|
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN HÀ QUẢNG TỈNH CAO BẰNG |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: 17/2024/HS-ST
Ngày 21-6-2024
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN HÀ QUẢNG, TỈNH CAO BẰNG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Dương Thị Hồng Vân
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Lý Đức Thà
Bà Hoàng Thị Viễn
Thư ký phiên tòa: Bà Phan Thị Thiết - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Hà Quảng, tỉnh Cao Bằng.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Hà Quảng, tỉnh Cao Bằng tham gia phiên tòa: Bà Nông Thị Diễm - Kiểm sát viên.
Ngày 21-6-2024 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Hà Quảng, tỉnh Cao Bằng xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 18/2024/TLST-HS ngày 14-5-2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 16/2024/QĐXXST-HS ngày 07-6-2024 đối với các bị cáo:
1. Vương Thị T (tên gọi khác: Không có), sinh ngày 26 tháng 9 năm 1982 tại xã T, huyện H, tỉnh Cao Bằng; nơi cư trú: Xóm L, xã T, huyện H, tỉnh Cao Bằng (nơi cư trú cũng là nơi đăng ký hộ khẩu thường trú); nghề nghiệp: Trồng trọt; trình độ văn hóa: Mù chữ; dân tộc: Nùng; giới tính: Nữ; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Vương Văn T1, đã chết và bà Vy Thị N, sinh năm 1946; có chồng là Dương Văn T2, sinh năm 1981, con: Bị cáo có 02 con, con thứ nhất sinh năm 2006, con thứ hai sinh năm 2008; tiền án: Không; tiền sự: 01 (ngày 20-4-2023 Công an huyện H, tỉnh Cao Bằng ra Quyết định xử phạt vi phạm hành chính về hành vi vận chuyển trái phép hàng hoá qua khu vực biên giới theo Quyết định số: 40/QĐ-XPHC); nhân thân: Không có; Bị cáo bị áp dụng biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú từ ngày 29-01-2024 cho đến nay, có mặt.
2. Đặng Thị T3 (tên gọi khác: Không có), sinh ngày 15 tháng 8 năm 1989 tại xã T, huyện H, tỉnh Cao Bằng; nơi cư trú: Xóm L, xã T, huyện H, tỉnh Cao Bằng (nơi cư trú cũng là nơi đăng ký hộ khẩu thường trú); nghề nghiệp: Trồng trọt; trình độ văn hóa: Mù chữ; dân tộc: Nùng; giới tính: Nữ; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Đặng Văn N1 (đã chết) và bà Đặng Thị D; có chồng là Dương Văn M, sinh năm 1984, con: Bị cáo có 02 con, con thứ nhất sinh năm 2010, con thứ hai sinh năm 2011; tiền án: Không; tiền sự: 01 (ngày 20-4-2023 Công an huyện H, tỉnh
Cao Bằng ra Quyết định xử phạt vi phạm hành chính về hành vi vận chuyển trái phép hàng hoá qua khu vực biên giới theo Quyết định số: 41/QĐ-XPHC); nhân thân: Không có; Bị cáo bị áp dụng biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú từ ngày 29-01-2024 cho đến nay, có mặt.
3. Đặng Văn T4 (tên gọi khác: Không có), sinh ngày 29 tháng 3 năm 1984 tại xã T, huyện H, tỉnh Cao Bằng; nơi cư trú: Xóm L, xã T, huyện H, tỉnh Cao Bằng (nơi cư trú cũng là nơi đăng ký hộ khẩu thường trú); nghề nghiệp: Trồng trọt; trình độ văn hóa: 03/12; dân tộc: Nùng; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Đặng Văn S (đã chết) và bà Nông Thị R (đã chết); có vợ là Vương Thị L, sinh năm 1981, con: Bị cáo có 03 con, con lớn nhất sinh năm 2006, con nhỏ nhất sinh năm 2009; tiền án: Không; tiền sự: 01 (ngày 20-4-2023 Công an huyện H, tỉnh Cao Bằng ra Quyết định xử phạt vi phạm hành chính về hành vi vận chuyển trái phép hàng hoá qua khu vực biên giới theo Quyết định số: 31/QĐ-XPHC); nhân thân: Không có; Bị cáo bị áp dụng biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú từ ngày 29-01-2024 cho đến nay, có mặt.
- Người bào chữa: Bà Lục Thị H - Trợ giúp viên pháp lý thuộc Trung tâm trợ giúp pháp lý Nhà nước tỉnh C bào chữa cho bị cáo Vương Thị T, Đặng Thị T3, Đặng Văn T4, có mặt.
- Người làm chứng:
1. Ông Vi Văn Đ, sinh năm 1982;
Nơi cư trú: Xóm L, xã T, huyện H, tỉnh Cao Bằng, vắng mặt;
2. Bà Vương Thị L, sinh năm 1981;
Nơi cư trú: Xóm L, xã T, huyện H, tỉnh Cao Bằng, vắng mặt.
- Người tham gia tố tụng khác:
Người phiên dịch tiếng Nùng: Ông Hứa Văn S1, sinh năm 1972; Nơi cư trú: Tổ X, thị trấn X, huyện H, tỉnh Cao Bằng, có mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 10 giờ 30 phút, ngày 03-11-2023, Đồn biên phòng T6 đang thực hiện nhiệm vụ tuần tra, kiểm soát khu vực mốc 717 và mốc 718 tại L thuộc xóm L, xã T, huyện H, tỉnh Cao Bằng thì phát hiện Đặng Thị H1 sinh năm 1982, trú tại xóm L, xã T, huyện H đang dắt 02 (hai) con trâu đực màu đen theo đường mòn hướng ra biên giới Trung Quốc. Tìm kiếm xung quanh, cách vị trí của Đặng Thị H1 khoảng 50 mét phát hiện thêm Vương Thị T sinh năm 1982 trú tại xóm L, xã T, huyện H, tỉnh Cao Bằng đang dắt 02 (hai) con trâu đực theo đường mòn hướng ra biên giới Trung Quốc. Cách vị trí Vương Thị T khoảng 50 mét, phát hiện thêm Hoàng Thị B sinh năm 1980, trú tại xóm K, xã T, huyện H đang dắt 01 (một) con trâu đực màu đen theo đường mòn hướng ra biên giới Trung Quốc. Quá trình mở
rộng phạm vi tìm kiếm xung quanh phát hiện thêm 06 (sáu) con trâu đực do các đối tượng khác đã bỏ chạy để lại. Đội tuần tra, kiểm soát tiến hành lập biên bản vụ việc, sau đó đưa người và tang vật về Đồn Biên phòng T6 để xử lý theo quy định của pháp luật.
Quá trình điều tra, xác minh được thêm các đối tượng khác có liên quan gồm: Dương Thị L1 (sinh năm 1973), Vi Thị Đ1 (sinh năm 1988), Nông Thị S2 (sinh năm 1987), Khằm Văn T5 (sinh năm 1981), Vi Văn Đ (sinh năm 1982) cùng trú tại xóm L, xã T, huyện H, tỉnh Cao Bằng); Đặng Thị T3 (sinh năm 1989), Vương Thị L (sinh năm 1981) và Đặng Văn T4 (sinh năm 1984) cùng trú tại xóm L, xã T, huyện H, tỉnh Cao Bằng.
Ngày 04-11-2023 các cơ quan chức năng tiến hành cân xác định khối lượng 11 (mười một) con trâu, đồng thời xác định trâu do từng đối tượng vận chuyển như sau:
- - Đặng Thị H1, Vi Thị Đ1, Nông Thị S2, Khằm Văn T5, Dương Thị L1 xác nhận được vận chuyển 04 (bốn) con trâu được đánh số thứ tự: Số 02, 03, 05 và số 06.
- - Vi Văn Đ, Vương Thị T, Đặng Thị T3 xác nhận được vận chuyển 02 (hai) con trâu được đánh số thứ tự: Số G và số 08.
- - Đặng Văn T4, Vương Thị L xác nhận được vận chuyển 02 (hai) con trâu có số thứ tự: Số A và số 10.
- - Hoàng Thị B xác nhận được vận chuyển 01 (một) con trâu có số thứ tự 11.
- - Con trâu số thứ tự 04 và 09 chưa xác định được người vận chuyển.
Ngày 06-11-2023, Đồn biên phòng T6 ban hành Yêu cầu định giá tài sản số: 03/YCĐG-ĐBP. Ngày 10-11-2023 Hội đồng định giá tài sản tố tụng hình sự huyện H có Kết luận định giá tài sản số: 291/KL-HĐĐG kết luận giá trị đối với 11 (mười một) con trâu đực, cụ thể:
- - Con trâu số 01, có khối lượng 505kg, giá trị 26.260.000 đồng;
- - Con trâu số 02, có khối lượng 453kg, giá trị 23.556.000 đồng;
- - Con trâu số 03, có khối lượng 505kg, giá trị 26.260.000 đồng;
- - Con trâu số 04, có khối lượng 425kg, giá trị 22.100.000 đồng;
- - Con trâu số 05, có khối lượng 433kg, giá trị 22.516.000 đồng;
- - Con trâu số 06, có khối lượng 457kg, giá trị 23.764.000 đồng;
- - Con trâu số 07, có khối lượng 468 kg, giá trị 24.336.000 đồng;
- - Con trâu số 08, có khối lượng 433kg, giá trị 22.516.000 đồng;
- - Con trâu số 09, có khối lượng 445kg, giá trị 23.140.000 đồng;
- - Con trâu số 10, có khối lượng 502kg, giá trị 26.104.000 đồng;
- - Con trâu số 11, có khối lượng 390kg, giá trị 20.280.000 đồng.
Tổng giá trị của 11 (mười một) con trâu là 260.832.000 đồng.
Tại cơ quan điều tra và tại phiên toà, Vương Thị T, Đặng Thị T3 khai: Tối ngày 02-11-2023, Vi Văn Đ đến nhà Vương Thị T thỏa thuận với T về việc mua 02 (hai) con trâu của T với giá 50.000.000 đồng, T đồng ý. Sau khi thỏa thuận xong, Đ vẫn để trâu ở nhà T. Sáng ngày 03-11-2023, Đ đến nhà T bảo T tìm thêm người vận chuyển trâu đến khu vực mốc 717, 718 với tiền công thỏa thuận 200.000 đồng/01 con. Sau đó, T đến nhà Đặng Thị T3 để rủ T3 cùng đi vận chuyển, T3 đồng ý. Thèo và T3 dắt mỗi người 01 (một) con đi theo đường mòn đến khu vực biên giới cách hàng rào khoảng 200 mét thì bị lực lượng chức năng phát hiện.
Tại cơ quan điều tra và tại phiên toà, Đặng Văn T4 khai: Sáng ngày 03-11-2023, sau khi đi thả ngựa tại bãi cỏ để chăn nuôi, trên đường quay về nhà Thiệu thấy 01 (một) xe ô tô đang hạ và tập kết trâu tại đường lớn, thấy có một vài người đến vận chuyển trâu nên T4 cũng đến xin dắt 02 (hai) con trâu. Thiệu thỏa thuận với người điều khiển xe về việc dắt trâu đến khu vực mốc 717, 718 với giá 200.000 đồng/01 con trâu, T4 đã nhận tiền công vận chuyển 02 (hai) con trâu là 400.000 đồng. Sau đó, T4 quay về nhà gọi thêm vợ là Vương Thị L đến để giúp dắt, vận chuyển trâu. Thiệu và L mỗi người dắt 01 (một) con theo hướng đường mòn đến khu vực mốc 717 và 718, khi cách mốc còn khoảng 300 mét thì bị phát hiện.
Quá trình điều tra xác định hành vi của Vương Thị T, Đặng Thị T3 không liên quan đến hành vi của Đặng Văn T4.
Về vật chứng vụ án: Quá trình điều tra, cơ quan điều tra đã tạm giữ tổng số 11 (mười một) con trâu. Quá trình nuôi nhốt, từ ngày 24-01-2024 đến ngày 29-01-2024 có tổng số 08 (tám) con trâu bị chết do thời tiết rét đậm, rét hại, 03 (ba) con trâu còn sống (gồm các con có số thứ tự 08, 02, 06) đều có thể trạng gầy, yếu. Cơ quan điều tra đã ra Quyết định xử lý vật chứng, bán toàn bộ 11 (mười một) con trâu, tổng số tiền bán được là 64.976.000 đồng.
Tại Cơ quan điều tra người làm chứng Vi Văn Đ trình bày: Ngày 31-10-2023 thông qua ứng dụng WECHAT người đàn ông Trung Quốc tên hay gọi là “Khén” (Đ quen từ trước) liên lạc về việc cần tìm mua 02 (hai) con trâu còn sống từ khu vực Việt Nam sang Trung Quốc, Đ đồng ý. Đến tối ngày 02-11-2023, Đ đến nhà Vương Thị T để tìm mua trâu, sau khi xem trâu, Đ thỏa thuận mua 02 (hai) con trâu của T với giá 50.000.000 đồng, T đồng ý bán. Tuy nhiên, 02 (hai) trâu Đ vẫn để tại nhà của T để tiếp tục chăn nuôi. Đến sáng ngày 03-11-2023, Đ yêu cầu T tìm thêm người để cùng dắt, vận chuyển 02 (hai) con trâu đến khu vực mốc biên giới 717, 718 thuộc xóm L, xã T, huyện H để sang Trung Quốc, tiền công vận chuyển thỏa thuận 200.000 đồng/01 con trâu, T đồng ý, rồi Đ quay về nhà.
Tại cơ quan điều tra người làm chứng Vương Thị L trình bày: Sáng ngày 03-11-2023, khi đang ở tại nhà riêng thì chồng của bà là Đặng Văn T4 về nhà gọi Bà để cùng đi dắt, vận chuyển 02 (hai) con trâu, tiền công vận chuyển là 200.000 đồng/01 con trâu. Sau đấy, B1 và T4 cùng đi dắt, vận chuyển 02 (hai) con trâu
hướng đi theo đường mòn đến khu vực mốc biên giới 717, 718 thuộc xóm L, xã T, huyện H, khi còn cách hàng rào biên giới khoảng 300 mét thì bị lực lượng chức năng phát hiện.
Tại bản Cáo trạng số: 19/CT-VKSHQ ngày 08-5-2024 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Hà Quảng truy tố các bị can Vương Thị T, Đặng Thị T3, Đặng Văn T4 về tội “Vận chuyển trái phép hàng hóa qua biên giới” quy định tại điểm a khoản 1 Điều 189 của Bộ luật Hình sự.
Tại phiên tòa, Viện kiểm sát nhân dân huyện Hà Quảng giữ nguyên quan điểm truy tố các bị cáo Vương Thị T, Đặng Thị T3, Đặng Văn T4 về tội “Vận chuyển trái phép hàng hóa qua biên giới” và đề nghị Hội đồng xét xử:
- - Áp dụng điểm a khoản 1 Điều 189; điểm i, s khoản 1 Điều 51; Điều 58; Điều 65 của Bộ luật Hình sự xử phạt bị cáo Vương Thị T, bị cáo Đặng Thị T3 từ 06 đến 09 tháng tù nhưng cho hưởng án treo, ấn định thời gian thử thách theo quy định.
- - Áp dụng điểm a khoản 1 Điều 189; điểm i, s khoản 1 Điều 51; Điều 65 của Bộ luật Hình sự xử phạt bị cáo Đặng Văn T4 từ 09 đến 12 tháng tù nhưng cho hưởng án treo, ấn định thời gian thử thách theo quy định.
Hình phạt bổ sung: Không đề nghị áp dụng do các bị cáo thuộc hộ nghèo, hộ cận nghèo.
Vật chứng: Áp dụng Điều 47 của Bộ luật Hình sự, Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự xử lý vật chứng cụ thể như sau:
- - Tịch thu sung công quỹ Nhà nước số tiền 64.976.000 đồng.
- - Truy thu sung công quỹ Nhà nước số tiền 400.000 đồng đối với bị cáo Đặng Văn T4.
Áp dụng điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án, miễn án phí hình sự sơ thẩm cho các bị cáo.
Người bào chữa trình bày luận cứ bào chữa cho các bị cáo Vương Thị T, Đặng Thị T3, Đặng Văn T4 nhất trí với kết luận của Kiểm sát viên truy tố các bị cáo về tội “Vận chuyển trái phép hàng hóa qua biên giới” theo điểm a khoản 1 Điều 189 của Bộ luật Hình sự. Tuy nhiên, khi quyết định hình phạt đối với các bị cáo đề nghị Hội đồng xét xử xem xét các yếu tố sau đây: Các bị cáo Vương Thị T, Đặng Thị T3, Đặng Văn T4 đều sinh sống ở khu vực có điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn, nhận thức về pháp luật còn hạn chế. Các bị cáo chưa có tiền án, các bị cáo không phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự. Trong quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa các bị cáo đều thành khẩn khai báo thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình với thái độ ăn năn, hối cải; các bị cáo phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng, các bị cáo đều thực hiện đầy đủ nghĩa vụ
công dân ở nơi cư trú. Do đó, đề nghị Hội đồng xét xử cho các bị cáo hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm i, s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự cho các bị cáo được hưởng mức án thấp nhất theo đề nghị của đại diện Viện kiểm sát và miễn án phí hình sự sơ thẩm cho các bị cáo.
Tại phiên tòa, các bị cáo thừa nhận hành vi phạm tội của các bị cáo đúng như nội dung bản Cáo trạng đã truy tố. Tại phần tranh luận các bị cáo, người bào chữa đều nhất trí với bản luận tội của đại diện Viện kiểm sát. Lời sau cùng, bị cáo T, bị cáo T3 không có ý kiến, bị cáo T4 xin Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung của vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Xét hành vi phạm tội của các bị cáo: Xét lời khai của các bị cáo tại phiên tòa hoàn toàn phù hợp với lời khai của các bị cáo tại Cơ quan điều tra, lời khai của người làm chứng, vật chứng của vụ án được thu giữ và các tài liệu, chứng cứ khác được thẩm tra tại phiên tòa. Như vậy, đủ căn cứ và cơ sở kết luận: Sáng ngày 03-11-2023, Vương Thị T, Đặng Thị T3, Đặng Văn T4 đã có hành vi vận chuyển trái phép 04 (bốn) con trâu sang Trung Quốc qua mốc biên giới 717, 718 thuộc xóm L, xã T, huyện H, tỉnh Cao Bằng với mục đích kiếm tiền công vận chuyển, khi còn cách biên giới khoảng 200 - 300 mét thì bị Đồn biên phòng T6, xã T, huyện H phát hiện. Vương Thị T nhận vận chuyển 02 (hai) con trâu số 07 và 08 có tổng giá trị 46.852.000 đồng, Đặng Thị T3 nhận vận chuyển con trâu số 08 có giá trị 22.516.000 đồng. Đối với Đặng Văn T4 nhận vận chuyển 02 (hai) con trâu số 01 và số 10, có tổng giá trị 52.364.000 đồng. Mặc dù, giá trị số hàng hoá các bị cáo nhận vận chuyển dưới 100.000.000 đồng nhưng các bị cáo đã bị Công an huyện H, tỉnh Cao Bằng ra Quyết định xử phạt vi phạm hành chính vào ngày 20-4-2023 về hành vi vận chuyển trái phép hàng hoá qua khu vực biên giới, do đó các bị cáo T, T3, T4 phải chịu trách nhiệm hình sự đối với hành vi của mình theo điểm a khoản 1 Điều 189 của Bộ luật Hình sự. Chứng cứ mà Viện kiểm sát đưa ra là đúng người, đúng tội nên Hội đồng xét xử chấp nhận.
Hành vi của các bị cáo đã xâm phạm đến trật tự quản lý kinh tế, cụ thể là việc xuất, nhập khẩu hàng hoá gây ảnh hưởng xấu đến sự phát triển kinh tế và tình hình an ninh trật tự tại khu vực biên giới Việt Nam - Trung Quốc. Khi thực hiện hành vi phạm tội, các bị cáo đều có đầy đủ năng lực trách nhiệm hình sự, nhận thức rõ việc vận chuyển hàng qua biên giới phải khai báo và chấp hành các quy định của pháp luật Nhà nước về việc xuất nhập cảnh nhưng các bị cáo vẫn cố ý thực hiện hành vi phạm tội nhằm mục đích vụ lợi từ việc nhận vận chuyển trái phép hàng hóa qua biên giới. Vì vậy, các bị cáo phải chịu trách nhiệm hình sự về hành vi phạm tội đã gây ra.
[2] Về nhân thân, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:
Các bị cáo Vương Thị T, Đặng Thị T3, Đặng Văn T4 đều sinh ra và lớn lên tại xã T, huyện H, tỉnh Cao Bằng. Các bị cáo đều là người có sức khỏe, sống trong môi trường xã hội lành mạnh nhưng không chịu tu dưỡng rèn luyện đạo đức, chỉ vì lợi ích cá nhân nên đã dấn thân vào con đường phạm tội. Các bị cáo không có tiền án, có 01 (một) tiền sự. Các bị cáo không phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự. Trước Cơ quan điều tra cũng như tại phiên tòa, các bị cáo đều thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải. Các bị cáo phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng. Do đó, cần cho các bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại các điểm i, s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự khi xem xét quyết định hình phạt.
[3] Xét tính chất, vai trò của các bị cáo trong vụ án:
Các bị cáo Vương Thị T, Đặng Thị T3 thực hiện hành vi phạm tội mang tính bộc phát, là đồng phạm giản đơn, không có tổ chức. Căn cứ vào giá trị số hàng hoá vận chuyển, mức hình phạt đối với bị cáo T sẽ phải nặng hơn so với mức hình phạt của bị cáo T3.
Quá trình điều tra đã làm rõ hành vi của bị cáo T4 không liên quan tới hành vi của bị cáo T và bị cáo T3, do đó bị cáo T4 sẽ phải chịu hình phạt tương xứng với giá trị số hàng hóa mà bản thân bị cáo đã nhận vận chuyển.
[4] Về quyết định hình phạt:
Xét tính chất, mức độ hành vi phạm tội của các bị cáo được thực hiện thuộc trường hợp ít nghiêm trọng, các bị cáo có nhiều tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được quy định tại khoản 1 Điều 51 của Bộ luật hình sự, có nơi cư trú rõ ràng, trước khi phạm tội các bị cáo đều chấp hành chính sách, pháp luật và thực hiện đầy đủ các nghĩa vụ của công dân ở nơi cư trú. Mặt khác, giá trị số hàng hoá vận chuyển của các bị cáo không lớn, các bị cáo có nhận thức hạn chế do mù chữ và có trình độ học vấn thấp, do đó Hội đồng xét xử xét thấy không cần thiết phải cách ly các bị cáo ra khỏi đời sống xã hội mà cho các bị cáo được hưởng án treo, ấn định thời gian thử thách và giao các bị cáo cho chính quyền địa phương nơi các bị cáo cư trú giám sát, giáo dục cũng đủ điều kiện để cải tạo, giáo dục các bị cáo và đáp ứng được công tác đấu tranh phòng chống tội phạm. Xét đề nghị áp dụng pháp luật và ra mức hình phạt đối với các bị cáo của đại diện Viện kiểm sát phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử nên cần chấp nhận.
[5] Về hình phạt bổ sung:
Gia đình các bị cáo thuộc hộ nghèo, hộ cận nghèo, các bị cáo lại không có thu nhập ổn định, sinh sống ở vùng có điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn nên không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với các bị cáo.
[6] Về xử lý vật chứng:
Căn cứ Điều 47 của Bộ luật Hình sự, Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự, cần xử lý như sau:
- - Đối với số tiền 64.976.000 đồng là số tiền bán các con trâu (là vật chứng của vụ án) có được. Xét thấy, đây là khoản tiền bán số hàng hoá do vận chuyển trái phép nên cần tịch thu sung công quỹ Nhà nước.
- - Quá trình điều tra, bị cáo Đặng Văn T4 khai đã nhận tiền công 400.000 đồng từ người thuê dắt trâu, xét thấy đây là số tiền có được từ việc nhận vận chuyển hàng hoá trái phép, do đó cần truy thu nộp vào Ngân sách Nhà nước.
[7] Đối với ý kiến của người bào chữa đề nghị Hội đồng xét xử cho các bị cáo Vương Thị T, Đặng Thị T3, Đặng Văn T4 hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được quy định tại điểm i, s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự, miễn án phí hình sự sơ thẩm cho các bị cáo là có căn cứ, nên Hội đồng xét xử chấp nhận.
[8] Đối với Đặng Thị H1, Vi Thị Đ1, Nông Thị S2, Khằm Văn T5, Dương Thị L1, Vi Văn Đ, Vương Thị L, Hoàng Thị B hành vi chưa đủ yếu tố để truy cứu trách nhiệm hình sự nên Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện H đã gửi Tờ trình số: 749/TTr-CAH ngày 15-4-2024 đề nghị Chủ tịch Ủy ban nhân dân huyện H, tỉnh Cao Bằng ra Quyết định xử phạt vi phạm hành chính đối với những người nêu trên là có cơ sở.
[9] Đối với người đàn ông Trung Quốc tên “Khén” và người đàn ông lái xe ô tô giao trâu cho bị cáo T4 vận chuyển, do không biết họ tên, địa chỉ cụ thể nên Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện H không có thông tin để điều tra, xử lý là có căn cứ.
[10] Về án phí: Do gia đình các bị cáo Vương Thị T, Đặng Thị T3, Đặng Văn T4 thuộc hộ nghèo, hộ cận nghèo, các bị cáo sinh sống ở vùng có điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn và các bị cáo đã có đơn xin miễn án phí hình sự sơ thẩm nên căn cứ vào điểm đ khoản 1 Điều 12, Điều 14, Điều 15 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án, các bị cáo được miễn án phí hình sự sơ thẩm.
[11] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện H, Viện kiểm sát nhân dân huyện Hà Quảng, Điều tra viên, Kiểm sát viên, người bào chữa trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan, người có thẩm quyền tiến hành tố tụng, người bào chữa đã thực hiện đều hợp pháp.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
1. Về trách nhiệm hình sự:
- - Căn cứ vào điểm a khoản 1 Điều 189 của Bộ luật Hình sự.
Tuyên bố các bị cáo Vương Thị T, Đặng Thị T3, Đặng Văn T4 phạm tội “Vận chuyển trái phép hàng hoá qua biên giới”.
- - Căn cứ vào điểm a khoản 1 Điều 189; điểm i, s khoản 1 Điều 51; Điều 58, Điều 65 của Bộ luật Hình sự.
- + Xử phạt bị cáo Vương Thị T 08 tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách là 16 tháng tính từ ngày tuyên án sơ thẩm (ngày 21-6-2024).
- + Xử phạt bị cáo Đặng Thị T3 06 tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách là 12 tháng tính từ ngày tuyên án sơ thẩm (ngày 21-6-2024).
- - Căn cứ vào điểm a khoản 1 Điều 189; điểm i, s khoản 1 Điều 51; Điều 65, của Bộ luật Hình sự.
Xử phạt bị cáo Đặng Văn T4 09 tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách là 18 tháng tính từ ngày tuyên án sơ thẩm (ngày 21-6-2024).
- - Giao các bị cáo Vương Thị T, Đặng Thị T3, Đặng Văn T4 cho Ủy ban nhân dân xã T, huyện H, tỉnh Cao Bằng giám sát và giáo dục trong thời gian thử thách.
Trường hợp người được hưởng án treo vắng mặt tại nơi cư trú, thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo Điều 92 Luật thi hành án hình sự.
Trong thời gian thử thách, người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ 02 lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc người được hưởng án treo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo.
2. Về xử lý vật chứng:
Áp dụng Điều 47 của Bộ luật Hình sự, Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự. - Tịch thu sung công quỹ Nhà nước số tiền 64.976.000 đồng (Sáu mươi tư triệu chín trăm bảy mươi sáu nghìn đồng) đang tạm giữ tại tài khoản số 39490905823300000 của cơ quan Chi cục Thi hành án dân sự huyện Hà Quảng.
- Truy thu nộp vào ngân sách Nhà nước số tiền 400.000 đồng đối với bị cáo Đặng Văn T4.
Xác nhận: Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện H đã chuyển vật chứng, tài sản trên sang cơ quan Chi cục Thi hành án Dân sự huyện Hà Quảng tại biên bản về việc giao nhận vật chứng, tài sản ngày 13-5-2024.
3. Về án phí:
Căn cứ vào điểm đ khoản 1 Điều 12, Điều 14, Điều 15 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án,
Các bị cáo Vương Thị T, Đặng Thị T3, Đặng Văn T4 được miễn án phí hình sự sơ thẩm.
4. Về quyền kháng cáo:
Căn cứ vào Điều 331, Điều 333 của Bộ luật Tố tụng hình sự.
Các bị cáo có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Dương Thị Hồng Vân |
Bản án số 17/2024/HS-ST ngày 21/06/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN HÀ QUẢNG, TỈNH CAO BẰNG về vận chuyển trái phép hàng hóa qua biên giới (criminal case)
- Số bản án: 17/2024/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Vận chuyển trái phép hàng hóa qua biên giới (Criminal Case)
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 21/06/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN HÀ QUẢNG, TỈNH CAO BẰNG
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Vương Thị T, Đặng Thị T3, Đặng Văn T4
