|
TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN THUẬN HOÁ THÀNH PHỐ HUẾ Bản án số: 17/2025/DS-ST Ngày: 24 – 6 – 2025. “V/v Tranh chấp HĐTD” |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc ————————— |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN THUẬN HOÁ, THÀNH PHỐ HUẾ
— Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Trần Thị Phương Hồng.
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Hữu Trực và bà Đoàn Thị Thanh Nhàn.
- Thư ký phiên toà: Bà Võ Thị Hồng Linh - Thư ký Tòa án nhân dân quận Thuận Hoá, thành phố Huế.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Thuận Hoá, thành phố Huế tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Phương Hồng – Kiểm sát viên.
Ngày 24 tháng 6 năm 2025, tại Trụ sở Toà án nhân dân quận Thuận Hoá, thành phố H xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 360/2024/TLST-DS ngày 11 tháng 10 năm 2024 về việc “Tranh chấp hợp đồng tín dụng” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 14/2025/QĐXXST-DS ngày 14 tháng 5 năm 2025 và Quyết định hoãn phiên toà số: 98/2025/QÐST-DS ngày 03 tháng 6 năm 2025, giữa các đương sự:
-
Nguyên đơn: Ngân hàng TMCP S2 (S3); Địa chỉ: Số G T, Quận H, thành phố Hà Nội.
Người đại diện theo pháp luật: Bà Ngô Thu H; Chức vụ: Tổng giám đốc.
Người đại diện theo ủy quyền: Ông Hà Quang T; Chức vụ: Giám đốc Ngân hàng TMCP S2 - Chi nhánh H1 (Theo văn bản ủy quyền số 406.1/2023/VBUQ-SHB, ngày 19 tháng 7 năm 2023 của Tổng giám đốc Ngân hàng TMCP S2);
Người được ủy quyền tham gia tố tụng: Ông Nguyễn Minh T1; ông Nguyễn Tấn S; ông Hoàng Tùng L – Chuyên viên xử lý nợ S3; Cùng địa chỉ chi nhánh: 28 L, phường V, quận T, Thành phố H; ông T1, ông S đều có mặt; ông L vắng mặt.
- Bị đơn: Ông Trần Ngọc S1, sinh năm 1983 và bà Nguyễn Thị B, sinh năm 1983; Cùng trú tại: Tổ dân phố A, phường T, quận T, thành phố H; vắng mặt lần thứ hai.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Trong đơn khởi kiện đề ngày 24/7/2024, lời khai trong hồ sơ vụ án và tại phiên tòa, người đại diện theo ủy quyền Ngân hàng TMCP S2 (S3) trình bày:
Ông Trần Ngọc S1 và bà Nguyễn Thị B có phát sinh khoản vay tại Ngân hàng TMCP S2 (S3) theo Hợp đồng cấp hạn mức vay vốn số: 354/2023/HĐHM-CN/SHB.120603 ngày 19/9/2023. Ông S1 và bà B đã nhận đủ số tiền vay thể hiện qua khế ước nhận nợ số: 01-354/2023/HĐHM-CN/SHB.120603 ngày 19/9/2023; Số tiền vay: 2.500.000.000 đồng (Bằng chữ: Hai tỷ năm trăm triệu đồng); Mục đích vay: Bổ sung vốn kinh doanh mua bán cây cảnh, cây bon sai, cây trang trí nhà vườn; Thời hạn vay: 06 tháng từ ngày 19/09/2023 đến 19/03/2024; Lịch trả nợ: Gốc trả cuối kỳ, lãi trả vào ngày 10 hàng tháng; Lãi suất cho vay + Lãi suất cho vay kể từ ngày giải ngân là 8.0%/năm; Lãi suất cho vay cố định trong suốt thời gian vay; Lãi suất chậm trả lãi: Trường hợp bên vay không thanh toán lãi đúng hạn, thì bên vay phải trả lãi chậm trả lãi cho bên cho vay với mức lãi suất chậm trả theo quy định của bên cho vay tại thời điểm chậm trả lãi bằng 10% lãi suất cho vay trong hạn và được tính trên số dư lãi chậm trả tương ứng với số ngày thực tế chậm trả lãi; Lãi suất cho vay quá hạn: 150% lãi suất cho vay trong hạn tại thời điểm chuyển nợ quá hạn và được tính trên dư nợ gốc bị quá hạn tương ứng với số ngày thực tế chậm trả gốc.
Để đảm bảo cho các khoản vay trên, ông Trần Ngọc S1 và bà Nguyễn Thị B đã thế chấp tài sản là Quyền sử dụng đất, tài sản gắn liền với đất thuộc thửa đất số 711.4A, tờ bản đồ: 03, Diện tích: 238m² tại địa chỉ: Xã P, huyện P, tỉnh Thừa Thiên Huế (nay là phường P, quận T, thành phố H) theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất ký hiệu số T 792748 do Ủy ban nhân dân huyện P, tỉnh Thừa Thiên Huế cấp ngày 27/10/2004, cập nhật chủ sử dụng đất cuối cùng ngày 29/11/2012 cho ông Trần Ngọc S1 và bà Nguyễn Thị B. Tài sản trên được thế chấp ông S1, bà B thế chấp tại Ngân hàng TMCP S2 theo Hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất số 80/2023/HĐTC-CN/SHB.120603 ngày 06/3/2023 và Hợp đồng sửa đổi, bổ sung hợp đồng thế chấp số PL01-80/2023/HĐ TC-CN/SHB.120603 ngày 19/9/2023 tài sản được đăng ký biện pháp bảo đảm theo đúng quy định của pháp luật.
Quá trình thực hiện hợp đồng, ông Trần Ngọc S1 và bà Nguyễn Thị B đã trả cho S3 tổng cộng số tiền là: 62.012.084 đồng. (Trong đó: trả gốc: 0 đồng; lãi trong hạn: 62.012.084 đồng).
Đến ngày 10/01/2024, ông Trần Ngọc S1 và bà Nguyễn Thị B vi phạm nghĩa vụ trả nợ nên báo thu hồi nợ trước hạn, ... yêu cầu ông Trần Ngọc S1 và bà Nguyễn Thị B trả nợ vay nhưng ông Trần Ngọc S1 và bà Nguyễn Thị B đã không thực hiện đúng nghĩa vụ trả nợ gốc và lãi cho bên cho vay là S3 theo Hợp đồng tín dụng đã ký kết.
Tính đến ngày 24/6/2025, ông Trần Ngọc S1 và bà Nguyễn Thị B còn nợ Ngân hàng TMCP S2 với tổng số tiền 2.919.534.892 đồng (Hai tỷ, chín trăm mười chín triệu, năm trăm ba mươi bốn nghìn, tám trăm chín mươi hai đồng). (Trong đó: nợ gốc: 2.500.000.000 đồng; lãi trong hạn: 37.808.219 đồng; lãi chậm trả: 2.000.646 đồng; lãi trên nợ gốc quá hạn: 379.726.027 đồng).
Vì vậy, Ngân hàng TMCP S2 khởi kiện yêu cầu ông Trần Ngọc S1 và bà Nguyễn Thị B phải trả cho S3 toàn bộ số tiền còn nợ nêu trên và buộc ông Trần Ngọc S1 và Bà Nguyễn Thị B phải thanh toán cho S3 số tiền lãi phát sinh theo quy định tại Hợp đồng cấp hạn mức vay vốn số 354/2023/HĐHM-CN/SHB.120603 ngày 19/9/2023 kể từ ngày 25/6/2025 cho đến khi thanh toán xong toàn bộ khoản nợ.
Trong trường hợp ông Trần Ngọc S1 và bà Nguyễn Thị B không trả được nợ, SHB có quyền yêu cầu phát mại tài sản bảo đảm thuộc sở hữu của ông Trần Ngọc S1 và bà Nguyễn Thị B, cụ thể: Quyền sử dụng đất, tài sản gắn liền với đất thuộc thửa đất số 711.4A, tờ bản đồ: 03, Diện tích: 238m² tại địa chỉ: Xã P, huyện P, tỉnh Thừa Thiên Huế (nay là phường P, quận T, thành phố H) theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất ký hiệu số T 792748 do Ủy ban nhân dân huyện P, tỉnh Thừa Thiên Huế cấp ngày 27/10/2004, cập nhật chủ sử dụng đất cuối cùng ngày 29/11/2012 cho ông Trần Ngọc S1 và bà Nguyễn Thị B. Tài sản trên được thế chấp ông S1, bà B thế chấp tại Ngân hàng TMCP S2 theo Hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất số 80/2023/HĐTC-CN/SHB.120603 ngày 06/3/2023 và Hợp đồng sửa đổi, bổ sung hợp đồng thế chấp số PL01-80/2023/HĐTC-CN/SHB.120603 ngày 19/9/2023 tài sản được đăng ký biện pháp bảo đảm theo đúng quy định của pháp luật.
Toàn bộ số tiền thu được từ việc xử lý tài sản bảo đảm được dùng để thanh toán nghĩa vụ trả nợ của ông Trần Ngọc S1 và bà Nguyễn Thị B. Nếu số tiền thu được từ việc xử lý tài sản bảo đảm không đủ thanh toán hết khoản nợ thì ông S1, bà B vẫn phải có nghĩa vụ trả hết khoản nợ cho Ngân hàng.
- Đối với bị đơn ông Trần Ngọc S1 và bà Nguyễn Thị B: Quá trình thụ lý giải quyết vụ án; Tòa án đã tống đạt, niêm yết hợp lệ các văn bản tố tụng và giấy triệu tập nhưng vẫn vắng mặt nên Tòa án không thể tiến hành lấy lời khai của ông S1, bà B được.
Tại phiên tòa, Kiểm sát viên phát biểu ý kiến như sau:
- + Về việc tuân theo pháp luật: Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa và nguyên đơn đã tuân thủ đúng quy định của Bộ luật tố tụng dân sự. Riêng bị đơn ông Trần Ngọc S1 và bà Nguyễn Thị B vắng mặt trong tất cả các phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải và tại các phiên tòa là vi phạm quy định tại Điều 70, 72 của Bộ luật tố tụng dân sự.
-
+ Quan điểm về việc giải quyết vụ án: Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng khoản 3 Điều 26; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự; các Điều 275, 317, 319, 323, 463, 466 và 468 Bộ luật dân sự; Điều 91 Luật các TCTD năm 2010 được sửa đổi, bổ sung năm 2017; Nghị quyết số: 01/2019/NQ-HĐTP ngày 11 tháng 01 năm 2019 hướng dẫn áp dụng một số quy định của pháp luật về lãi, lãi suất, phạt vi phạm; giải quyết vụ án theo hướng như sau:
-
Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn: Buộc ông Trần Ngọc S1 và bà Nguyễn Thị B phải trả cho nguyên đơn là Ngân hàng TMCP S2 tổng số tiền còn nợ tính đến ngày xét xử sơ thẩm 2.919.534.892 đồng (Hai tỷ, chín trăm mười chín triệu, năm trăm ba mươi bốn nghìn, tám trăm chín mươi hai đồng). (Trong đó: nợ gốc: 2.500.000.000 đồng; lãi trong hạn: 37.808.219 đồng; lãi chậm trả: 2.000.646 đồng; lãi trên nợ gốc quá hạn: 379.726.027 đồng).
Ngoài ra, kể từ ngày tiếp theo của ngày xét xử sơ thẩm cho đến khi thi hành án xong, ông S1 và bà B còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất các bên đã thỏa thuận nhưng phải phù hợp với quy định của pháp luật.
-
Trường hợp ông Trần Ngọc S1 và bà Nguyễn Thị B không thanh toán hoặc thanh toán không đầy đủ các khoản nợ cho ngân hàng thì ngân hàng có quyền yêu cầu cơ quan Thi hành án dân sự có thẩm quyền kê biên, xử lý tài sản thế chấp để thu hồi nợ vay theo quy định tại Hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất số 80/2023/HĐTC-CN/SHB.120603 ký vào ngày 06/3/2023 để thu hồi nợ vay.
Toàn bộ số tiền thu được từ việc xử lý tài sản bảo đảm được dùng để thanh toán nghĩa vụ trả nợ của ông Trần Ngọc S1 và bà Nguyễn Thị B. Nếu số tiền thu được từ việc xử lý tài sản bảo đảm không đủ thanh toán hết khoản nợ thì ông S1, bà B vẫn phải có nghĩa vụ trả hết khoản nợ cho Ngân hàng.
- Về chi phí tố tụng: Các đương sự phải chịu chi phí xem xét, thẩm định tại chỗ theo quy định của pháp luật.
- Về án phí: Áp dụng Điều 147 Bộ luật tố tụng dân sự; Điều 26 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí tòa án buộc bị đơn chịu án phí dân sự sơ thẩm có giá ngạch theo quy định.
-
Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn: Buộc ông Trần Ngọc S1 và bà Nguyễn Thị B phải trả cho nguyên đơn là Ngân hàng TMCP S2 tổng số tiền còn nợ tính đến ngày xét xử sơ thẩm 2.919.534.892 đồng (Hai tỷ, chín trăm mười chín triệu, năm trăm ba mươi bốn nghìn, tám trăm chín mươi hai đồng). (Trong đó: nợ gốc: 2.500.000.000 đồng; lãi trong hạn: 37.808.219 đồng; lãi chậm trả: 2.000.646 đồng; lãi trên nợ gốc quá hạn: 379.726.027 đồng).
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Căn cứ vào những tài liệu, chứng cứ đã được xem xét tại phiên tòa, kết quả tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
-
[1] Về tố tụng:
- [1.1] Về sự có mặt của đương sự: Bị đơn ông Trần Ngọc S1 và bà Nguyễn Thị B đã được Tòa án triệu tập hợp lệ lần thứ hai nhưng vẫn vắng mặt không có lý do, không vì trở ngại khách quan và sự kiện bất khả kháng nên căn cứ vào điểm b khoản 2 Điều 227 và khoản 3 Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt bị đơn.
- [1.2] Xác định quan hệ tranh chấp và thẩm quyền giải quyết vụ án: Ngân hàng TMCP S2 khởi kiện bị đơn ông Trần Ngọc S1 và bà Nguyễn Thị B cư trú tại phường T, thành phố H, tỉnh Thừa Thiên Huế. Do đó, Tòa án nhân dân thành phố Huế, tỉnh Thừa Thiên Huế đã thụ lý vụ án là đúng thẩm quyền. Căn cứ Điều 5 Nghị quyết số: 1314/NQ-UBTVQH15 ngày 30/11/2024 của Ủy ban thường vụ Quốc hội về việc sắp xếp đơn vị hành chính cấp huyện, cấp xã của thành phố H giai đoạn 2023-2025, qua đó Tòa án nhân dân thành phố Huế, tỉnh Thừa Thiên Huế chính thức giải thể kể từ ngày 01/01/2025 và thành lập Tòa án nhân dân quận Thuận Hóa và Tòa án nhân dân quận Phú Xuân. Xét địa chỉ của bị đơn sau khi sắp xếp đơn vị hành chính thuộc phường T, quận T, thành phố H nên vụ án được Tòa án nhân dân quận Thuận Hóa tiếp tục giải quyết là đúng thẩm quyền theo quy định tại khoản 3 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật tố tụng dân sự.
-
[2] Về nội dung:
-
[2.1] Xét yêu cầu về số tiền nợ: Hợp đồng cấp hạn mức vay vốn số: 354/2023/HĐHM-CN/SHB.120603 ngày 19/9/2023 giữa bên cho vay là Ngân hàng TMCP S2 (S3) với bên vay là ông Trần Ngọc S1 và bà Trần Thị B1 được ký kết có hình thức và nội dung thỏa thuận phù hợp với các Điều 385, 398 và 463 của Bộ luật dân sự năm 2015; các Điều 90, 91 và điểm a khoản 3 Điều 98 của Luật các Tổ chức tín dụng nên hợp đồng đã ký kết giữa các bên là hợp pháp, có hiệu lực làm phát sinh quyền và nghĩa vụ giữa các bên và các bên phải có trách nhiệm thực hiện các thỏa thuận đã cam kết trong hợp đồng.
Ngân hàng TMCP S2 (S3) đã thực hiện đúng các thỏa thuận trong hợp đồng, đã tiến hành giải ngân khoản vay với số tiền 2.500.000.000 đồng cho ông Trần Ngọc S1 và bà Trần Thị B1 thể hiện tại Khế ước nhận nợ số: 01-354/2023/HĐHM-CN/SHB.120603 ngày 19/9/2023.
Quá trình thực hiện hợp đồng, ông Trần Ngọc S1 và bà Trần Thị B1 đã trả nợ cho S3 với tổng số tiền là: 62.012.084 đồng. (Trong đó: trả gốc: 0 đồng; trả lãi: 62.012.084 đồng).
Do bị đơn là ông Trần Ngọc S1 và bà Trần Thị B1 đã vi phạm nghĩa vụ trả nợ gốc và lãi theo đúng kỳ hạn nên đã vi phạm Hợp đồng tín dụng đã được ký kết giữa các bên. Vì vậy, Ngân hàng TMCP S2 có quyền khởi kiện để thu hồi toàn bộ số nợ trước hạn là đúng với sự thỏa thuận của các bên. Tính đến ngày 24/6/2025, ông Trần Ngọc S1 và bà Trần Thị B1 còn nợ Ngân hàng TMCP S2 (S3) theo Hợp đồng cấp hạn mức vay vốn số: 354/2023/HĐHM-CN/SHB.120603 ngày 19/9/2023 và Khế ước nhận nợ số: 01-354/2023/HĐHM-CN/SHB.120603 ngày 19/9/2023 với tổng số tiền là 2.919.534.892 đồng (Hai tỷ, chín trăm mười chín triệu, năm trăm ba mươi bốn nghìn, tám trăm chín mươi hai đồng). (Trong đó: nợ gốc: 2.500.000.000 đồng; lãi trong hạn: 37.808.219 đồng; lãi chậm trả: 2.000.646 đồng; lãi trên nợ gốc quá hạn: 379.726.027 đồng).
Ngân hàng TMCP S2 khởi kiện yêu cầu buộc ông Trần Ngọc S1 và bà Trần Thị B1 phải trả toàn bộ số tiền nêu trên là có căn cứ và đúng quy định của pháp luật nên cần chấp nhận.
- Xét yêu cầu về tiền lãi phát sinh: Áp dụng Điều 8 và Điều 13 của Nghị quyết số: 01/2019/NQ-HĐTP ngày 11 tháng 01 năm 2019 hướng dẫn áp dụng một số quy định của pháp luật về lãi, lãi suất, phạt vi phạm quy định “Kể từ ngày tiếp theo của ngày xét xử sơ thẩm cho đến khi thi hành án xong, bên phải thi hành án còn phải tiếp tục chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất các bên thỏa thuận nhưng phải phù hợp với quy định của pháp luật”. Xét đề nghị của Ngân hàng TMCP S2 về việc phải thanh toán cho Ngân hàng số tiền lãi phát sinh kể từ ngày 25/6/2025 theo quy định tại Hợp đồng cấp hạn mức vay vốn số 354/2023/HĐ HM-CN/SHB.120603 ngày 19/9/2023 cho đến khi thanh toán xong toàn bộ khoản nợ là có căn cứ chấp nhận.
Như đã phân tích ở trên, cần buộc ông Trần Ngọc S1 và bà Trần Thị B1 phải trả cho Ngân hàng TMCP S2 tổng số tiền tính đến ngày xét xử sơ thẩm (ngày 24/6/2025) là 2.919.534.892 đồng (Hai tỷ, chín trăm mười chín triệu, năm trăm ba mươi bốn nghìn, tám trăm chín mươi hai đồng). (Trong đó: nợ gốc: 2.500.000.000 đồng; lãi trong hạn: 37.808.219 đồng; lãi chậm trả: 2.000.646 đồng; lãi trên nợ gốc quá hạn: 379.726.027 đồng) và tiền lãi phát sinh kể từ ngày 25/6/2025 theo quy định tại Hợp đồng cấp hạn mức tín dụng số 354/2023/HĐHM-CN/SHB.120603 ngày 19/9/2023 cho đến khi thanh toán xong toàn bộ khoản nợ.
-
[2.2] Về yêu cầu xử lý tài sản thế chấp: Quyền sử dụng đất, tài sản gắn liền với đất thuộc thửa đất số 711.4A, tờ bản đồ: 03, Diện tích: 238m² tại địa chỉ: Xã P, huyện P, tỉnh Thừa Thiên Huế (nay là phường P, quận T, thành phố H) theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất ký hiệu số T 792748 do Ủy ban nhân dân huyện P, tỉnh Thừa Thiên Huế cấp ngày 27/10/2004, cập nhật chủ sử dụng đất cuối cùng ngày 29/11/2012 cho ông Trần Ngọc S1 và bà Nguyễn Thị B. Tài sản trên được thế chấp ông S1, bà B thế chấp tại Ngân hàng TMCP S2 (S3) theo Hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất số 80/2023/HĐTC-CN/SHB.120603 ngày 06/3/2023 và Hợp đồng sửa đổi, bổ sung hợp đồng thế chấp số PL01-80/2023/HĐTC-CN/SHB.120603 ngày 19/9/2023, tài sản đã được đăng ký biện pháp bảo đảm theo đúng quy định của pháp luật.
Xét Hợp đồng thế chấp số 80/2023/HĐTC-CN/SHB.120603 ngày 06/3/2023 và Hợp đồng sửa đổi, bổ sung hợp đồng thế chấp số PL01-80/2023/HĐTC-CN/SHB.120603 ngày 19/9/2023 đã được công chứng và đăng ký giao dịch bảo đảm theo quy định của pháp luật nên các bên tham gia ký kết hợp đồng phải thực hiện quyền và nghĩa vụ theo như nội dung đã cam kết. Như vậy, trong trường hợp ông Trần Ngọc S1 và bà Nguyễn Thị B không thực hiện hoặc thực hiện không đầy đủ nghĩa vụ trả nợ, thì Ngân hàng TMCP S2 có quyền yêu cầu cơ quan có thẩm quyền kê biên, phát mại tài sản bảo đảm nêu trên để xử lý thu hồi nợ vay.
Toàn bộ số tiền thu được từ việc xử lý tài sản bảo đảm được dùng để thanh toán nghĩa vụ trả nợ của ông Trần Ngọc S1 và bà Nguyễn Thị B. Nếu số tiền thu được từ việc xử lý tài sản bảo đảm không đủ thanh toán hết khoản nợ thì ông S1, bà B vẫn phải có nghĩa vụ trả hết khoản nợ cho Ngân hàng.
- [3] Về chi phí xem xét, thẩm định tại chỗ: Do yêu cầu của nguyên đơn được chấp nhận nên buộc bị đơn ông Trần Ngọc S1 và bà Nguyễn Thị B phải chịu chi phí xem xét thẩm định tại chỗ số tiền 3.000.000 đồng. Ngân hàng TMCP S2 đã nộp đủ số tiền này nên ông S1, bà B phải hoàn trả lại cho Ngân hàng TMCP S2 số tiền 3.000.000 đồng.
-
[4] Về án phí dân sự sơ thẩm: Do yêu cầu của nguyên đơn được chấp nhận nên nguyên đơn không phải chịu án phí, bị đơn phải chịu án phí trên số tiền nguyên đơn yêu cầu được Tòa án chấp nhận, cụ thể:
- Buộc ông Trần Ngọc S1 và bà Nguyễn Thị B phải chịu án phí dân sự sơ thẩm là: 72.000.000 đồng + (2.919.534.892 đồng – 2.000.000.000 đồng) × 2 % = 90.390.698 đồng (làm tròn 90.390.000 đồng) (Chín mươi triệu, ba trăm chín mươi nghìn đồng);
- Hoàn trả cho Ngân hàng TMCP S2 số tiền tạm ứng án phí đã nộp.
- [5] Xét đề nghị của đại diện Viện kiểm sát Nhân dân quận Thuận Hoá là phù hợp và có căn cứ pháp luật nên cần chấp nhận.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ khoản 3 Điều 26; điểm b khoản 1 Điều 35; Điểm b khoản 1 Điều 39; Điều 146; Điều 147; Điều 157; điểm b khoản 2 Điều 227, khoản 3 Điều 228 của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015;
Áp dụng Điều 275; Điều 292; Điều 298; Điều 299, Điều 301, Điều 303, Điều 317, Điều 318, Điều 319, Điều 320, Điều 321, Điều 322, Điều 323, Điều 463, Điều 466, Điều 468 Bộ Luật dân sự năm 2015; Khoản 2 Điều 91 Luật các Tổ chức tín dụng; Nghị quyết số: 01/2019/NQ-HĐTP ngày 11/01/2019 hướng dẫn áp dụng một số quy định của pháp luật về lãi, lãi suất, phạt vi phạm; Điều 26 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;
Tuyên xử:
-
Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn là Ngân hàng TMCP S2, về việc:
-
Về số tiền nợ: Buộc ông Trần Ngọc S1 và bà Trần Thị B1 phải trả cho Ngân hàng TMCP S2 tổng số tiền tính đến ngày xét xử sơ thẩm (ngày 24/6/2025) là 2.919.534.892 đồng (Chín mươi triệu, ba trăm chín mươi nghìn đồng) (Trong đó: nợ gốc: 2.500.000.000 đồng; lãi trong hạn: 37.808.219 đồng; lãi chậm trả: 2.000.646 đồng; lãi trên nợ gốc quá hạn: 379.726.027 đồng).
Kể từ ngày 25/6/2025 cho đến khi thi hành án xong ông Trần Ngọc S1 và bà Trần Thị B1 còn phải tiếp tục chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất các bên thỏa thuận theo quy định tại Hợp đồng cấp hạn mức vay vốn số 354/2023/HĐHM-CN/SHB.120603 ngày 19/9/2023 cho đến khi thanh toán xong toàn bộ khoản nợ.
-
Về xử lý tài sản bảo đảm: Trong trường hợp ông Trần Ngọc S1 và bà Trần Thị B1 không thanh toán hoặc thanh toán không đủ các khoản nợ nói trên và khoản tiền lãi phát sinh thì Ngân hàng TMCP S2 có quyền yêu cầu cơ quan có thẩm quyền kê biên, phát mại tài sản của ông Trần Ngọc S1 và bà Trần Thị B1 đã thế chấp tại Ngân hàng TMCP S2 để xử lý thu hồi nợ vay, cụ thể: Quyền sử dụng đất, tài sản gắn liền với đất thuộc thửa đất số: 711.4A, tờ bản đồ: 03, Diện tích: 238m² tại địa chỉ: Xã P, huyện P, tỉnh Thừa Thiên Huế (nay là phường P, quận T, thành phố H) theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất ký hiệu số T 792748 do Ủy ban nhân dân huyện P, tỉnh Thừa Thiên Huế cấp ngày 27/10/2004, cập nhật chủ sử dụng đất cuối cùng ngày 29/11/2012 cho ông Trần Ngọc S1 và bà Nguyễn Thị B. Tài sản trên được thế chấp ông S1, bà B thế chấp tại Ngân hàng TMCP S2 (S3) theo Hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất số 80/2023/HĐTC-CN/SHB.120603 ngày 06/3/2023 và Hợp đồng sửa đổi, bổ sung hợp đồng thế chấp số PL01-80/2023/HĐTC-CN/SHB.120603 ngày 19/9/2023, tài sản đã được đăng ký biện pháp bảo đảm theo đúng quy định của pháp luật.
Toàn bộ số tiền thu được từ việc xử lý tài sản bảo đảm được dùng để thanh toán nghĩa vụ trả nợ của ông Trần Ngọc S1 và bà Nguyễn Thị B. Nếu số tiền thu được từ việc xử lý tài sản bảo đảm không đủ thanh toán hết khoản nợ thì ông S1 và bà B vẫn phải có nghĩa vụ trả hết khoản nợ cho Ngân hàng.
-
Về số tiền nợ: Buộc ông Trần Ngọc S1 và bà Trần Thị B1 phải trả cho Ngân hàng TMCP S2 tổng số tiền tính đến ngày xét xử sơ thẩm (ngày 24/6/2025) là 2.919.534.892 đồng (Chín mươi triệu, ba trăm chín mươi nghìn đồng) (Trong đó: nợ gốc: 2.500.000.000 đồng; lãi trong hạn: 37.808.219 đồng; lãi chậm trả: 2.000.646 đồng; lãi trên nợ gốc quá hạn: 379.726.027 đồng).
- Về chi phí xem xét, thẩm định tại chỗ: Buộc ông Trần Ngọc S1 và bà Nguyễn Thị B phải chịu 3.000.000 đồng. Ngân hàng TMCP S2 đã nộp đủ số tiền này nên ông S1, bà B phải hoàn trả lại cho Ngân hàng TMCP S2 số tiền 3.000.000 đồng.
-
Về án phí dân sự sơ thẩm:
- Buộc ông Trần Ngọc S1 và bà Nguyễn Thị B phải chịu án phí dân sự sơ thẩm là 90.390.000 đồng (Chín mươi triệu, ba trăm chín mươi nghìn đồng).
- Hoàn trả cho Ngân hàng TMCP S2 số tiền tạm ứng án phí dân sự sơ thẩm đã nộp 42.366.000 đồng (Bốn mươi hai triệu, ba trăm sáu mươi sáu nghìn đồng) theo biên lai thu tiền tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0004870 ngày 11/10/2024 của Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Huế, tỉnh Thừa Thiên Huế (cũ).
- Về quyền kháng cáo: Nguyên đơn có mặt có quyền kháng cáo bản án này trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Bị đơn vắng mặt có quyền kháng cáo bản án này trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật.
- Về quyền yêu cầu thi hành án: Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự, được bổ sung theo Luật sửa đổi, bổ sung Luật thi hành án dân sự năm 2014, thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật thi hành án dân sự và Điều 7a, 7b Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật thi hành án dân sự năm 2014; Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
Nơi nhận:
- - TAND thành phố Huế;
- - VKSND Q. Thuận Hoá;
- - Các đương sự;
- - Chi cục THADS Q. Thuận Hoá;
- - Lưu Hồ sơ vụ án.
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM
THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA
Trần Thị Phương Hồng
-
[2.1] Xét yêu cầu về số tiền nợ: Hợp đồng cấp hạn mức vay vốn số: 354/2023/HĐHM-CN/SHB.120603 ngày 19/9/2023 giữa bên cho vay là Ngân hàng TMCP S2 (S3) với bên vay là ông Trần Ngọc S1 và bà Trần Thị B1 được ký kết có hình thức và nội dung thỏa thuận phù hợp với các Điều 385, 398 và 463 của Bộ luật dân sự năm 2015; các Điều 90, 91 và điểm a khoản 3 Điều 98 của Luật các Tổ chức tín dụng nên hợp đồng đã ký kết giữa các bên là hợp pháp, có hiệu lực làm phát sinh quyền và nghĩa vụ giữa các bên và các bên phải có trách nhiệm thực hiện các thỏa thuận đã cam kết trong hợp đồng.
Bản án số 17/2025/DS-ST ngày 24/06/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN THUẬN HOÁ, THÀNH PHỐ HUẾ về tranh chấp hợp đồng tín dụng
- Số bản án: 17/2025/DS-ST
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hợp đồng tín dụng
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 24/06/2025
- Loại vụ/việc: Dân sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN THUẬN HOÁ, THÀNH PHỐ HUẾ
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Ngân hàng TMCP Sài Gòn Hà Nội yêu cầu ông Trần Ngọc sự và bà Nguyễn Thị Bé
