Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN TÂN THẠNH

TỈNH LONG AN

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

Bản án số: 17/2024/HS-ST

Ngày: 22-4-2024

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TÂN THẠNH – TỈNH LONG AN

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Ngọc Ánh

Các Hội thẩm nhân dân.

Bà Trần Thị Năm – Hội Cựu giáo chức huyện Tân Thạnh

Bà Nguyễn Ngọc Nhuận – Hội cựu chiến binh huyện Tân Thạnh

- Thư ký phiên tòa: Bà Bùi Thị Huyền Trân – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Tân Thạnh

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Tân Thạnh tham gia phiên tòa:

Ông Trần Văn Tý – Kiểm sát viên.

Ngày 22 tháng 4 năm 2024 tại Trụ sở Tòa án nhân dân huyện Tân Thạnh, tiến hành xét xử sơ thẩm kín vụ án hình sự thụ lý số: 12/2024/HSST ngày 02 tháng 02 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 23/2024/QĐXXST-HS ngày 02 tháng 4 năm 2024 đối với bị cáo:

Lê Hoàng S (Tên gọi khác: T); Sinh ngày: 28/7/2000; Nơi sinh: tỉnh Long An; Nơi cư trú: Ấp K, xã N, huyện T, Long An; Nghề nghiệp: Làm thuê; Trình độ học vấn: 06/12; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Giới tính: Nam; Con của ông Lê Văn D, sinh năm 1969 và bà Phạm Thị Y, sinh năm 1968; Vợ: Nguyễn Thị Tuyết L, sinh năm 2000; Con: Có 01 người, sinh năm 2022; Tiền sự: Không; Tiền án: Không; Bị cáo bị tạm giữ từ ngày 21/11/2023, chuyển tạm giam từ ngày 30/11/2023 cho đến nay. Hiện bị cáo đang bị tạm giam tại Nhà tạm giữ Công an huyện T, tỉnh Long An (Bị cáo có mặt tại phiên tòa).

- Người bào chữa cho bị cáo Lê Hoàng S: ông Nguyễn Phát T1 – Trợ giúp viên pháp lý của Trung tâm T4 – Sở tư pháp tỉnh Long An. Địa chỉ: số B, đường N, phường A, thành phố T, tỉnh Long An (Vắng mặt, có đơn đề nghị xét xử vắng mặt và có gửi văn bản bào chữa cho bị cáo).

- Bị hại: Cháu Nguyễn Thị Xuân M, sinh ngày: 14/01/2009. Nơi cư trú: ấp N, xã N, huyện T, tỉnh Long An (Vắng mặt, có đơn xin xét xử vắng mặt).

- Người đại diện hợp pháp của bị hại Nguyễn Thị Xuân M: bà Nguyễn Thị Xuân G, sinh năm: 1989. Nơi cư trú: ấp N, xã N, huyện T, tỉnh Long An (Vắng mặt, có đơn xin xét xử vắng mặt).

- Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của bị hại Nguyễn Thị Xuân M: bà Phạm Thị Mai T2 - Trợ giúp viên pháp lý của Trung tâm T4 – Sở tư pháp tỉnh Long An. Địa chỉ: số B, đường N, phường A, thành phố T, tỉnh Long An (Vắng mặt, có đơn đề nghị Tòa án xét xử vắng mặt và có gửi văn bản nêu quan điểm bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho bị hại).

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án:

  • + Ông Lê Văn D, sinh năm: 1969. Nơi cư trú: ấp K, xã N, huyện T, tỉnh Long An (Có mặt).
  • + Bà Phạm Thị Y, sinh năm: 1968. Nơi cư trú: ấp K, xã N, huyện T, tỉnh Long An (Có mặt).
  • + Ông Nguyễn Văn M1, sinh năm: 1941. Nơi cư trú: ấp N, xã N, huyện T, tỉnh Long An (Vắng mặt, có đơn xin xét xử vắng mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 20 giờ 30 phút ngày 20/11/2023, Lê Hoàng S và Nguyễn Thị Xuân M cùng tham gia uống bia tại nhà ông Nguyễn Văn T3 (cha vợ của S) cùng một số người khác tại ấp N, xã N, huyện T, tỉnh Long An. Đến khoảng 21 giờ cùng ngày, M nghỉ nhậu đi về nhà ông Nguyễn Văn M1 (ông ngoại của M) ở ấp N, xã N, huyện T, tỉnh Long An giáp ranh nhà ông T3 để ngủ, còn S tiếp tục uống bia tại nhà ông T3, đến khoảng 23 giờ cùng ngày thì tất cả nghỉ nhậu. Đến khoảng 23 giờ 30 phút cùng ngày, S nảy sinh ý định giao cấu với M nên S đi qua nhà ông M1 và đi vào phòng ngủ của M, S giả vờ kêu Mai thức dậy để tiếp tục nhậu thì lúc này M ngồi dậy và trả lời “không nhậu nữa”. Sau đó, S dùng tay phải đẩy M nằm ngửa xuống nệm, S quỳ hai đầu gối sát hai bên hông của M, mông của S đè lên người M, hai tay S nắm hai cổ tay của M và giữ chặt không cho M kháng cự, đồng thời S dùng tay phải kéo áo của M đang mặc hướng lên trên đầu và sờ vào nhũ hoa của M. Sau đó, S dùng đầu gối chân phải đè lên tay trái của M và dùng tay phải cởi quần jean, quần lót của M đang mặc ra khỏi người, S dùng tay phải sờ vào âm hộ và đút ngón thứ ba (ngón giữa) bàn tay phải vào âm đạo của M. Lúc này, M kháng cự, giãy giụa, xô đẩy S ra nhưng S dùng hai tay giữ chặt lấy hai tay của M lại, sau đó S kéo quần S đang mặc xuống tới nửa đùi rồi quỳ hai đầu gối xuống nệm phía bên trong hai chân của M, hai tay S nắm chặt lấy hai cổ tay của M đè xuống nệm làm Mai không kháng cự được, đồng thời S thực hiện hành vi giao cấu với M khoảng 01 phút thì M khóc lớn nên S dừng lại, kéo quần của S lên và lấy quần lót mặc vào cho M và đi về nhà của ông T3 để ngủ. Sau khi bị S thực hiện hành vi giao cấu trái ý muốn của M, thì M gọi điện thoại báo ngay cho mẹ ruột là bà Nguyễn Thị Xuân G đang đi làm công nhân và ở trọ tại ấp T, xã T, huyện C, tỉnh Tiền Giang biết. Đến khoảng 02 giờ cùng ngày, bà G về đến nhà gặp M và đến Công an xã N, huyện T tố giác Lê Hoàng S. Cùng lúc này, Lê Hoàng S tự nguyện đến Cơ quan điều tra Công an huyện T đầu thú và khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội như trên.

Tại Bản Kết luận giám định xâm hại tình dục ở trẻ em số 49/KLTDTE-TTPY ngày 28 tháng 11 năm 2023 của Trung tâm Pháp y tỉnh L. Kết luận: Âm hộ, gần sát chân màng trinh ở vị trí 9 giờ và 6 giờ có trầy nhẹ; Màng trinh giãn rộng hình răng cưa, đưa lọt ngón tay trỏ dễ dàng, có dấu rách cũ sát chân ở vị trí 9 giờ; Tìm không thấy tinh trùng trong dịch âm đạo.

Tại Bản Kết luận giám định ADN số 3.331-2023/KLGDADN-TTPY ngày 26 tháng 12 năm 2023 của Trung tâm Pháp y Thành phố H. Kết luận: ADN của Lê Hoàng S có hiện diện trong mẫu lông, tóc (ký hiệu M1) thu tại hiện trường ngày 21/11/2023.

Tại bản cáo trạng số: 14/CT-VKSTT, ngày 02/02/2024 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Tân Thạnh truy tố bị cáo Lê Hoàng S về tội “Hiếp dâm người dưới 16 tuổi” quy định điểm a khoản 1 Điều 142 Bộ luật hình sự.

Tại phiên toà, Đại diện Viện kiểm sát vẫn giữ nguyên quan điểm truy tố đối với bị cáo đồng thời phân tích tính chất và mức độ nguy hiểm cho xã hội do hành vi vi phạm pháp luật mà các bị cáo Lê Hoàng S gây ra, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố bị Lê Hoàng S phạm tội “Hiếp dâm người dưới 16 tuổi”.

Về hình phạt chính: Đề nghị căn cứ quy định tại điểm a khoản 1 Điều 142; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; khoản 1, khoản 3 Điều 54; các Điều 38, 50 Bộ luật hình sự; Đề nghị xử phạt bị cáo Lê Hoàng S từ 06 năm đến 06 năm 06 tháng tù.

Về vật chứng trong vụ án: vật chứng đã được xử lý xong nên đại diện Viện kiểm sát không đề nghị.

Về trách nhiệm dân sự: Bị cáo đã tác động ông Lê Văn D (cha ruột bị cáo S) và bà Phạm Thị Y (mẹ ruột bị cáo S) bồi thường thiệt hại, khắc phục hậu quả cho gia đình bị hại Nguyễn Thị Xuân M số tiền 10.000.000 đồng, bị hại không yêu cầu gì thêm nên đại diện Viện kiểm sát không đề nghị.

Về hình phạt bổ sung: đại diện Viện kiểm sát không đề nghị.

Người bào chữa cho bị cáo nêu quan điểm bào chữa cho bị cáo Lê Hoàng S như sau: Lời trình bày của bị cáo phù hợp với các tài liệu, chứng cứ trong hồ sơ vụ án. Viện kiểm sát truy tố bị cáo là đúng người, đúng tội và đúng pháp luật nên trợ giúp viên pháp lý không có ý kiến gì thêm về tội danh của bị cáo. Về xem xét giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho bị cáo, người bào chữa đề nghị xem xét bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; có thiện chí khắc phục hậu quả; bị cáo tự nguyện đầu thú; bị cáo hộ nghèo. Đề nghị Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của bị hại nêu quan điểm bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của bị hại như sau: Thống nhất với quan điểm của đại diện Viện kiểm sát về tội danh; các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị cáo; mức hình phạt đề nghị đối với bị cáo. Về trách nhiệm dân sự, bị cáo đã tác động ông Lê Văn D và bà Phạm Thị Y bồi thường thiệt hại, khắc phục hậu quả cho gia đình bị hại xong, bị hại không có yêu cầu gì thêm. Về trách nhiệm hình sự, đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho bị cáo theo yêu cầu của bị hại và người đại diện hợp pháp của bị hại.

Tại phiên tòa, bị cáo thừa nhận hành vi phạm tội và không có ý kiến tranh luận đối với luận tội của đại diện Viện kiểm sát. Bị hại và người đại diện hợp pháp vắng mặt nhưng có văn bản nêu ý kiến không yêu cầu gì về trách nhiệm dân sự, về trách nhiệm hình sự bị hại đề nghị Tòa án xét xử giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

Tại lời nói sau cùng, bị cáo xin xem xét giảm nhẹ hình phạt để sớm về với gia đình do bị cáo còn con nhỏ.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về hành vi tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện, Viện kiểm sát trong quá trình điều tra, truy tố đã được thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo và những người tham gia tố tụng khác không có người nào có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng thực hiện đều phù hợp quy định pháp luật.

[2] Tại phiên tòa, có sự vắng mặt của những người tham gia tố tụng như sau: Người bào chữa cho bị cáo vắng mặt nhưng có đơn đề nghị Tòa án xét xử vắng mặt và có gửi luận cứ bào chữa cho bị cáo; bị hại, người đại diện hợp pháp của bị hại vắng mặt nhưng có đơn đề nghị Tòa án xét xử vắng mặt; người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho bị hại vắng mặt nhưng có đơn đề nghị xét xử vắng mặt và có gửi bài phát biểu bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho bị hại; người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án vắng mặt nhưng cũng có đơn xin xét xử vắng mặt. Tòa án đã tống đạt hợp lệ văn bản tố tụng cho những người tham gia tố tụng nêu trên. Bị cáo và người tham gia tố tụng có mặt tại phiên tòa không đề nghị hoãn phiên tòa. Xét thấy sự vắng mặt của những người tham gia tố tụng không ảnh hưởng đến việc xét xử nên Hội đồng xét xử vẫn tiến hành xét xử theo quy định tại Điều 291, 292 Bộ luật tố tụng hình sự.

[3] Tại phiên tòa bị cáo Lê Hoàng S khai nhận hành vi phạm tội đã thực hiện đúng như nội dung bản cáo trạng đã nêu, phù hợp với lời khai của bị cáo tại Cơ quan điều tra và các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa. Có đủ cơ sở xác định được như sau:

Khoảng 23 giờ 30 phút ngày 20/11/2023, Lê Hoàng S đã thực hiện hành vi dùng vũ lực giao cấu trái với ý muốn của bị hại Nguyễn Thị Xuân M, sinh ngày 14/01/2009, tại nhà ông Nguyễn Văn M1 (ông ngoại của M) ở ấp N, xã N, huyện T, tỉnh Long An. Tại thời điểm S thực hiện hành vi giao cấu trái với ý muốn của bị hại M vào ngày 20/11/2023, M mới được 14 tuổi 10 tháng 06 ngày.

Xét thấy, tại thời điểm thực hiện hành vi phạm tội, bị cáo Lê Hoàng S có đầy đủ năng lực hành vi dân sự, đủ tuổi chịu trách nhiệm hình sự; bị cáo nhận thức được hành vi của mình là trái pháp luật nhưng vẫn cố ý thực hiện hành vi giao cấu trái với ý muốn của bị hại tới cùng, mặc dù bị hại đã chống cự.

Vì vậy, hành vi của bị cáo đã phạm tội “Hiếp dâm người dưới 16 tuổi” theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 142 Bộ luật Hình sự. Tại Điều 142 Bộ luật Hình sự quy định:

“1. Người nào thực hiện một trong các hành vi sau đây, thì bị phạt tù từ 07 năm đến 15 năm:

a) Dùng vũ lực, đe dọa dùng vũ lực hoặc lợi dụng tình trạng không thể tự vệ được của nạn nhân hoặc thủ đoạn khác giao cấu hoặc thực hiện hành vi quan hệ tình dục khác với người từ đủ 13 tuổi đến dưới 16 tuổi trái với ý muốn của họ”;

[4] Như vậy, Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân huyện Tân Thạnh, tỉnh Long An truy tố bị cáo Lê Hoàng S về tội “Hiếp dâm người dưới 16 tuổi” theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 142 Bộ luật Hình sự là có căn cứ, đúng người, đúng tội và đúng pháp luật.

[5] Hành vi trái pháp luật của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xem thường pháp luật. Hành vi của bị cáo thực hiện do lỗi cố ý trực tiếp, đã xâm phạm sự phát triển bình thường về tâm sinh lý của người từ đủ 13 tuổi đến dưới 16 tuổi, gây tác hại đến sự phát triển đạo đức nhân cách và ảnh hướng đến cuộc sống sau này của bị hại. Do đó, cần thiết xử lý bị cáo bằng một hình phạt nghiêm mới có thể giáo dục bị cáo và phòng ngừa chung trên cơ sở xem xét tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị cáo khi thực hiện hành vi phạm tội, nhân thân của bị cáo.

[6] Xét về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự theo quy định tại Điều 52 Bộ luật hình sự.

[7] Xét về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:

Bị cáo đã tác động ông Lê Văn D (cha ruột bị cáo S) và bà Phạm Thị Y (mẹ ruột bị cáo S) bồi thường thiệt hại, khắc phục hậu quả cho gia đình bị hại Nguyễn Thị Xuân M số tiền 10.000.000 đồng; trong quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải quy định tại điểm b, s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự.

Ngoài ra, bị cáo tự nguyện đầu thú; có hoàn cảnh kinh tế gia đình khó khăn, thuộc diện hộ cận nghèo; bị hại Nguyễn Thị Xuân M và người đại diện theo pháp luật của bị hại là bà Nguyễn Thị Xuân Giàu c đơn xin bãi nại, xin giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho bị cáo. Do đó bị cáo còn được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được quy định khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự. Do bị cáo có hai tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được quy định tại khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự như đã nhận định và xét thấy bị cáo phạm tội lần đầu, nên xem xét quyết định hình phạt dưới mức thấp nhất của của khung hình phạt được áp dụng theo quy định tại khoản 1, khoản 3 Điều 54 Bộ luật hình sự là phù hợp.

[8] Về vật chứng:

Đối với 01 áo thun ngắn tay màu đen, không nhãn hiệu, phía trước ngực áo có in hoa văn màu trắng; 01 quần Jean ngắn màu đen, không nhãn hiệu; 01 quần lót màu hồng không nhãn hiệu. Tất cả đều là đồ cá nhân của bị hại Nguyễn Thị Xuân M. Cơ quan Cảnh sát điều tra đã ra Quyết định xử lý vật chứng trả lại tài sản trên cho bị hại Nguyễn Thị Xuân M nên không đề cập xử lý.

Đối với 04 sợi lông, tóc màu đen thu tại hiện trường ngày 21/11/2023, đã sử dụng hết trong quá trình giám định AND nên không đề cập xử lý.

[9] Về trách nhiệm dân sự:

[9.1] Sau khi sự việc xảy ra người đại diện hợp pháp của bị hại Nguyễn Thị Xuân M là bà Nguyễn Thị Xuân G (mẹ của bị hại M) yêu cầu bị cáo Lê Hoàng S bồi thường thiệt hại cho bị hại Nguyễn Thị Xuân M số 10.000.000 đồng. Ông Lê Văn D (cha của bị cáo S) và bà Phạm Thị Y (mẹ của bị cáo S) đã bồi thường thiệt hại cho gia đình bị hại Nguyễn Thị Xuân M xong số tiền 10.000.000 đồng. Bị hại và người đại diện hợp pháp của bị hại không yêu cầu gì thêm nên không đề cập.

[9.2] Tại phiên tòa ông Lê Văn D và bà Phạm Thị Y cũng không có yêu cầu gì về số tiền 10.000.000 đồng đã bồi thường thay cho bị cáo nên phần trách nhiệm dân sự không xem xét.

[10] Về án phí: Bị cáo thuộc diện hộ cận nghèo, được miễn án phí theo quy định tại điểm d khoản 1 Điều 12 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Uỷ ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án nhưng bị cáo không yêu cầu miễn án phí mặc dù đã được giải thích nên cáo phải chịu 200.000đ án phí hình sự sơ thẩm theo quy định.

QUYẾT ĐỊNH:

  1. Tuyên bố bị cáo Lê Hoàng S phạm tội “Hiếp dâm người dưới 16 tuổi”.
  2. Về hình phạt chính:

    Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 142 Bộ luật Hình sự; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; khoản 1, khoản 3 Điều 54; Điều 38, Điều 50 Bộ luật hình sự;

    Xử phạt bị cáo Lê Hoàng S 06 (S1) năm tù. Thời hạn tù tính từ ngày tạm giữ (21/11/2023).

  3. Căn cứ Điều 329 Bộ luật tố tụng hình sự, tiếp tục tạm giam bị cáo Lê Hoàng S2 45 (Bốn mươi lăm) ngày kể từ ngày tuyên án (22/4/2024) để đảm bảo thi hành án.
  4. Án phí hình sự sơ thẩm: Áp dụng khoản 2 Điều 135, khoản 2 Điều 136 Bộ Luật tố tụng hình sự; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Uỷ ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;

    Bị cáo Lê Hoàng S phải chịu 200.000 đ (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.

  5. Về quyền kháng cáo: Áp dụng các điều 331, 333 Bộ Luật tố tụng hình sự;

    Bị cáo có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.

    Bị hại, người đại diện hợp pháp của bị hại, người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho bị hại vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.

    Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo phần bản án, quyết định có liên quan đến quyền lợi, nghĩa vụ của mình trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.

    Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo phần bản án, quyết định có liên quan đến quyền lợi, nghĩa vụ của mình trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.

Nơi nhận:

  • - TAND tỉnh Long An;
  • - VKSND tỉnh Long An;
  • - Sở tư pháp tỉnh Long An
  • - VKSND huyện Tân Thạnh;
  • - Công an huyện Tân Thạnh;
  • - Chi cục THADS huyện Tân Thạnh;
  • - Bị cáo; Đương sự;
  • - Lưu hồ sơ

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Nguyễn Thị Ngọc Ánh

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 17/2024/HS-ST ngày 22/04/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TÂN THẠNH – TỈNH LONG AN về hình sự (hiếp dâm người dưới 16 tuổi)

  • Số bản án: 17/2024/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Hình sự (Hiếp dâm người dưới 16 tuổi)
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 22/04/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TÂN THẠNH – TỈNH LONG AN
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Lê Hoàng S phạm tội “Hiếp dâm người dưới 16 tuổi”
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger