TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN MÊ LINH THÀNH PHỐ HÀ NỘI Bản án số: 17/2024/KDTM-ST Ngày: 22/5/2024 V/v tranh chấp hợp đồng tín dụng | CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN MÊ LINH - THÀNH PHỐ HÀ NỘI
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
- - Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Thịnh Quang Trung
- - Các Hội thẩm nhân dân: 1. Ông Dương Đắc Hà
- 2. Bà Ngô Minh Thủy
- - Thư ký phiên toà: Ông Lương Văn Công – Thư ký Toà án nhân dân huyện Mê Linh, thành phố Hà Nội.
- - Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Mê Linh tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Hương Mai - Kiểm sát viên
Ngày 22/5/2024, tại trụ sở Toà án nhân dân huyện Mê Linh, thành phố Hà Nội xét xử sơ thẩm vụ án Kinh doanh thương mại thụ lý số: 15/2024/TLST - KDTM ngày 06 tháng 03 năm 2024 về tranh chấp Hợp đồng tín dụng theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 36/2024/QĐXXST-DS ngày 26 tháng 4 năm 2024; Quyết định hoãn phiên tòa số: 31/2024/QÐST-HNGĐ ngày 14/5/2024, giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Ngân hàng Thương mại cổ phần Đ1 (S1). Trụ sở: A T, phường L, quận H, thành phố Hà Nội. Người đại diện theo pháp luật: Ông Lê Văn T – Chức vụ: Chủ tịch Hội đồng quản trị; Người đại diện theo uỷ quyền: Ông Lã Thị H - Chức vụ: Phó giám đốc khối xử lý nợ; Người đại diện theo ủy quyền tham gia tố tụng: Ông Trần Minh N – Chức vụ: cán bộ xử lý nợ.
- Bị đơn:
- 2.1. Bà Nguyễn Thị T1, sinh năm 1984.
- 2.2. Ông Trần Hồng Đ, sinh năm 1981
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
- 3.1. Chị Trần Thị Thu H1, S năm 2003
- 3.2. Anh Trần Quang H2, sinh năm 2005
- 3.3. Cháu Trần Thảo M, sinh năm 2015
Đều cư trú tại: Khu B, thôn T, xã T, huyện M, thành phố Hà Nội.
1
Đều cư trú tại: Khu B, T, T, huyện M, thành phố Hà Nội.
- Người đại diện hợp pháp cho cháu Trần Thảo M là: Bà Nguyễn Thị T1, sinh năm 1984 và ông Trần Hồng Đ, sinh năm 1981. Đều cư trú tại: Khu B, thôn T, xã T, huyện M, thành phố Hà Nội.
Tại phiên tòa có mặt: ông N.
Vắng mặt: bà T1, ông Đ, chị H1, anh H2
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn khởi kiện ngày 26/02/2024, những lời khai tại Tòa án và tại phiên tòa, người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn là ông Trần Minh N trình bày:
Ngày 07/4/2022, Ngân hàng thương mại cổ phần Đ1 (bên cho vay, sau đây gọi tắt là Ngân hàng S1) và bà Nguyễn Thị T1, ông Trần Hồng Đ (bên vay) có ký hợp đồng cho vay theo hạn mức REF2209000335/HDTD/VPA-NTT với nội dung sau: hạn mức tín dụng là 5.000.000.000 đồng; thời hạn hiệu lực của hạn mức tín dụng: 24 tháng, thời hạn cho vay tối đa của mỗi khoản vay trong hạn mức tín dụng không quá 06 tháng; mục đích sử dụng hạn mức tín dụng: bổ sung vốn kinh doanh thức ăn chăn nuôi và kinh doanh trứng; lãi suất cho vay (trong hạn) và cơ chế điều chỉnh lãi được quy định cụ thể trong khế ước nhận nợ và/hoặc các văn bản liên quan ký kết giữa bên vay và Ngân hàng S1; Lãi suất quá hạn bằng 150% lãi suất cho vay trong hạn áp dụng tại thời điểm chuyển lãi quá hạn; lãi suất chậm trả áp dụng đối với tiền lãi chậm trả bằng 10%/năm tính trên số dư nợ lãi chậm trả tương ứng với thời gian chậm trả.
Thực hiện hợp đồng hạn mức tín dụng: Ngân hàng S1 đã giải ngân cho bà Nguyễn Thị T1, ông Trần Hồng Đ 5.000.000.000 đồng, với mức lãi suất là 10,49%/năm.
Để đảm bảo cho các khoản vay trên, ngày 07/4/2022 bà Nguyễn Thị T1, ông Trần Hồng Đ và Ngân hàng Thương mại cổ phần Đ1 đã ký kết hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất số REF2209000335 và có chứng thực tại Văn phòng C thành phố Hà Nội, số công chứng 1809, quyển số: 02/2022. TP/CC-SCC/HĐGD ngày 27/11/2020, thế chấp 02 khối tài sản là: Toàn bộ quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất tại thửa đất số 31-1, tờ bản đồ số 16, diện tích 255,7 m² tại thôn T, xã T, huyện M, thành phố Hà Nội theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản gắn liền với đất số X 485634, số vào sổ cấp GCN: CS-ML 03198 do Sở Tài nguyên và Môi trường thành phố H cấp ngày 27/10/2016 mang tên bà Nguyễn Thị T1, ông Trần Hồng Đ; Toàn bộ quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất tại thửa đất số 254, tờ bản đồ số 34, diện tích 360,3 m² tại thôn T, xã T, huyện M, thành phố Hà Nội theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản gắn liền với đất số CE 565399, số vào sổ cấp GCN: CS-ML 03199 do Sở Tài nguyên và Môi trường thành phố H cấp ngày 27/10/2016 mang tên bà Nguyễn Thị T1.
2
Ngày 13/6/2023, do không có khả năng trả nợ cho Ngân hàng S1 nên bà Nguyễn Thị T1, ông Trần Hồng Đ xin rút 01 tài sản đã thế chấp cho Ngân hàng là thửa đất số 254, tờ bản đồ số 34, diện tích 360,3 m² tại thôn T, xã T, huyện M, thành phố Hà Nội theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản gắn liền với đất số CE 565399, số vào sổ cấp GCN: CS-ML 03199 do Sở Tài nguyên và Môi trường thành phố H cấp ngày 27/10/2016 mang tên bà Nguyễn Thị T1 để bán trả nợ cho Ngân hàng. Sau khi bán được tài sản, bà Nguyễn Thị T1, ông Trần Hồng Đ đã trả được cho Ngân hàng 3.600.000.000 đồng tiền nợ gốc, 211.366.438 đồng nợ lãi trong hạn và 175.487 đồng tiền nợ lãi quá hạn.
Tính đến ngày 22/5/2024, tổng dư nợ gốc và lãi của bà Nguyễn Thị T1, ông Trần Hồng Đ tại Ngân hàng S1 theo Hợp đồng tín dụng nêu trên là 1.826.367.144 đồng (Một tỷ tám trăm hai sáu triệu ba trăm sáu bảy nghìn một trăm bốn bốn đồng). Trong đó: Số tiền nợ gốc: 1.400.000.000 đồng; Số tiền nợ lãi trong hạn là 29.328.768 đồng; Số tiền nợ lãi quá hạn 397.038.376 đồng.
Ngoài ra, Ngân hàng S1 và bà Nguyễn Thị T1, ông Trần Hồng Đ 02 hợp đồng đề nghị phát hành thẻ tín dụng cụ thể: ngày 24/3/2022, bà T1, ông Đ có ký kết với Ngân hàng S1 đề nghị vay vốn và đề nghị kiêm kiêm hợp đồng hạn mức, phát hành, sử dụng thẻ tín dụng quốc tế dành cho khách hàng cá nhân (sau đây gọi tắt là thẻ Visa 01) với hạn mức là 50.000.000 đồng; ngày 26/4/2022, bà T1, ông Đ có ký kết với Ngân hàng S1 đề nghị kiêm hợp đồng phát hành và sử dụng thẻ tín dụng kiêm hợp đồng hạn mức tín dụng (sau đây gọi tắt là thẻ Visa 02) với hạn mức là 50.000.000 đồng. Thực hiện đúng 02 hợp đồng cấp thẻ tín dụng Visa 01 và Visa 02, Ngân hàng S1 đã cấp cho bà Nguyễn Thị T1, ông Trần Hồng Đ 02 thẻ tín dụng. Quá trình sử dụng thẻ Visa, bà Nguyễn Thị T1, ông Trần Hồng Đ đã sử dụng hết hạn mức tín dụng của thẻ Visa 01 và thẻ Visa 02. Ngày 16/01/2023, ông T1, bà Đ đã vi phạm nghĩa vụ trả nợ gốc và nợ lãi theo đề nghị vay vốn và đề nghị kiêm kiêm hợp đồng hạn mức, phát hành, sử dụng thẻ tín dụng quốc tế danh cho khách hàng cá nhân và đề nghị kiêm hợp đồng phát hành và sử dụng thẻ tín dụng kiêm hợp đồng hạn mức tín dụng đã ký.
Tống số tiền tính đến ngày 22/5/2024, ông T1, bà Đ nợ Ngân hàng S1 theo 02 hợp đồng cấp thẻ tín dụng Visa 01 và Visa 02 là 170.734.614 đồng. Trong đó: thẻ Visa 01 nợ gốc 50.000.000 đồng, nợ lãi quá hạn: 35.818.098 đồng; thẻ Visa 02 nợ gốc 50.000.000 đồng, nợ lãi thẻ: 34.919.516 đồng.
Ngân hàng S1 đã nhiều lần làm việc, đôn đốc việc trả nợ với bà Nguyễn Thị T1, ông Trần Hồng Đ, tuy nhiên bà Nguyễn Thị T1, ông Trần Hồng Đ vẫn không thực hiện đúng nghĩa vụ trả nợ cho Ngân hàng mà cố tình trốn tranh không trả nợ cho ngân hàng. Do vậy, bà Nguyễn Thị T1, ông Trần Hồng Đ đã vi phạm nghĩa vụ trả nợ với Ngân hàng.
Nay Ngân hàng S2 khởi kiện bà Nguyễn Thị T1, ông Trần Hồng Đ đề nghị Tòa án giải quyết các vấn đề cụ thể sau:
3
- - Buộc bà Nguyễn Thị T1, ông Trần Hồng Đ phải trả cho Ngân hàng Thương mại cổ phần Đ1 số tiền nợ gốc, nợ lãi theo 03 Hợp đồng tín dụng nêu trên tính đến ngày 22/5/2024 là 1.997.101.758 đồng. Trong đó: số tiền nợ gốc: 1.500.000.000 đồng; số tiền nợ lãi trong hạn là 29.328.768 đồng; Số tiền nợ lãi quá hạn 397.038.376 đồng; nợ lãi thẻ: 70.734.614 đồng.
- - Buộc bà Nguyễn Thị T1, ông Trần Hồng Đ phải trả các khoản tiền lãi, phí phát sinh từ ngày 23/5/2024 cho đến khi thanh toán xong toàn bộ khoản nợ.
- - Buộc bà Nguyễn Thị T1, ông Trần Hồng Đ phải trả cho Ngân hàng S1 số tiền chi phí xem xét, thẩm định tại chỗ, chi phí tố tụng 7.000.000 đồng mà Ngân hàng S1 đã tạm ứng.
- - Trong trường hợp bà Nguyễn Thị T1, ông Trần Hồng Đ không thực hiện nghĩa vụ thanh toán khoản nợ nêu trên và lãi, phí phát sinh thì Ngân hàng thương mại cổ phần Đ1 có quyền yêu cầu cơ quan thi hành án có thẩm quyền kê biên, xử lý tài sản bảo đảm theo hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất số REF2209000335 và có chứng thực tại Văn phòng C thành phố Hà Nội, số công chứng 1809, quyển số: 02/2022. TP/CC-SCC/HĐGD ngày 27/11/2020 để trả nợ cho Ngân hàng là khối tài sản: Toàn bộ quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất tại thửa đất số 31-1, tờ bản đồ số 16, diện tích 255,7 m² tại thôn T, xã T, huyện M, thành phố Hà Nội theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản gắn liền với đất số X 485634, số vào sổ cấp GCN: CS-ML 03198 do Sở Tài nguyên và Môi trường thành phố H cấp ngày 27/10/2016 mang tên bà Nguyễn Thị T1, ông Trần Hồng Đ.
- - Trong trường hợp số tiền thu được từ xử lý tài sản bảo đảm trên không đủ thanh toán hết khoản nợ gốc và lãi, phí phát sinh thì bà Nguyễn Thị T1, ông Trần Hồng Đ vẫn phải có nghĩa vụ trả hết các khoản nợ cho Ngân hàng.
Đối với bị đơn, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan là bà Nguyễn Thị T1, ông Trần Hồng Đ, chị Trần Thị Thu H1, anh Trần Quang H2:
Tòa án đã thông báo về việc thụ lý vụ án, nhiều lần triệu tập đến Tòa án để tham gia tố tụng và tranh tụng nhưng bà T1, ông Đ, chị H1, anh H2 đều không có mặt, không có lời khai, không tham gia các giai đoạn tố tụng của vụ án. Vì vậy, Tòa án không lấy được ý kiến của bà T1, ông Đ, chị H1, anh H2.
Tại phiên tòa, nguyên đơn vẫn trình bày giữ nguyên yêu cầu khởi kiện như nêu trên và đưa ra yêu cầu số tiền đến ngày xét xử đề nghị bị đơn phải trả. Bị đơn, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt tại phiên tòa nên không có ý kiến.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Mê Linh tham gia phiên tòa phát biểu:
Về tố tụng:
Việc chấp hành pháp luật của Thẩm phán, Hội đồng xét xử là đúng quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự. Tòa án thụ lý vụ án là đúng thẩm quyền, xác định đúng quan hệ pháp luật tranh chấp, xác định đúng tư cách pháp luật của những người tham gia tố tụng. Tại phiên tòa, Hội đồng xét xử đã thực
4
hiện đúng các quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự về trình tự, thủ tục tại phiên tòa sơ thẩm.
Về nội dung:
Căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án và trình bày của những người tham gia tố tụng tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Mê Linh nhận thấy yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn là có căn cứ pháp luật và đề nghị Hội đồng xét xử: Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn. Buộc bà Nguyễn Thị T1, ông Trần Hồng Đ phải trả cho Ngân hàng thương mại cổ phần Đ1 số tiền tạm tính đến ngày 22/5/2024 là 1.997.101.758 đồng. Trong đó: số tiền nợ gốc: 1.500.000.000 đồng; số tiền nợ lãi trong hạn là 29.328.768 đồng; Số tiền nợ lãi quá hạn 397.038.376 đồng; nợ lãi thẻ: 70.734.614 đồng và tiếp tục phải trả tiền, nợ lãi phát sinh trên dư nợ gốc, tiền lãi phạt chậm lãi, tiền lãi thẻ kể từ ngày 23/5/2024 cho đến khi thanh toán xong toàn bộ khoản nợ. Trường hợp bị đơn không trả hoặc trả không đầy đủ theo yêu cầu của nguyên đơn thì đề nghị Tòa án cho nguyên đơn có quyền yêu cầu cơ quan thi hành án có thẩm quyền kê biên, xử lý tài sản bảo đảm theo hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất số REF2209000335 và có chứng thực tại Văn phòng C thành phố Hà Nội, số công chứng 1809, quyển số: 02/2022. TP/CC-SCC/HĐGD ngày 27/11/2020 để trả nợ cho Ngân hàng là khối tài sản: Toàn bộ quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất tại thửa đất số 31-1, Tờ bản đồ số 16, diện tích 255,7 m² tại thôn T, xã T, huyện M, thành phố Hà Nội theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản gắn liền với đất số X 485634, số vào sổ cấp GCN: CS-ML 03198 do Sở Tài nguyên và Môi trường thành phố H cấp ngày 27/10/2016 mang tên bà Nguyễn Thị T1, ông Trần Hồng Đ để thu hồi nợ. Và Q đinh về án phí và quyền kháng cáo của các đương sự theo quy định của pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Căn cứ các chứng cứ, tài liệu có trong hồ sơ; căn cứ kết quả thẩm tra chứng cứ tại phiên tòa; căn cứ việc hỏi tại phiên tòa; trên cơ sở xem xét đầy đủ, toàn diện chứng cứ, Hội đồng xét xử nhận định:
- [1] Về thẩm quyền giải quyết và quan hệ pháp luật: Ngân hàng Thương mại cổ phần Đ1 khởi kiện yêu cầu bà Nguyễn Thị T1, ông Trần Hồng Đ thanh toán số tiền nợ và xử lý tài sản thế chấp để thu hồi nợ theo hợp đồng tín dụng, Hợp đồng thế chấp tài sản nên được xác định là tranh chấp hợp đồng tín dụng, hợp đồng thế chấp tài sản theo quy định tại Điểm b Khoản 1 Điều 35 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015. Bị đơn cư trú tại huyện M, thành phố Hà Nội, có Giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh hộ kinh doanh Do vậy, Tòa án nhân dân huyện Mê Linh, thành phố Hà Nội có thẩm quyền thụ lý, giải quyết vụ án kinh doanh thương mại theo quy định tại Bộ luật Tố tụng dân sự.
- [2] Về thủ tục tố tụng: Kết quả xem xét, thẩm định tại chỗ và ý kiến của chính quyền xác nhận hiện nay trên nhà đất bà T1, ông Đ đang quản lý, sử dụng gồm có 05 người là: bà Nguyễn Thị T1, ông Trần Hồng Đ, chị Trần Thị Thu H1, anh Trần Quang H2 và cháu Trần Thảo M sinh sống, ngoài ra không còn ai khác. Vì vậy, Tòa án đưa chị Trần Thị Thu H1, anh Trần Quang H2 và cháu
5
Trần Thảo M tham gia tố tụng với tư cách người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan, người đại diện hợp pháp cho cháu M là: bà Nguyễn Thị T1, ông Trần Hồng Đ. Bị đơn, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt trong quá trình giải quyết vụ án và tại các phiên tòa mặc dù đã được triệu tập hợp lệ. Vì vậy, Hội đồng xét xử xét xử vắng mặt bà T1, ông Đ, chị H1, anh H2 theo quy định tại Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự và dành quyền kháng cáo cho họ là phù hợp pháp luật.
- [3] Về nội dung vụ án:
- [3.1] Về hợp đồng tín dụng: Xét yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, yêu cầu bị đơn phải trả nguyên đơn tổng số tiền là 1.997.101.758 đồng theo hợp đồng tín dụng số REF2209000335/HDTD/VPA-NTT ngày 07/4/2022; đề nghị vay vốn và đề nghị kiêm kiêm hợp đồng hạn mức, phát hành, sử dụng thẻ tín dụng quốc tế dành cho khách hàng cá nhân ngày 24/3/2022; đề nghị kiêm hợp đồng phát hành và sử dụng thẻ tín dụng kiêm hợp đồng hạn mức tín dụng ngày 26/4/2022. Tổng cộng là 1.997.101.758 đồng đồng, trong đó: số tiền nợ gốc: 1.500.000.000 đồng; số tiền nợ lãi trong hạn là 29.328.768 đồng; Số tiền nợ lãi quá hạn 397.038.376 đồng; nợ lãi thẻ: 70.734.614 đồng và tiếp tục phải trả tiền, tiền lãi phát sinh trên dư nợ gốc, tiền lãi phạt chậm lãi, tiền lãi thẻ kể từ ngày 22/5/2024 cho đến khi bị đơn thanh toán hết khoản nợ theo mức lãi suất được quy định trong khế ước nhận nợ, đề nghị vay vốn và đề nghị kiêm kiêm hợp đồng hạn mức, phát hành, sử dụng thẻ tín dụng quốc tế danh cho khách hàng cá nhân, đề nghị kiêm hợp đồng phát hành và sử dụng thẻ tín dụng kiêm hợp đồng hạn mức tín dụng ngày, thấy:
Xét hợp đồng tín dụng số REF2209000335/HDTD/VPA-NTT ngày 07/4/2022; đề nghị vay vốn và đề nghị kiêm kiêm hợp đồng hạn mức, phát hành, sử dụng thẻ tín dụng quốc tế danh cho khách hàng cá nhân ngày 24/3/2022; đề nghị kiêm hợp đồng phát hành và sử dụng thẻ tín dụng kiêm hợp đồng hạn mức tín dụng ngày 26/4/2022: Ngân hàng Thương mại cổ phần Đ1 đã cung cấp các tài liệu thể hiện việc ký kết, nội dung các thoả thuận trong hợp đồng tín dụng, quá trình thực hiện, vi phạm hợp đồng tín dụng của bà T1, ông Đ. Ngân hàng Thương mại cổ phần Đ1 và bà T1, ông Đ đều có đầy đủ tư cách pháp nhân, năng lực hành vi dân sự tại thời điểm các bên giao kết và thực hiện các hợp đồng tín dụng trên. Khi tham gia giao kết hợp đồng, các bên hoàn toàn tự nguyện, không ai bị lừa dối, ép buộc nên xác định việc thực hiện giao dịch là hoàn toàn tự nguyện. Các điều khoản thỏa thuận của hai bên trong hợp đồng không vi phạm điều cấm của pháp luật, không trái đạo đức xã hội. Do đó hợp đồng tín dụng số REF2209000335/HDTD/VPA-NTT ngày 07/4/2022; đề nghị vay vốn và đề nghị kiêm kiêm hợp đồng hạn mức, phát hành, sử dụng thẻ tín dụng quốc tế danh cho khách hàng cá nhân ngày 24/3/2022; đề nghị kiêm hợp đồng phát hành và sử dụng thẻ tín dụng kiêm hợp đồng hạn mức tín dụng ngày 26/4/2022 là tự nguyện và phù hợp với quy định của pháp luật. Do vậy, nguyên đơn khởi kiện yêu cầu bị đơn phải trả số tiền nợ gốc, nợ lãi theo các hợp đồng tín dụng đã nêu trên tính đến ngày 22/5/2024 và tiếp tục phải trả tiền, nợ lãi phát sinh trên dư nợ gốc, tiền lãi phạt chậm lãi, tiền lãi thẻ kể từ ngày 23/5/2024 cho đến khi thanh
- [3.1] Về hợp đồng tín dụng: Xét yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, yêu cầu bị đơn phải trả nguyên đơn tổng số tiền là 1.997.101.758 đồng theo hợp đồng tín dụng số REF2209000335/HDTD/VPA-NTT ngày 07/4/2022; đề nghị vay vốn và đề nghị kiêm kiêm hợp đồng hạn mức, phát hành, sử dụng thẻ tín dụng quốc tế dành cho khách hàng cá nhân ngày 24/3/2022; đề nghị kiêm hợp đồng phát hành và sử dụng thẻ tín dụng kiêm hợp đồng hạn mức tín dụng ngày 26/4/2022. Tổng cộng là 1.997.101.758 đồng đồng, trong đó: số tiền nợ gốc: 1.500.000.000 đồng; số tiền nợ lãi trong hạn là 29.328.768 đồng; Số tiền nợ lãi quá hạn 397.038.376 đồng; nợ lãi thẻ: 70.734.614 đồng và tiếp tục phải trả tiền, tiền lãi phát sinh trên dư nợ gốc, tiền lãi phạt chậm lãi, tiền lãi thẻ kể từ ngày 22/5/2024 cho đến khi bị đơn thanh toán hết khoản nợ theo mức lãi suất được quy định trong khế ước nhận nợ, đề nghị vay vốn và đề nghị kiêm kiêm hợp đồng hạn mức, phát hành, sử dụng thẻ tín dụng quốc tế danh cho khách hàng cá nhân, đề nghị kiêm hợp đồng phát hành và sử dụng thẻ tín dụng kiêm hợp đồng hạn mức tín dụng ngày, thấy:
6
toán xong toàn bộ khoản nợ là phù hợp với Điều 466 Bộ luật Dân sự năm 2015 và các Điều 91, 95 Luật các tổ chức tín dụng sửa đổi năm 2017 nên được chấp nhận.
Đối với số tiền chi phí xem xét, thẩm định tại chỗ 7.000.000 đồng mà nguyên đơn đã tạm ứng, nguyên đơn yêu cầu Bị đơn phải trả lại cho nguyên đơn. Xét đây là chi phí hợp lý phù hợp với quy định của pháp luật và yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn được chấp nhận nên thấy cần chấp nhận yêu cầu này của nguyên đơn.
- [3.2] Về hợp đồng thế chấp:
Xét yêu cầu của nguyên đơn về việc đề nghị Tòa án cho nguyên đơn có quyền yêu cầu cơ quan thi hành án có thẩm quyền kê biên, xử lý tài sản bảo đảm là: Toàn bộ quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất tại thửa đất số 31-1, tờ bản đồ số 16, diện tích 255,7 m² tại thôn T, xã T, huyện M, thành phố Hà Nội theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản gắn liền với đất số X 485634, số vào sổ cấp GCN: CS-ML 03198 do Sở Tài nguyên và Môi trường thành phố H cấp ngày 27/10/2016 mang tên bà Nguyễn Thị T1, ông Trần Hồng Đ để thu hồi nợ trong trường hợp bị đơn không trả nợ đúng hạn, thấy:
Hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất ngày 07/4/2022 giữa bà Nguyễn Thị T1, ông Trần Hồng Đ và Ngân hàng thương mại cổ phần Đ1 đã ký kết có số công chứng 1809, quyển số: 02/2022. TP/CC-SCC/HĐGD ngày 27/11/2020 và đã được đăng ký giao dịch đảm bảo tại cơ quan Nhà nước có thẩm quyền. Bà Nguyễn Thị T1, ông Trần Hồng Đ đã tự nguyện đem tài sản nói trên thế chấp cho Ngân hàng để bảo đảm nghĩa vụ trả nợ cho bà đối với các khoản nợ gốc, nợ lãi trong hạn, lãi quá hạn các khoản phí và chi phí khác phát sinh nếu có.
Bà T1, ông Đ khi ký kết hợp đồng có đầy đủ năng lực hành vi dân sự, điều khoản của hợp đồng không vi phạm điều cấm, không trái pháp luật, tài sản thế chấp được đăng ký tại cơ quan Nhà nước có thẩm quyền. Như vậy, hợp đồng thế chấp phù hợp pháp luật về cả hình thức và nội dung. Vì vậy, yêu cầu xử lý tài sản thế chấp của nguyên đơn phù hợp pháp luật, được chấp nhận.
- [5] Về án phí: Yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn được chấp nhận nên không phải chịu án phí, bị đơn phải chịu án phí kinh doanh thương mại sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
- [6] Về quyền kháng cáo: Các đương sự có quyền kháng cáo bản án theo quy định tại Điều 271, 273 Bộ luật Tố tụng dân sự.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào:
- - Các Điều 466, 468, 470, 317, 318, 323 và 299 Bộ luật Dân sự năm 2015;
- - Các Điều 91, 95 và 98 Luật Các tổ chức tín dụng năm 2010, sửa đổi bổ sung năm 2017;
7
- - Nghị định 163/2006/NĐ-CP ngày 29/12/2006 của Chính phủ về giao dịch bảo đảm; nghị định số 11/2012/NĐ-CP ngày 22/02/2012 của Chính phủ về sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định số 163 ngày 29/12/2006.
- - Điều 6, 7, 9, 9A, 30 của Luật Thi hành án dân sự;
- - Nghị quyết số 326/2016/UBTVQHH14 ngày 30/12/2017 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội;
- - Điểm b Khoản 1 Điều 35; Điều 39; Điều 144; Điều 147; điểm b khoản 2 Điều 227; khoản 3 Điều 228; Điều 266; Điều 271; Điều 273; Điều 278; Điều 280 Bộ luật Tố tụng dân sự 2015.
Xử:
- Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng thương mại cổ phần Đ1 về việc tranh chấp hợp đồng tín dụng số REF2209000335/HDTD/VPA-NTT ngày 07/4/2022; đề nghị vay vốn và đề nghị kiêm kiêm hợp đồng hạn mức, phát hành, sử dụng thẻ tín dụng quốc tế dành cho khách hàng cá nhân ngày 24/3/2022; đề nghị kiêm hợp đồng phát hành và sử dụng thẻ tín dụng kiêm hợp đồng hạn mức tín dụng ngày 26/4/2022 đối với bà Nguyễn Thị T1, ông Trần Hồng Đ.
- - Buộc bà Nguyễn Thị T1, ông Trần Hồng Đ phải trả cho Ngân hàng Thương mại cổ phần Đ1 số tiền tính đến ngày 22/5/2024 là Tổng cộng là 1.997.101.758 đồng, trong đó: số tiền nợ gốc: 1.500.000.000 đồng; số tiền nợ lãi trong hạn là 29.328.768 đồng; Số tiền nợ lãi quá hạn 397.038.376 đồng; nợ lãi thẻ: 70.734.614 đồng
- - Kể từ ngày 23/5/2024, bà Nguyễn Thị T1, ông Trần Hồng Đ còn phải tiếp tục trả cho Ngân hàng Thương mại cổ phần Đ1 khoản tiền lãi phát sinh trên số dư nợ gốc, tiền lãi phạt chậm lãi, tiền lãi thẻ chưa trả tương ứng với thời gian chậm trả theo mức lãi suất thỏa thuận tại Khế ước nhận nợ ngày 04/10/2022; đề nghị vay vốn và đề nghị kiêm kiêm hợp đồng hạn mức, phát hành, sử dụng thẻ tín dụng quốc tế dành cho khách hàng cá nhân ngày 24/3/2022; đề nghị kiêm hợp đồng phát hành và sử dụng thẻ tín dụng kiêm hợp đồng hạn mức tín dụng ngày 26/4/2022.
- - Kể từ ngày Bản án có hiệu lực pháp luật, nếu bà Nguyễn Thị T1, ông Trần Hồng Đ không trả đủ các khoản nợ nêu trên thì Ngân hàng Thương mại cổ phần Đ1 có quyền yêu cầu cơ quan thi hành án dân sự kê biên, xử lý tài sản bảo đảm là: Toàn bộ quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất tại thửa đất số 31-1, tờ bản đồ số 16, diện tích 255,7 m² tại thôn T, xã T, huyện M, thành phố Hà Nội theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản gắn liền với đất số X 485634, số vào sổ cấp GCN: CS-ML 03198 do Sở Tài nguyên và Môi trường thành phố H cấp ngày 27/10/2016 mang tên bà Nguyễn Thị T1, ông Trần Hồng Đ để thu hồi nợ.
- Buộc bà Nguyễn Thị T1, ông Trần Hồng Đ phải trả cho Ngân hàng Thương mại cổ phần Đ1 7.000.000 (bẩy triệu) đồng là tiền chi phí xem xét, thẩm định tại chỗ Ngân hàng TMCP Đ1 đã tạm ứng.
- Về án phí dân sự sơ thẩm: bà Nguyễn Thị T1, ông Trần Hồng Đ phải chịu toàn bộ tiền án phí là 71.913.000 (bẩy mươi mốt triệu chín trăm mười ba nghìn) đồng để sung vào ngân sách Nhà nước.
Trường hợp sau khi xử lý tài sản bảo đảm vẫn không đủ để thực hiện nghĩa vụ trả nợ cho Ngân hàng thì bà Nguyễn Thị T1, ông Trần Hồng Đ phải tiếp tục chịu trách nhiệm trả số nợ còn lại cho Ngân hàng Thương mại cổ phần Đ1.
8
Trả lại Ngân hàng Thương mại cổ phần Đ1 34.932.000 (ba mươi tư triệu chín trăm ba mươi hai nghìn) đồng tiền tạm ứng án phí đã nộp tại Biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 8545 ngày 06/3/2024 của Chi Cục Thi hành án dân sự huyện Mê Linh, thành phố Hà Nội.
Trường hợp bản án này được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 9 và 9A Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
Án xử công khai sơ thẩm, nguyên đơn có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Bị đơn, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan, Người đại diện hợp pháp cho người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết hợp lệ.
Nơi nhận:
| T/M. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Thịnh Quang Trung |
HỘI THẨM NHÂN DÂN | HỘI ĐỒNG XÉT XỬ THẨM PHÁN CHỦ TỌA PHIÊN TÒA |
9
Bản án số 17/2024/KDTM-ST ngày 22/05/2024 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN MÊ LINH - THÀNH PHỐ HÀ NỘI về tranh chấp hợp đồng tín dụng
- Số bản án: 17/2024/KDTM-ST
- Quan hệ pháp luật: tranh chấp hợp đồng tín dụng
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 22/05/2024
- Loại vụ/việc: Kinh doanh thương mại
- Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN MÊ LINH - THÀNH PHỐ HÀ NỘI
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Ngân hàng TMCP DD1 khởi kiện Nguyễn Thị T1, Trần Hồng Đ
