm điểm s khoản 1 và khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự.
[5] Về hình phạt chính: Trên cơ sở đánh giá tính chất, mức độ nguy hiểm của hành vi mà bị cáo đã thực hiện, các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và nhân thân của bị cáo thấy: Bị cáo không có tình tiết tăng nặng nên HĐXX sẽ lên cho bị cáo một hình phạt tù có thời hạn, nhưng xét thấy bị cáo có nhiều tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, bị cáo chưa có tiền án, tiền sự, có nơi cư trú rõ ràng, ổn định, nên không cần thiết phải cách ly bị cáo khỏi đời sống xã hội mà căn cứ Điều 65 BLHS, cho bị cáo hưởng án treo, giao bị cáo cho chính quyền địa phương giám sát, giáo dục, vẫn đủ sức răn đe, phòng ngừa, đấu tranh phòng chống tội phạm.
[6] Về hình phạt bổ sung: Gia đình bị cáo thuộc hộ nghèo nên không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.
[7] Về xử lý vật chứng:
Đối với 84g (tám tư gam) thuốc nổ, loại thuốc nổ đen - Thuộc vật liệu nổ và 64 (Sáu tư) hạt nổ - thuộc phụ kiện nổ trong nhóm Vật liệu nổ còn lại sau giám định, đây là những vật chứng của vụ án, hiện đang được bảo quản tại Doanh nghiệp tư nhân L, phường A, thành phố T, tỉnh Thanh Hóa. Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 47 BLHS; Điểm a khoản 2 Điều 106 BLTTHS; Điều 68 và Điều 70 Luật quản lý, sử dụng vũ khí, vật liệu nổ và công cụ hỗ trợ năm 2017; Nghị định số 79/2018/NĐ-CP ngày 16/5/2018 của Chính phủ về việc: “Quy định chi tiết một số điều và biện pháp thi hành luật quản lý, sử dụng vũ khí, vật liệu nổ và
6
công cụ hỗ trợ”. Tịch thu giao cho Bộ Chỉ huy Quân sự tỉnh T xử lý theo quy định của pháp luật.
[8] Về biện pháp tư pháp: Lệnh cấm đi khỏi nơi cư trú số trú số: 07/2024/LC-TA ngày 11/03/2024 của Tòa án nhân dân huyện Quan Hóa đối với bị cáo sẽ hết hiệu lực khi bản án có hiệu lực pháp luật.
[9] Về án phí: Bị cáo thuộc hộ nghèo nên HĐXX miễn án phí hình sự sơ thẩm cho bị cáo.
[10] Về quyền kháng cáo, kháng nghị: Bị cáo có quyền kháng cáo bản án; Viện kiểm sát có quyền kháng nghị theo quy định của pháp luật.
[11] Các tình tiết khác:
Tại kết luận số 511/KL-KTHS ngày 01/02/2024 của phòng K Công an tỉnh T kết luận:
+ 02 khẩu súng bằng kim, loại màu đen, không có ký hiệu đều là súng kíp, thuộc súng săn - Không phải vũ khí quân dụng.
+ Các viên hình cầu bằng kim loại màu đen có tổng khối lượng 41g (Bốn mốt gam) là thành phần để chế tạo đạn gém, đạn súng kíp. Các loại đạn này không phải là vũ khí quân dụng.
Các vật chứng trên không phải vũ khí quân dụng nên không đủ căn cứ truy cứu trách nhiệm hình sự đối với bị cáo về hành vi tàng trữ vũ khí quân dụng. Ngày 04/03/2024 Chủ tịch UBND huyện Q, tỉnh Thanh Hóa đã xử phạt hành chính đối với bị cáo, mức phạt 15.000.000₫ (Mười lăm triệu đồng) đối với hành vi trên là đúng theo quy định của pháp luật.
Đối với người ở huyện M, tỉnh Thanh Hóa đã bán vật liệu nổ cho bị cáo, Cơ quan an ninh điều tra không có thông tin cụ thể xác minh làm rõ để xử lý ở vụ án này.
Đối với các thành viên trong gia đình bị cáo không ai biết việc bị cáo tàng trữ vật liệu nổ nên không có căn cứ để xem xét.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
- Về điều luật: Căn cứ vào khoản 1 Điều 305; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 65 và điểm a, c khoản 1 Điều 47 BLHS;
Điểm a, c khoản 2 Điều 106 và khoản 2 Điều 136 BLTTHS;
Điều 68 và Điều 70 Luật quản lý, sử dụng vũ khí, vật liệu nổ và công cụ hỗ trợ năm 2017;
7
Điều 3, khoản 1 Điều 21 và điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14, ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội về án phí, lệ phí Tòa án.
- Tuyên bố: L1 “Tàng trữ trái phép vật liệu nổ”.
- Xử phạt: Lò Văn Q 12 (Mười hai) tháng tù cho hưởng án treo. Thời gian thử thách là 24 (Hai bốn) tháng tính từ ngày tuyên án sơ thẩm 24/04/2024. Giao bị cáo cho chính quyền Ủy ban nhân dân xã N, huyện Q, tỉnh Thanh Hóa giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách.
Trường hợp bị cáo được hưởng án treo mà thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định tại khoản 3 Điều 92 Luật thi hành án hình sự. Trong thời gian thử thách, người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ 02 lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc người được hưởng án treo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo.
- Về vật chứng: Tịch thu giao cho Bộ chỉ huy quân sự tỉnh T xử lý theo quy định của pháp luật đối với 84g (tám tư gam) thuốc nổ, loại thuốc nổ đen - Thuộc vật liệu nổ và 64 (Sáu tư) hạt nổ - thuộc phụ kiện nổ trong nhóm Vật liệu nổ còn lại sau giám định, đây là những vật chứng của vụ án, hiện đang được bảo quản tại Doanh nghiệp tư nhân L. (Địa chỉ: M đá vôi, N, phường A, TP T tỉnh Thanh Hóa). Theo biên bản giao nhận vật chứng ngày 07/02/2024.
- Án phí: Bị cáo được miễn án phí HSST.
- Quyền kháng cáo, kháng nghị: Án xử công khai, có mặt bị cáo. Bị cáo có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm; Viện kiểm sát có quyền kháng nghị theo quy định của pháp luật.
Trường hợp bản án được thi hành tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại Điều 6, 7, 7a và 9 Luật Thi hành án dân sự, thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
|
Nơi nhận: - Bị cáo; - TAND tỉnh Thanh Hoá; - VKSND huyện Quan Hóa (03 bản); - VKS nhân dân tỉnh Thanh Hóa; - CQ An ninh điều tra CA tỉnh Thanh Hóa; - CQ THAHS Công an huyện Quan Hóa; - Bộ chỉ huy QS tỉnh Thanh Hóa; - UBND xã Nam Động, huyện Quan Hóa; |
T.M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ THẨM PHÁN - CHỦ TOẠ PHIÊN TOÀ |
8
|
- Người bào chữa; - Lưu HS. |
Ngô Thị Thanh |
HỘI ĐỒNG XÉT XỬ
|
CÁC HỘI THẨM NHÂN DÂN |
TP - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA |
|
Hoàng Văn Hùng Nguyễn Văn Mừng |
Ngô Thị Thanh |
Bản án số 17/2024/HS-ST ngày 24/04/2024 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN QUAN HÓA, TỈNH THANH HOÁ về tàng trữ trái phép vật liệu nổ
- Số bản án: 17/2024/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Tàng trữ trái phép vật liệu nổ
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 24/04/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN QUAN HÓA, TỈNH THANH HOÁ
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Lò Văn Quy
